Bản án số 374/2026/DS-PT ngày 22/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 374/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 374/2026/DS-PT ngày 22/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 374/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trị Huyền Tr yêu cầu Tô Thanh T trả 280.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 374/2026/DS-PT
Ngày: 22 - 5 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 58/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 02
năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đng vay tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau bị kháng cáo.
- Nguyên đơn: Ch Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1988. Căn cước công
dân số 096188016446.
Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Biên T1, sinh năm: 1962
(Theo văn bản ủy quyền ngày 07/10/2025, có mặt).
Địa chỉ cư trú: Số F, Q, khóm A, phường T, tnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Thanh T2; Sinh năm: 1985. Căn cước công dân số
096185020378 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Số E, đường L, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của chị T2: Bà Bùi Thanh H, sinh ngày 10/09/1988
(Theo văn bản ủy quyền ngày 06/3/2026, có mặt);
Địa chỉ cư trú: Số A - T, Phường A, thành phố Hồ C Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hứa Thanh K, sinh năm 1973. Căn cước công dân số 096073002919 (Xin
xét xử vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Shop thể thao K2 - đường Đ, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau
Người kháng cáo: Bà Tô Thanh T2 là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa đại diện
nguyên đơn ông Trần Biên T1 trình bày: Vào năm 2021, bà T cho T2 vay số
tiền 200.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận lãi suất 2%/năm nhưng không ghi vào
biên nhận, thời hạn trả không có thỏa thuận, có làm giấy biên nhận ngày 18/7/2021.
Tuy nhiên, giữa T2 T không quen biết nhau, T cho T2 vay thông
qua ông Hứa Thanh K là cậu của bà T. Do bà T2 làm chung cơ quan với ông K nên
ông K nói với bà T T2 có nhu cầu vay tiền, lúc này T có tiền nên đưa cho
ông K cho T2 vay. Số tiền 200.000.000 đồng là ông K giao cho bà T2, giao tiền
mặt. Đến ngày 20/8/2021, ông K nhắn tin yêu cầu T2 trả nợ nhưng T2
không trả cho đến nay.
Từ lúc vay tiền đến nay T2 không trả vốn, lãi. Do đó, T yêu cầu bà T2 trả số
vốn 200.000.000 đồng lãi suất tính tngày 21/7/2021 đến ngày khởi kiện ngày
17/9/2025. Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện
yêu cầu bị đơn thanh toán lãi suất chậm trả 10%/năm kể từ ngày 20/8/2021 đến ngày
khởi kiện ngày 17/9/2025 tổng cộng 48 tháng 26 ngày x 200.000.000 đồng x
10%/năm bằng số tiền 80.500.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu làm
tròn số 80.000.000 đồng. Tổng cộng vốn lãi 280.000.000 đồng. Ngoài ra,
nguyên đơn không yêu cầu gì khác.
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa bị đơn
chị T2 trình bày như sau: Năm 2019 vay tiền của ông Hứa Thanh K làm chung
quan với chị, vay hai lần s tiền 500.000.000 đồng, lãi đã trả là 86.000.000 đồng.
Đến năm 2021 do chị nkhông tiền trả nên chị giao nhà cho ông K để trừ nợ.
Đến thời điểm tháng 7/2021 chị trả dứt điểm khoản tiền vốn 300.000.000 đồng
cho ông K đối với khoản vay năm 2019. Còn lại số tiền lãi 200.000.000 đồng
không có tiền trả nên ông K yêu cầu chị ghi biên nhận nợ số tiền 200.000.000 đồng
theo biên nhận đề ngày 18/7/2021 nguyên đơn làm căn cứ khởi kiện chị. Biên
nhận này do chị viết và ký tên nhưng nội dung là do ông K đọc cho chị viết, do thời
điểm này vẫn còn nông K tiền lãi nên ông K đọc sao chị ghi vậy, thực chất chị
không biết chị T ai cũng không nhận từ chị T hoặc ông K số tiền 200.000.000
đồng. Nội dung này có thể hiện qua những tin nhắn giữa chị và ông K, chị đã cung
cấp cho Tòa. Do đó, chị không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn.
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 05/12/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Hứa Thanh K trình bày: Vào năm 2019, ông và vợ ông là bà Nguyễn Ngọc Lan
H1 cho Thanh T2 vay tiền hai lần. Các lần vay này T2 đã thanh toán
cho ông xong. Đến ngày 18/7/2021, bà T2 có đến gặp ông và nói khó khăn nên cần
vay tiền. Lúc này, cháu ông là bà Nguyễn Thị Huyền T tiền nên ông hỏi T cho
T2 vay thì bà T đồng ý. Do đó, ông lấy 200.000.000 đồng từ bà T cho T2 vay,
khi đưa tiền cho T2 ông nói với T2 đây tiền của cháu ông Nguyễn
Thị Huyền T, bà T2 đồng ý và viết biên nhận là có mượn tiền của bà T 200.000.000
đồng, biên nhận viết vào ngày 18/7/2021, lãi suất không có ghi vào biên nhận nhưng
hai bên có thỏa thuận là 2%/tháng. Đối với số tiền này đến nay bà T2 chưa trả vốn,
3
lãi mặc dù ông có yêu cầu nhiều lần nhưng bà T2 vẫn không trả.
Ông xác định đâytiền của T cho T2 vay chứ không phải tiền của ông
nên ông không có yêu cầu trong vụ án này, chỉ có ý kiến là yêu cầu T2 trả số
tiền này cho T theo như biên nhận T2 đã ký. Do đó, ông không yêu cầu hòa
giải lại và xin vắng mặt tất cả các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2026/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền Trân
Buộc bđơn bà Thanh T2 thanh toán cho nguyên đơn Nguyễn Thị
Huyền T số tiền vay tổng cộng vốn và lãi 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi
triệu đồng), trong đó vốn là 200.000.000 đồng, lãi là 80.000.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 20/01/2026, chị Thanh T2 đơn kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp
phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do chưa làm rõ bản chất thực tế của việc vay
tài sản, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn chị Thanh T2, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất
giữ nguyên ni dung đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ án thẩm. Bởi lẽ, nguyên
đơn khởi kiện đối với stiền 200.000.000 đồng là không có tư cách khởi kiện, do bị
đơn chvay tiền của ông K nên ông K người có thẩm quyền khởi kiện. Bị đơn chỉ
quen biết, vay tiền của ông Hứa Thanh K đã thanh toán đầy đủ tiền nợ gốc.
Việc ông Hứa Thanh K yêu cầu chị ghi biên nhận tiền lãi dưới hình thức mượn tiền
của chị Nguyễn Thị Huyền T do ông K áp đặt, không đúng bản chất giao dịch
giữa các bên. Thực tế chị không có vay, ợn tiền của chị T dưới bất kỳ hình thức
nào, Bản án sơ thẩm buộc chị trả nợ gc, lãi cho chị T làm ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của chị. Quá trình giải quyết vụ án, chị T2 cung cấp chứng cứ chứng
minh các tin nhắn Zalo thể hiện đã trả đủ nợ gốc cho ông K nhưng chưa được xem
xét. Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị đơn có liên hệ điện thoại
với ông Hứa Thanh K để thỏa thuận trả nợ với số tiền 150.000.000 đồng, ông K đã
đồng ý.
Mặc khác, nguyên đơn không xác định được việc đưa tiền vay cho bị đơn. Bị
đơn thừa nhận chữ viết và chữ ký trong biên nhận đề ngày 18/7/2021, với nội dung
chị có mượn tiền của chị Nguyễn Thị Huyền T 200.000.000 đồng là chữ viết và chữ
của chị; Tuy nhiên, đây khoản tiền lãi ch nợ ông K đối với khoản vay năm
2019 chứ chị không vay tiền của chị T, chị không biết chị T ai. Chị đã cung
cấp cho Tòa những nội dung tin nhắn trao đổi qua lại giữa ông K chị về số tiền
lãi nêu trên.
4
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện, không đồng ý với nội dung và căn cứ kháng cáo bị đơn. Nguyên đơn cho rằng
cho chị T2 vay số tiền 200.000.000 đồng, i suất thỏa thuận lãi suất 2%/năm
nhưng không ghi vào biên nhận, thời hạn trả không có thỏa thuận, có làm giấy biên
nhận ngày 18/7/2021. Tuy nhiên, giữa chị T2 và chị T không có quen biết nhau, chị
T cho chị T2 vay là thông qua ông Hứa Thanh K là cậu của chị T, do ông K, chị T2
công tác chung quan, nguyên đơn người đưa tiền mặt cho ông K để đưa cho
chị T2 vay; đối với các tin nhắn zalo qua lại giữa ông K bị đơn liên quan đến
số tiền bị đơn vay của vợ ông K trước khi vay tiền của nguyên đơn. Việc bị đơn cho
rằng điện thoại thỏa thuận với nguyên đơn để thống nhất số tiền b đơn trả
150.000.000 đồng thì nguyên đơn không biết, tại phiên tòa nguyên đơn không đng
ý thỏa thuận bị đơn bán nhà nghỉ chế độ tiền nhưng không thực hiện việc
trả nợ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhânn tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn chị Tô Thanh T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của chị Tô Thanh T2 trong thời hạn luật định, hợp lệ nên
được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét căn cứ kháng cáo yêu cầu hủy án thẩm của bị đơn Thanhh T3
và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, thấy rằng: Nguyên đơn
cho rằng vào năm 2021, bị đơn vay tiền của nguyên đơn số tiền 200.000.000
đồng, có viết biên nhận đề ngày 18/7/2021. Bị đơn cũng thừa nhận chữ ký, chữ viết
tại biên nhận đề ngày 18/7/2021 là chữ viết và chữ ký của bị đơn. Tại phiên tòa chị
T3 khai số tiền 200.000.000 đồng là khoản tiền lãi từ khoản vay giữa chị ông K
vào năm 2019 được thể hiện qua những tin nhắn trên Zalo giữa chị ông K. Tuy
nhiên, những tài liệu, chứng cứ mà chị T3 cung cấp không thể hiện nội dung khoản
vay 200.000.000 đồng của nguyên đơn khoản tiền lãi đối với khoản vay năm 2019
của ông K được cộng lại, ngoài lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa thì bị đơn không
chứng cư, tài liệu nào chứng minh cho lời trình bày của mình có căn cứ pháp
luật. Đối với lời trình bày của nguyên đơn người có quyền lợi, nghĩa vliên quan
ông Húa Thanh K1 phù hợp với nội dung biên nhận ngày 18/7/2021. Chị T3 cũng
không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chị viết biên nhận số tiền 200.000.000
đồng là do ông K1 ép buộc chị ghi. Do đó, đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với b
5
đơn là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về lãi suất: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ tại hồ ván cho thấy.
Đối với số tiền 200.000.000 đồng là tiền của chị T cho chị T3 vay, ông K1 lấy tiền
từ chị T giao cho chị T3, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng. Khi đưa tiền cho chị T3 ông
K1 có nói đây là tiền của cháu ông là chị T cho chị T3 vay. Đối với số tiền này đến
nay chị T3 chưa trả vốn, lãi mặc ông yêu cầu nhiều lần nhưng chị T3 vẫn
không trả. Nguyên đơn cũng xác định giữa ông K1 và chị T3 có nhắn tin những nội
dung này ông K1 yêu cầu chị T3 trả 200.000.000 đồng vào ngày 20/8/2021 nên
yêu cầu tính lãi từ ngày 20/8/2021 đến ngày xét xthẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu
bị đơn trả lãi suất 10%/năm. Như vậy, tính từ ngày 20/8/2021 đến ngày nguyên đơn
khởi kiện ngày 17/9/2025 48 tháng 26 ngày x 10%/năm x 200.000.000 đồng bằng
số tiền 81.444.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu tròn stiền
80.000.000 đồng lợi cho bị đơn nên chấp nhận buộc bị đơn thanh toán cho
nguyên đơn số tiền lãi 80.000.000 đồng như án thẩm tuyên là căn cứ pháp
luật.
[4] Xét căn cứ yêu cầu hủy án thẩm của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy
hồ sơ vụ án đã thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ theo quy định pháp luật, Bản án sơ
thẩm đã xem xét nhận định khách quan tình tiết vụ việc, không vi phạm. Do
đó, kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án thẩm của bị đơn không căn cứ
chấp nhận.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy, án thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ tài liệu,
chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, quyết định chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật, nên không có cơ sở chấp
nhận kháng cáo của bị đơn chị Thanh T2. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm
sát tại phiên toà là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ.
[6] Án phí phúc thẩm chị Tô Thanh T2 phải chịu theo quy định pháp luật.
[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chTô Thanh T2; giữ nguyên bản án
dân sự thẩm s03/2026/DS-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực
1 Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền T.
6
Buộc bị đơn chị Thanh T2 thanh toán cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Huyền T số tiền vay tổng cộng vốn và lãi 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi
triệu đồng), trong đó vốn là 200.000.000 đng, lãi là 80.000.000 đồng.
Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị T2 không tự nguyện thi
hành xong thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản
2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Chị Tô Thanh T2 phải nộp số tiền
14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Chị Nguyễn Thị Huyền T không phải nộp án phí. Ngày 29/9/2025 chị T đã
dự nộp 9.082.000 đồng theo lai số 0000554 tại Thi hành án dân sự tỉnh Mau,
được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Án phí dân sự phúc thẩm bị đơn chị Tô Thanh T2 phải chịu 300.000 đồng.
Đã qua chị Thanh T2 có dự nộp tạm ứng 300.000 đng theo biên lai thu tạm ứng
án phí số 0001161 ngày 28/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Mau được
chuyển sang thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn A Đam
Tải về
Bản án số 374/2026/DS-PT Bản án số 374/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 374/2026/DS-PT Bản án số 374/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất