Bản án số 301/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 301/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 301/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 301/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 301/2026/DS-PT Bản án số 301/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 301/2026/DS-PT Bản án số 301/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 301/2026/DS-PT
Ngày 28 5 2026
V/v: “Tranh chấp HĐ vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hồng, bà Nguyễn Thị Hải Âu.
- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Thị Hoa - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 555/2025/DS PT ngày 01/12/2025
về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số
15/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 20/2026/QĐ-PT
ngày 06 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên
tòa ngày 28/4/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk (Nay là thôn A, xã E,
tỉnh Đắk Lắk) Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk (Nay là thôn A, xã E,
tỉnh Đắk Lắk) Có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Long N, sinh năm 1995. Địa chỉ:
Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Minh T, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk (Nay là thôn A, xã E, tỉnh Đắk
Lắk) Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thị H
trình bày:
2
Ngày 23/01/2021, Nguyễn Thị H cho Nguyễn Thị H1 vay số tiền
42.000.000đồng. Khi vay tiền hai bên lập Giấy vay tiền đề ngày 23/01/2021,
thoả thuận thời hạn vay từ ngày 23/01/2021 đến ngày 23/12/2021, lãi suất tự
thoả thuận. Nội dung của Giấy vay tiền là do bà H1 tự viết và ký tên.
Kể từ khi bà H1 vay tiền thì bà H1 chỉ trả cho bà H được 3.000.000đồng vào
ngày 17/4/2021. Đến ngày 08/5/2021, H1 trả thêm được 1.200.000đồng;
Ngày 28/6/2021 và ngày 24/7/2021 H1 trả thêm mỗi lần 1.000.000đồng.
Tổng cộng bà H1 đã trả được 6.200.000đồng. H1 còn nợ H số tiền gốc
35.800.000đồng.
Theo nội dung trong Giấy ô ly đề ngày 22/5/2020 DL nội dung “Vay hộ
H1 40.000.000đồng” thì bà H và bà H1 đã tất toán xong khoản nợ đó. Dưới nội
dung trên thì ngày 17/4/2021, hai bên đã chốt số nợ 42.000.000đồng theo Giấy vay
tiền ngày 23/01/2021 thì bà H1 n nợ bà H 39.000.000đồng
H1 trình bày đã trả cho Hằng số tiền từ ngày 08/5/2021 đến ngày
23/12/2021 11.000.000đồng không đúng. Kể từ ngày 24/7/2021 cho đến nay
thì không nhận bất kỳ khoản tiền nào từ H1 không chữ H xác nhận
là đã nhận tiền từ bà H1 mà bà H1 tự ghi.
Theo đơn khởi kiện thì H yêu cầu bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền đã
vay 35.800.000đồng tiền lãi tạm tính từ ngày 25/7/2021 cho đến khi trả hết
nợ với lãi suất 10%/năm. Nay bà H xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ
yêu cầu Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền đã vay 35.800.000đồng tiền lãi từ
ngày 24/12/2021 cho đến khi trả hết nợ với lãi suất là 10%/năm, tạm tính đến ngày
xét xử 28/8/2025 là 13.172.000đồng. Tổng cộng tiền gốc tiền lãi mà H1 phải
trả cho bà H 48.972.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
H1 thừa nhận vào ngày 19/02/2019 có vay của bà Nguyền Thị H2
20.000.000 đồng. Khi vay tiền thì hai bên có lập Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề
ngày 19/02/2019, thỏa thuận thời hạn vay từ ngày 19/2/2019 đến ngày 19/4/2019;
Lãi suất do hai bên thỏa thuận miệng với nhau là 2.000.000 đồng/tháng.
Sau khi vay, H1 trả tiền lãi cho H2 2.000.000 đồng/tháng. Do không
khả năng trả nợ nên H2 đã cộng tiền gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi
17.000.000 đồng H2 đưa thêm 3.000.000 đồng thành số tiền 40.000.000
đồng.
Ngày 18/9/2020, H1 đã trả được cho H2 19.950.000 đồng. Từ ngày
22/6/2020 cho đến ngày 27/12/2022, H1 đã trả được cho Hằng số tiền
10.850.000 đồng. Từ ngày 08/5/2021 cho đến ngày 23/12/2022, H1 đã trả được
cho bà H2 được 11.000.000 đồng. Ngày 17/4/2021, bà H2 chốt số tiền bà H1 nợ bà
3
H2 39.000.000đồng. Tổng số tiền H1 đã trả cho H2 41.800.000đồng.
Đây là số tiền H1 trả cho khoản vay 40.000.000đồng.
H1 không thừa nhận vay số tiền 42.000.000đồng theo Giấy vay tiền
ngày 23/01/2021 như Nguyễn Thị H trình bày; Chữ viết chữ ký trong Giấy
vay tiền ngày 23/01/2021 đúng chữ ký, chữ viết của H1 ghi. Nhưng chỉ vay
của H 20.000.000đồng, không vay số tiền 42.000.000đồng như H trình bày.
Đó là số tiền gốc 20.000.000đồng và tiền lãi bà H cộng vào rồi bảo bà H1 ghi.
Theo tờ Giấy ô ly đề ngày 22/5/2020DL, mỗi lần trả tiền cho H thì bà
ghi ngày trả tiền cho H (từ ngày 08/5/2021 đến ngày 23/12/2021)
11.000.000đồng. Bà H trình bày là bà đã trả được 6.200.000đồng là không đúng sự
thật.
Qua yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà trả lại số tiền đã vay
theo Giấy vay tiền ngày 23/01/2021 tiền lãi thì bà H1 không đồng ý đã trả
cho bà H được 41.800.000đồng nên không còn nợ H.
Tại bản án thẩm số 15/2025/DSST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ Điều 357, Điều 466, Điều 468 của Bộ Luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H.
Buc b đơn Nguyễn Thị H1 phải trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị Hằng S
tiền 48.972.000 đồng; Trong đó, tiền gốc 35.800.000 đồng tiền lãi
13.172.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Nguyễn Thị H1 còn phải
trả tiền lãi cho nguyên đơn Nguyễn Thị H theo mức lãi suất quy định tại khoản
2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi
hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/9/2025, bị đơn Nguyễn Thị H1 đơn kháng cáo bản án dân sự
thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk
Lắk.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Về thtục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng các đương sự đã chấp
hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án kết
quả tranh tụng tại phiên tòa. Không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 15/2025/DS-ST,
ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H1 nộp trong hạn
luật định, người kháng cáo được miễn nộp tạm ứng án phí nên vụ án được xem xét
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ gốc:
Nguyên đơn Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị H1 trả số
tiền còn nợ chưa trả 35.800.000 đồng cùng lãi suất theo quy định. Nguyên đơn
cung cấp Giấy vay tiền đề ngày 23/01/2021, giữa người vay Nguyễn Thị H1
người cho vay Nguyễn Thị H. Số tiền vay là 42.000.000 đồng, thời hạn vay t
ngày 23/01/2021 đến 23/12/2021. Lãi suất theo thỏa thuận của hai bên.
Nguyên đơn thừa nhận vào ngày 17/4/2021, H1 đã trả 3.000.000 đồng
Đến ngày 08/5/2021, H1 trả thêm được 1.200.000 đồng; Ngày 28/6/2021
ngày 24/7/2021 H1 trả thêm mỗi lần 1.000.000 đồng. Tổng cộng H1 đã trả
được 6.200.000 đồng và còn nợ bà H số tiền gốc 35.800.000 đồng.
Tại cấp thẩm, bị đơn thừa nhận chữ viết, chữ trong giấy vay tiền đề
ngày 23/01/2021 của mình nhưng sau đó kháng cáo và đề nghị Giám định chữ
ký, chữ viết trong giấy vay tiền đề ngày 23/01/2021.
Tòa án đã trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trong giấy vay tiền nêu trên.
Kết luận giám định số 636 ngày 01/4/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
chữ viết, chữ ký chữ viết họ tên “Nguyễn Thị H1” trong giấy vay tiền đngày
23/01/2021 so với mẫu so sánh do chính bà Nguyễn Thị H1 viết và ký ra. Như vậy,
có đủ căn cứ xác định bị đơn có vay nguyên đơn số tiền 42.000.000 đồng vào ngày
23/01/2021.
[2.2] Về nội dung kháng cáo cho rằng số tiền 42.000.000 đồng theo giấy vay
lập ngày 23/01/2021 khoản vay 20.000.000 đồng ngày 19/12/2019 cộng với
tiền lãi, đồng thời cho rằng đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 42.800.000 đồng.
Xét thấy:
Bị đơn cung cấp “Hợp đồng cho nhân vay tiền” ngày 19/02/2019 giữa
người vay Nguyễn Thị H1 người cho vay là Nguyễn Thị H. Số tiền vay
20.000.000 đồng, thời hạn vay tngày 19/02/2019 đến 19/4/2019. Lãi suất theo
thỏa thuận của hai bên (BL 26). Hiện tại, bị đơn người lưu giữ bản gốc Hợp
đồng, do đó khoản vay này đã được bị đơn thanh toán xong. Đồng thời, Giấy vay
tiền đngày 23/01/2021 không nội dung nào thể hiện đây khoản vay ngày
5
19/02/2019 cộng với lãi suất, cũng không căn cứ cho rằng lãi suất cho vay của
Hợp đồng ngày 19/02/2019 vượt quá quy định của pháp luật
Đối với Giấy kẻ ô ly viết tay do bị đơn cung cấp nội dung: “Ngày
22/5/2020 vay hộ H1 40.000.000 đồng. Đã trả (2020): Ngày 22/6: 2.950.000;
22/7: 2.950.000; 22/8: 2.950.000; 27/12: 2.000.000. Chốt ngày 17/4/2021 DL,
Tổng bà H1 còn 39.000.000 đồng”.
Nội dung thể hiện đâykhoản tiền vay hộ được xác lập trước Giấy vay tiền
ngày 23/01/2021. Theo giấy vay này thì trong năm 2020, H1 đã trả tổng cộng
10.850.000 đồng, đến ngày 17/4/2021 được hai bên chốt số nợ còn lại. Tuy nhiên,
hiện tại bà H1 cũng người giữ bản gốc Giấy kô ly nên không căn cứ xác
định có liên quan đến khoản vay ngày 23/01/2021.
Tại giấy kô ly những nội dung do bị đơn tự ghi chép không chữ
xác nhận của nguyên đơn nên không căn cứ xác định nguyên đơn đã nhận các
khoản tiền như bị đơn trình bày.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn luôn trình bày mâu thuẫn. Do đó, Tòa án
cấp thẩm căn cứ giấy vay tiền đề ngày 23/01/2021, lời thừa nhận của nguyên
đơn về việc bị đơn đã trả được 6.200.000đồng đxác định bị đơn còn nợ nguyên
đơn số tiền 35.800.000 đồng buộc bị đơn nghĩa vụ thanh toán số tiền này là
có căn cứ.
[2.3] Về lãi suất:
Tại Giấy vay tiền đề ngày 23/01/2021, thỏa thuận v lãi suất nhưng
không nêu cụ thể lãi suất bao nhiêu. Quá trình tố tụng bị đơn thừa nhận vay có thỏa
thuận lãi suất. Trong năm 2021, bị đơn đã trả nhiều lần cho nguyên đơn (ngày
17/4/2021, bị đơn đã trả 3.000.000 đồng Đến ngày 08/5/2021, bị đơn trả thêm
được 1.200.000đồng; Ngày 28/6/2021 ngày 24/7/2021 bị đơn trả thêm mỗi
lần 1.000.000đồng) với tổng số tiền đã trả được 6.200.000đồng. Nguyên đơn chỉ
yêu cầu bị đơn trả lãi trên số tiền gốc 35.800.000đồng tngày 24/12/2021 đến
ngày xét xử thẩm với lãi suất 10%/năm đúng quy định tại khoản 5 Điều 466
và Điều 468 của BLDS, có lợi cho bị đơn.
[2.4] Từ phân tích, nhận định trên, không căn cứ chấp nhận nội dung đơn
kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
[3] Về án phí phúc thẩm và chi phí giám định:
- Bị đơn có yêu cầu giám định nhưng kết quả giám định chứng minh yêu cầu
của bị đơn là không có căn cứ nên phải chịu chi phí giám định.
- Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, H1 người cao tuổi nên miễn án phí
phúc thẩm cho bà H1.
6
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H1. Giữ nguyên Bản
án dân sự thẩm số 15/2025/DS-ST, ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 7 – Đắk Lắk.
- Căn cứ Điều 357, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho bà Nguyễn Thị Hằng S tiền 48.972.000
đồng. Trong đó, tiền gốc là 35.800.000 đồng và tiền lãi là 13.172.000 đồng.
Kể tngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
Nguyễn Thị H1 còn phải trả tiền lãi cho bà Nguyễn Thị H trên số tiền chậm trả
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho Nguyễn Thị
H1.
[3] Về chi phí giám định: Nguyễn Thị H1 phải chịu 4.850.000 đồng chi
phí trưng cầu giám định, số tiền nàyH1 đã nộp đủ và chi phí xong.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 7- Đắk Lắk;
- THA dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 7;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(Đã )
Lưu Thị Thu Hường
Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết Văn bản gốc. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 301/2026/DS-PT Bản án số 301/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 301/2026/DS-PT Bản án số 301/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất