Bản án số 471/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 471/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 471/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 471/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trương Minh C - Phan Thành S tranh chấp "Quyền sử dụng đất"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 471/2026/DS-PT
Ngày: 27 - 5 - 2026
V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Kiến;
Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Nguyễn Ngọc
Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 190/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm
2026 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 897/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Minh C, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa ch: p P, xã L, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp P, xã P, huyện H, tỉnh
Đồng Tháp).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Hoàng G Văn
phòng L3 - Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phan Thành S, sinh năm 1951 (có mặt);
Địa ch: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp (trước đây khóm A,
phưng A, thành ph H, tỉnh Đồng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Trí Q, sinh năm 1985 (có mt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là Ấp Thượng, xã T, huyện
T, tỉnh Đồng Tháp).
2
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1.Trương Thị Tuyết M, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa ch: Khóm M, P, tnh An Giang (trước đây khóm M, th trn P,
huyn P, tnh An Giang).
3.2.Trương Thị Lan C1, sinh năm 1972;
Địa ch: Khóm H, C, tnh An Giang (trước đây là khóm H, th trn A,
huyn C, tnh An Giang).
3.3.Trương Thị Kim C2, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa ch: p P, xã L, tỉnh Đồng Tháp (trước đây ấp P, xã P, huyện H, tỉnh
Đồng Tháp).
3.4. Ông Trương Minh S1, sinh năm 1975;
Địa ch: p P, xã L, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp P, xã P, huyện H, tỉnh
Đồng Tháp).
3.5. Ông Trương Minh H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số C Khu phố B, xã H, thành phố Hồ Chí Minh (trước đây Số C
Khu phố B, thị trấn H, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh).
3.6.Trương Thị Ngọc L, sinh năm 1980;
Địa ch: p P, xã L, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp P, xã P, huyện H, tỉnh
Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của Trương Thị Tuyết M, Trương Thị
Lan C1, bà Trương Thị Kim C2, ông Trương Minh S1, ông Trương Minh H,
Trương Thị Ngọc L: Ông Trương Minh C, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa ch: p P, xã L, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là ấp P, xã P, huyện H, tỉnh
Đồng Tháp).
3.7. Ông Võ Văn M1, sinh năm 1950 (vắng mt);
Địa ch: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp (trước đây khóm A,
phưng A, thành ph H, tỉnh Đồng Tháp).
3.8. Bà Lâm Th ng V, sinh năm 1959 (vắng mt);
Địa ch: Khóm B, phường H, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là Khóm B,
phưng A, thành ph H, tỉnh Đồng Tháp).
3.9.Đào Thị T (V ông Phan Thành S), sinh năm 1955 (xin vắng mt);
Địa ch: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp (trước đây khóm A,
phưng A, thành ph H, tỉnh Đồng Tháp).
3.10. Ch tch Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Đồng Tháp (xin vng mt);
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Võ Tấn N, sinh năm 1961;
3
4.2. Ông Nguyễn Văn L1;
4.3. Ông Nguyễn Hữu V1, sinh năm 1960;
Cùng địa ch: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp (trước đây là khóm A,
phưng A, thành ph H, tỉnh Đồng Tháp).
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Minh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Nguyên đơn ông Trương Minh C đồng thời cũng người đại diện
theo ủy quyền của những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị
Tuyết M, Trương Thị Lan C1, bà Trương Thị Kim C2, ông Trương Minh S1,
ông Trương Minh H và bà Trương Thị Ngọc L trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc từ ông bà để lại cho cha mẹ ông C là ông
Trương Minh K (chết năm 1988) bà Nguyệt L2 (chết năm 2019). Hiện
nay phần đất tranh chấp do mẹ ông C đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thuộc thửa 192 thửa 183, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại phường A,
thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp).
Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông giữ bản chính, không thế
chấp, cầm cố hay chuyển nhượng cho ai. Cha mẹ ông có 07 người con là Trương
Thị Tuyết M, Trương Thị Lan C1, Trương Thị Kim C2, Trương Minh S1,
Trương Minh H, Trương Thị Ngọc L Trương Minh C. Ngoài ra cha mẹ
không có con nuôi, con riêng gì.
Cha ông với cha ông Phan Thành S anh em ruột, cha ông là em ruột của
cha ông S. Phần đất tranh chấp này do ông S bao chiếm từ lâu rồi để trồng lúa,
trên 10 năm nay. Trước khi chết mông cũng nói với ông S trả đất nhưng
ông S không chịu, sau khi mẹ chết thì do anh em ông bận việc làm, ăn học nên
tới nay mới khởi kiện. Nên hiện nay ông S đang quản lý, sử dụng phần đất tranh
chấp này. Vào khoảng năm 2023 thì khi quan nhà nước vào đo đạc đất của
mẹ ông để cấp đổi lại giấy chứng nhận QSD đất mới thì cán bộ địa chính nói
phần đất hiện ông S đang quản lý, sử dụng có nằm trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của mẹ ông. Ông nói với ông S trả đất lại để đủ diện tích theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhà nước đã cấp cho mẹ ông tông S
không thống nhất, nên nay ông đi kiện đòi lại.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Thành S trả lại
diện tích đất lấn chiếm là 710m
2
(theo diện tích đo đạc thực tế của Tòa án) thuộc
một phần thửa 192 và một phần thửa 183, ng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại
phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay khóm A, phường A, tỉnh Đồng
Tháp), hiện do mẹ ông Nguyệt L2 (Đã chết) đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, làm sao cho đủ diện tích đất mà Nhà nước đã cấp giấy chứng
nhận QSD đất cho mẹ ông là được.
4
Phần đất này cha mẹ để lại chung cho các anh em ông, chưa chia thừa kế và
các anh em ông cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế trong ván
này, để chung cho các anh em ông. Anh chị em ông thống nhất ủy quyền cho
ông đi kiện ông S.
Ông không thống nhất với yêu cầu của ông S về việc hủy giấy chứng nhận
QSD đất đối với diện tích tranh chấp để cấp lại cho ông S, đất này của cha
mẹ ông để lại.
Ông thống nhất với đồ đo đạc của Tòa án thống nhất diện tích đất
tranh chấp 710m
2
có giá trị là 150.000đ/m
2
, tổng giá trị đất tranh chấp là
150.000đ x 710m
2
= 106.500.000 đồng.
Ngoài ra không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
* Bị đơn ông Phan Thành S trình bày:
Ông không thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đất tranh
chấp này của vợ chồng ông chứ không phải của bà L2 mẹ ông C. Đất của ông có
ranh giới ràng với đất nguyên đơn, không ai lấn chiếm ai cả. L2 mẹ của
ông C thím của ông, chồng L2 em ruột của cha ông, tất cả đều chết lâu
rồi. Hiện nay phần đất tranh chấp này vợ chồng ông cho ông Văn M1 thuê
canh tác trồng lúa, mỗi năm 1.500.000 đồng, đã lấy tiền thuê, ông không tranh
chấp gì với ông M1 trong vụ án này.
Nguồn gốc đất tranh chấp này txưa lắm rồi đây đất đìa o, không ai
trồng lúa được, bỏ hoang, vợ chồng ông khai phá tnăm 1986 cho tới nay mới
làm lúa được. Khu vực đất này của ông nội, trước đây ông nội có khoảng 100
công tầm cắt, sau khi chết thì ông nội chia đất cho các con, ai cũng quản ổn
định phần đất mình được cho. Đối với phần đất tranh chấp thì đất đìa bào,
không ai trồng lúa được, bỏ hoang, vợ chồng ông thấy vậy mới vào tự khai phá
từ năm 1986 cho tới nay mới làm lúa được. Vợ chồng ông bỏ công sức rất nhiều
mới được như ngày hôm nay, nay tự nhiên ông C đi kiện ông. Tổng diện tích đìa
bào vợ chồng ông khai phá khu vực này hơn 1.000m
2
, nhưng không hiểu
sao ông C chỉ kiện 710m
2
. Ông không hiểu lý doNhà nước lại cấp lộn 710m
2
này qua cho L2, nên nay con L2 lấy cớ đi kiện ông. Trước đó lâu lắm rồi
thì Nhà nước nói đất bào đìa không cấp giấy được, thấy vậy ông không đi
làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay tự nhiên không biết sao lại cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L2.
Nay ông yêu cầu Tòa án công nhận QSD đất đối với diện tích đất tranh
chấp trong vụ án 710m
2
, thuộc một phần thửa 192 thửa 183, cùng tờ bản
đồ số 2 (tương ứng thửa 45, tờ bản đồ số 2), tọa lạc tại phường A, tỉnh Đồng
Tháp, hiện do bà Hà Nguyệt L2 (Chết) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Ông yêu cầu hủy (thu hồi) một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp cho Nguyệt L2 (Chết) đối với phần diện tích này để cấp lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông theo quy định pháp luật.
5
Ông thống nhất với đồ đo đạc của Tòa án thống nhất diện tích đất
tranh chấp 710m
2
có giá trị là 150.000đ/m
2
, tổng giá trị đất tranh chấp là
150.000đ x 710m
2
= 106.500.000 đồng.
Ngoài ra không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn M1 trình bày:
Ông hiện là người đang canh tác phần đất tranh chấp giữa các bên, việc ông
canh tác trên phần đất này do ông thuê của ông Phan Thành S, thuê đất đã
được 10 năm, trong vụ án này ông không tranh chấp hay yêu cầu gì, nếu đất
của ông S thì ông thuê tiếp còn đất của ông C thì ông thương lượng với ông C.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Hường V: Vắng mặt
không có ý kiến trình bày.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Thị T (vợ ông Phan
Thành S): Vắng mặt không có ý kiến trình bày.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường A, tỉnh Đồng Tháp: Xin vắng mặt, không có ý kiến hay yêu cầu gì.
* Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 227, 228, 229, 235, 271,
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các điều 163, 164, 166, 189 500 của Bộ luật Dân snăm
2015; Các Điều 26, 97, 99, 166 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; Các Điều 17,
26, 134, 135, 236 Luật đất đai năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh
C về việc yêu cầu bị đơn ông Phan Thành S trả lại diện tích đất 710m
2
(Vị trí
1 trong đồ đo đạc số 04/2025/SĐĐĐ/CNVPĐKĐĐ TPHN ngày 08/4/2025
của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố H (Nay Chi nhánh Văn
phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp) thuộc một phần thửa 183 192, cùng tờ bản đồ s
02 (tương ứng thửa 45, tờ bản đồ số 02) đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ghi tên hộ Nguyệt L2, đất tọa lạc tại khóm A, phường A, tỉnh
Đồng Tháp (khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp cũ).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Thành S.
Công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp là 710m
2
(Vị
trí 1 trong Sơ đồ đo đạc số 04/2025/SĐĐĐ/CNVPĐKĐĐ TPHN ngày 08/4/2025
của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố H (Nay Chi nhánh Văn
phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp), thuộc một phần thửa 183 và 192, cùng tờ bản đồ số
6
02 (tương ứng thửa 45, tờ bản đồ số 02), đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ghi tên hộ bà Hà Nguyệt L2, đất tọa lạc tại khóm A, phường A, tỉnh
Đồng Tháp (khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp cũ) cho ông
Phan Thành S. Ông Phan Thành S được quyền sử dụng diện tích đất được công
nhận này theo quy định pháp luật.
Đương sự quyền, nghĩa vụ đến quan Nhà nước thẩm quyền để
khai, điều chỉnh, đăng biến động đối với diện tích đất được ng nhận trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đề nghị quan nhà nước thẩm quyền thu hồi toàn bộ thửa đất số 183
và 192, cùng tờ bản đồ số 02 (tương ứng thửa 45, tờ bản đồ số 02), đất trồng lúa,
hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên hộ Nguyệt L2, để tiến
hành các thủ tục theo quy định pháp luật cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với phần tranh chấp đã công nhận nêu trên cho ông Phan Thành S. Phần
diện tích còn lại của thửa số 183 192, cùng tờ bản đồ số 02 (tương ứng thửa
45, tờ bản đồ số 02) đề nghị quan nhà nước thẩm tiến hành các thủ tục
theo quy định của pháp luật.
Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2025 của Tòa
án đồ đo đạc số 04/2025/SĐĐĐ/CNVPĐKĐĐ TPHN ngày 08/4/2025 của
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố H (Nay Chi nhánh Văn
phòng Đ, tỉnh Đồng Tháp).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng,
quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định
pháp luật.
Ngày 19 tháng 01 năm 2026, nguyên đơn Trương Minh C kháng cáo bản
án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án sơ
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn ginguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo, các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến vviệc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên nhận định: Phần đất tranh chấp trước đây
đìa bào được ông S khai phá, cải tạo từ năm 1986 canh tác, quản cho
đến nay không có tranh chấp. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
183, thửa 192 bao gồm diện tích 710m
2
đang tranh chấp cho hộ Nguyệt
L2 không đúng đối tượng do: Khi cấp giấy không đo đạc thực tế, không xác
định ranh với những hộ giáp ranh trong khi gia đình L2 hoàn toàn không
quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp này từ trước đến nay. Ngoài phần đất tranh
chấp này thì ông S cũng quản lý sử dụng phần đất đìa bào kế bên cũng do ông S
7
khai phá từ năm 1986 đến nay, phần đất này do Lâm Hường V đứng tên
trên sổ mục kê nhưng V cũng đã xác nhận phần đất này của ông S. Ông C
kháng cáo nhưng không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ chứng minh cho
yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn ông Trương Minh C nộp đơn kháng cáo thực hiện thủ
tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Trương Minh C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc
ông Phan Thành S trả lại diện tích đất lấn chiếm là 710m
2
(theo diện tích đo đạc
thực tế) thuộc một phần thửa 192 và một phần thửa 183, cùng tờ bản đồ số 2, tọa
lạc tại phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay là khóm A, phường A, tỉnh
Đồng Tháp), hiện do mẹ ông C Nguyệt L2 (Đã chết) đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bị đơn ông Phan Thành S đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận cho
ông quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 710m
2
đang tranh chấp, thuộc một
phần thửa 192 và thửa 183, cùng tờ bản đồ số 2 (tương ứng thửa 45, tờ bản đồ s
2), tọa lạc tại phường A, tỉnh Đồng Tháp, hiện do bà Hà Nguyệt L2 (Chết) đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu hủy (thu hồi) một phần
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Nguyệt L2 (Chết) đối với
phần diện tích này để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông theo
quy định pháp luật.
Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Trương Minh C chấp nhận yêu cầu phản tố của bđơn ông Phan Thành
S. Không đồng ý với bản án thẩm nên ông C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Minh C, Hội đồng
xét xử xét thấy:
Theo Công văn số 2024/UBND-NC ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân thành phố H thì phần diện tích 710m
2
đang tranh chấp thuộc một phần
thửa 183 và thửa 192 cùng tờ bản đồ số 2, đất tại phường A, thành phố H, tỉnh
Đồng Tháp (nay khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp), giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ghi tên hộ Nguyệt L2 đứng tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm khi giải quyết vụ án chưa thu thập
8
hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 183 thửa 192 là
thiếu sót.
Đồng thời, theo Quyết định số 468/QĐ-UB-NC ngày 29/12/1995 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Đ nội dung thể hiện vào năm 1988 hộ Nguyệt L2
được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giải quyết trả lại 9.000m
2
đất. Như vậy, 9.000m
2
đất này phải là phần đất hộ L2 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy
chứng nhận số 001311/QSDĐ/173/QĐ-UB, diện tích 9668m
2
gồm các thửa 182,
183, 192, 204 hay không. Trường hợp 9.000m
2
này là phần đất được cấp cho hộ
L2 nêu trên thì phần diện tích chênh lệch 668m
2
từ đâu phần diện tích
710m
2
đang tranh chấp nằm trong 9.000m
2
hL2 được y ban nhân dân
tỉnh Đ trả lại hay không cũng chưa được cấp thẩm làm rõ. Trường hợp đất bị
thu hồi sau đó trả lại cho hộ L2 thì chưa căn cứ cho rằng ông S sử dụng
liên tục trên 30 năm như án sơ thẩm đã nhận định.
Hơn nữa, phần diện tích đất tranh chấp trước đây là đìa, bào được phía
bị đơn quản lý, sử dụng tnăm 1986 đến nay nhưng Tòa án cấp thẩm chưa
xác định công sức đóng góp, bồi thố, quản lý, cải tạo đất của phía bị đơn là thiếu
sót.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C cung cấp các biên lai thu thuế sử dụng đất
nông nghiệp đứng tên Nguyệt L2. Đây những tài liệu, chứng cmới
phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nên cần được xác minh, làm các
biên lai này liên quan đến phần đất đang tranh chấp hay không. Việc xác
minh, thu thập và đánh giá các chứng cứ nêu trên là cần thiết để giải quyết vụ án
một cách toàn diện, khách quan. Những tình tiết, chứng cứ mới phát sinh này
khách quan tuy nhiên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được thiếu sót này
trong phạm vi xét xử phúc thẩm.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cần hủy án thẩm, giao hồ
về cho Tòa án khu vực xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo hủy bản án thẩm của nguyên đơn ông Trương
Minh C là có căn cứ.
[3] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Do hủy án thẩm nên ông C không phải chịu án phí phúc
thẩm, nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục
sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
9
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Hủy Bản án dân sự thẩm s03/2026/DS-ST ngày 06 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp. Giao hồ vụ án về cho
Tòa án nhân dân Khu vực X Đồng Tháp xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
2. Về án phí: Nguyên đơn ông Trương Minh C không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Trả lại ông C 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu số 0001221 ngày 20/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TPT TAND TC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND KV X - Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV X - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Phong
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 471/2026/DS-PT Bản án số 471/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất