Bản án số 466/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 466/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 466/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 466/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N - Lê Văn Đ tranh chấp "Quyền sử dụng đất".
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 466/2026/DS-PT Bản án số 466/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 466/2026/DS-PT Bản án số 466/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 466/2026/DS-PT
Ngày: 26-5-2026
V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh;
Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Nguyễn Ngọc
Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 127/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng 3 năm
2026 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 125/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 817/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1950 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, xã C, tỉnh
Đồng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Văn U, sinh năm: 1991 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, xã C, tỉnh
Đồng Tháp).
2. Bị đơn: Lê Văn Đ, sinh năm: 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, xã C, tỉnh
Đồng Tháp).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Nguyễn Văn G, sinh năm: 1945 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, C, tỉnh
Đồng Tháp).
3.2. Mai Thị Kim L, sinh năm: 1972 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, xã C, tỉnh
Đồng Tháp).
3.3. Lê Quốc Đ1, sinh năm: 1992 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, xã C, tỉnh
Đồng Tháp).
3.4. Lê Quốc H, sinh năm: 1997 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là: Ấp L, xã C, tỉnh
Đồng Tháp).
3.5. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang;
Người kế thừa quyền nghĩa v tố tụng: Ủy ban nhân dân C, tỉnh
Đồng Tháp (vắng mặt);
Đại diện pháp luật: Ông Trần Trung Đ2 Chức vụ: Chủ tịch.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N bị đơn ông Văn
Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Nguyễn Thị N có đại diện theo ủy quyền anh U trình bày:
Nguồn gốc thửa đất s84, tờ bản đồ số 02 tại ấp L, L, huyện C, tỉnh
Tiền Giang (nay ấp L, C, tỉnh Đồng Tháp) của cụ Nguyễn Thị T (mẹ
ruột của ông G, cụ T đã mất) cho vợ chồng N vào những năm 1969 1970.
Vợ chồng N quản canh tác (vợ chồng bà N không đăng khai
cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất). Đến khoảng năm
1985 1986 vợ chồng N bán lại cho ông Hữu B (ông B đã mất), khi bán
cho ông B chỉ nói miệng không làm giấy tờ gì. Lúc bán cho ông B vợ chồng
N chỉ bán phần đất ruộng khoảng 2000m², n phần bờ dừa dùng làm lối đi
cạnh giáp kênh hiện bà N đang tranh chấp với ông Đ thì vợ chồng bà không bán.
Ông B canh tác được một thời gian thì hoán đổi phần đất trên với ông Nguyễn
Văn P. Ông B ông P cũng không đăng khai chưa ai được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Sau này ông P chuyển
nhượng lại cho ông Văn Đ ông Đ đăng khai được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, số thửa 84, tờ bản đồ số 02, diện tích 2113,0m²,
mục đích sử dụng đất trồng lúa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
H00282 ngày 21/9/2005. Quá trình sử dụng đất từ ông B, ông P đến ông Đ thì
bờ dừa trên của N, N quản từ khoảng năm 1969-1970 cho đến hiện
3
tại. Hiện bà N có trồng khoảng 4 cây dừa để chống sạt lở. Đến khoảng năm 2010
N tiến hành tách đất cho con thì mới phát hiện bờ dừa của N đã được ông
Đ đăng khai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông Đ
khai cấp giấy chứng nhận đối với thửa 84 N không biết cũng không
được mời dự đo đạc, ranh. Quá trình hòa giải tại sở ông Đ đồng ý tách bờ
dừa trả cho bà N nhưng hứa hẹn do giấy đất đang thế chấp ngân hàng để vay
tiền, khi nào lấy ra sẽ làm thủ tục tách bộ. Sự việc kéo dài đến năm 2021 ông Đ
mới đến Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C hợp đồng đo đạc để
trả lại phần đất cho N. Quá trình đo đạc xác định diện tích bờ dừa tranh chấp
68,3m². Tuy nhiên, sau đó ông Đ lấy lý do không biết chữ đợi các con về bàn
bạc rồi sau đó ông Đ không đến Chi nhánh văn phòng đăng đất đai để thanh
hợp đồng nên vụ việc kéo dài cho đến nay. Theo đơn khởi kiện N yêu cầu
ông Đ trả lại cho N phần đất 68,3m², tại phiên hòa giải N bổ sung yêu
cầu khởi kiện, cụ thể, N yêu cầu hộ ông Văn Đ gồm ông Văn Đ, chị
Mai Thị Kim L, anh Quốc Đ1, anh Quốc H trả cho N phần diện tích
đất 76,6m² thuộc một phần thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 tại ấp L, L, huyện
C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, xã C, tỉnh Đồng Tháp).
* Tại bản tự khai đề ngày 12/3/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án ông Lê Văn Đ trình bày:
Ông Đ chủ sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 tại ấp L, L, huyện
C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, C, tỉnh Đồng Tháp). Nguồn gốc thửa đất
do ông Đ mua của ông Nguyễn Văn P vào năm 1997, đến năm 2005 ông Đ đăng
ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2010 bà N
nói với ông Đ đất của N dính phần đường đi bờ kênh nằm trong giấy
đất của ông Đ. Ranh giới đất từ lúc ông Đ mua đất đến nay đã được xác định
phần diện tích đất của ông Đ thì ông Đ sử dụng, phần đường bờ kênh của
N sử dụng. Vào ngày 12/6/2010 T1 ấp L mời ông Đ N hòa giải để tách
phần đường đi bờ kênh cho N. Ông Đ không xác định phần đường đi
bờ kênh có nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ không, nếu
ông Đ đồng ý trả lại cho bà N. Đến ngày 16/3/2021 Ủy ban nhân dân xã L
đến vị trí phần đất tranh chấp cùng các chủ giáp ranh, chủ đất lúc ông Đ mua
ra làm chứng đo đạc xác định từ phần ranh đường đến phía bờ kênh diện tích
là 68,3m², ông Đ cũng đồng ý ký tên vào biên bản. Ông Đ đến Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai huyện để duyệt hồ yêu cầu bà N đóng thuế
nhưng phía N không đồng ý.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Giàu C đơn xin
vắng mặt. Tại bản khai ngày 09/8/2022 ông G trình bày: Ông G đồng ý theo ý
kiến của bà Nguyễn Thị N.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Mai Thị Kim L, anh Quốc
Đ1, anh Quốc H vắng mặt cũng không văn bản trình bày ý kiến của
mình đối với yêu cầu khởi kiện của N.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
Tiền Giang Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng Ủy ban nhân dân C,
4
tỉnh Đồng Tháp xin vắng mặt. Tại văn bản số 1942/UBND TD ngày 08/5/2025
Ủy ban nhân dân huyện C:
Theo Công văn số 719/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG-LT ngày 23/4/2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai thì Chi nhánh chưa tìm thấy hồ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Văn Đ đối với thửa đất số 84, tờ
bản đồ số 02 tọa lạc tại ấp T, xã L. Qua kiểm tra địa chính tại trang 135 quyển
ấp L ghi nhận thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 diện tích 2.113m², mục đích sử
dụng đất lúa, tọa lạc tại ấp T, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang được Ủy ban nhân
dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00282 ngày 21/9/2005
cho hộ ông Lê Văn Đ. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Lê Văn Đ được lưu trữ tại Chi nhánh, tuy nhiên Chi nhánh không cung cấp được
hồ sơ. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện C không ý kiến liên quan đến việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, tbản đồ số 02 đã
cấp cho hộ ông Văn Đ. Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị Tòa án căn cứ vào
các tài liệu đã thu thập được giữa các bên để xét xử vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà N vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, cụ thể bà N yêu cầu hộ ông Lê Văn Đ gồm
ông Văn Đ, Mai Thị Kim L, anh Quốc Đ1, anh Quốc H trả cho
N phần diện tích đất 76,6m² thuộc một phần thửa đất s84, tờ bản đồ số 02 tại
ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, xã C, tỉnh Đồng Tháp).
Bị đơn ông Văn Đ không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của N cho
rằng phần diện tích đất 76,6m² nằm trong thửa đất số 84 của ông, tuy nhiên ông
không sử dụng dùng đlàm đường đi chung cho các hộ phía trong thoát
nước ra kênh công cộng.
Bản án dân sự thẩm số: 125/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp đã quyết định:
Áp dụng Điều 26, Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 220 Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
N.
Buộc ông Văn Đ, Mai Thị Kim L, anh Quốc Đ1, anh Quốc H
nghĩa vụ trả cho Nguyễn Thị N số tiền là 38.300.000 đồng (Ba mươi tám
triệu ba trăm nghìn đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
5
Kể từ ngày N đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Đ, L, anh Đ1, anh
H chậm trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời
gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357
Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Văn Đ hoàn trả chi phí định giá tài sản
cho Nguyễn Thị N số tiền là 3.374.029 đồng (Ba triệu ba trăm bảy mươi bốn
nghìn không trăm hai ơi chín đồng). Thời gian thực hiện khi án hiệu lực
pháp luật.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng
cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn Nguyễn Thị N kháng cáo bản
án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N, buộc ông Văn Đ trả cho
phần diện tích đất 76,6m² thuộc một phần thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 tại ấp
L, L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, C, tỉnh Đồng Tháp), N
không đồng ý nhận giá trị.
Ngày 07 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông Văn Đ kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xsửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo, bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự thỏa thuận được với nhau vviệc giải quyết vụ án, bị đơn
ông Đ đại diện hộ đồng ý giao phần đất đang tranh chấp cho nguyên đơn N
quản lý sử dụng, bà N đồng ý nhận phần đất tranh chấp này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến vviệc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bđơn, Kiểm sát viên nhận
định: Tại phiên Tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án, bị đơn ông Đ đồng ý giao phần đất đang tranh chấp cho nguyên
đơn N quản sử dụng, N đồng ý nhận phần đất tranh chấp này. Xét thấy
sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm
của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản
án thẩm theo hướng ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao phần đất
diện tích 76,6m² thuộc một phần thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 tại ấp L, L,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay ấp L, C, tỉnh Đồng Tháp) đang tranh chấp
cho bà N quản lý, sử dụng. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vẫn giữ
nguyên việc ông Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận đối với phần đất đang tranh
chấp. Trường hợp N đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
6
đất theo quy định của pháp luật tông Đ nghĩa vụ thực hiện các thủ tục cần
thiết để sang tên Giấy chứng nhận đối với phần đất đang tranh chấp cho bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, bị đơn ông Lê Văn Đ nộp đơn kháng cáo và
thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn
Thị N và yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Đ:
Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu hộ ông Văn Đ gồm ông Văn Đ,
Mai Thị Kim L, anh Quốc Đ1, anh Lê Quốc H trả cho bà N phần diện tích
đất 76,6m² thuộc một phần thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 tại ấp L, L, huyện
C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, xã C, tỉnh Đồng Tháp).
Bị đơn ông Văn Đ không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của bà N phần
diện tích đất 76,6m² nằm trong thửa đất số 84 của ông, tuy nhiên ông không sử
dụng ng để làm đường đi chung cho các hộ phía trong thoát nước ra
kênh công cộng.
Tòa án cấp thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của N, buộc
ông Lê Văn Đ, Mai Thị Kim L, anh Lê Quốc Đ1, anh Lê Quốc H có nghĩa vụ
trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền là 38.300.000 đồng (Ba mươi tám triệu ba trăm
nghìn đồng).
Không đồng ý với bản án thẩm nên N ông Đ kháng cáo. N
kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông Văn Đ trả cho bà phần diện
tích đất 76,6m² thuộc một phần thửa đất số 84, tbản đồ số 02 tại ấp L, L,
huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, xã C, tỉnh Đồng Tháp), bà N không đồng
ý nhận giá trị. Ông Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản
án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị N ông Văn Đ, Hội
đồng xét xử xét thấy:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ chồng N cho vợ chồng N
vào những năm 1970. Đến khoảng năm 1986 vợ chồng N bán lại cho ông
Hữu B, sau đó ông B hoán đổi đất với ông Nguyễn Văn P. Quá trình sử dụng đất
từ vợ chồng N, ông B đến ông P không ai đăng khai cũng chưa ai
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1997 ông P chuyển nhượng
cho ông Văn Đ. Đến năm 2005, ông Đ đăng khai được cấp giấy
7
chứng nhận quyền sử dụng đất, số thửa 84, tờ bản đồ số 02 cấp cho hộ ông Đ
vào ngày 21/9/2005.
Căn cứ vào công văn số 949/CNVPĐK-TTLT ngày 07/12/2023 của Chi
nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện C, tỉnh Tiền Giang và Công văn số
2426/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 21/3/2024 của Văn phòng Đăng đất đai tỉnh T
xác định không tìm thấy hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 84. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số H00282 xác định thửa đất số 84 được Ủy ban nhân dân huyện C,
tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Văn Đ vào ngày 21/9/2005 để làm căn cứ
giải quyết vụ án là phù hợp.
Theo N, khi vợ chồng chuyển nhượng đất cho ông B thì phần diện
tích 76,6m² đang tranh chấp nêu trên ông bà vẫn giữ lại không bán. Quá trình sử
dụng đất từ ông B, ông P đến ông Đ thì bà N vẫn là người quản lý, sử dụng phần
đất này. Việc N sử dụng đất phần đất đang tranh chấp này được ông Đ thừa
nhận và người làm chứng xác nhận. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo
quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự nên căn cứ xác định phần diện
tích 76,6m² đang tranh chấp nêu trên là của bà N.
Tại Công văn số 36/UBND-ĐCXD ngày 22/12/2022 của Ủy ban nhân dân
xã L xác định phần đất tranh chấp là bờ dừa có diện tích 68,3m² (theo bản mô tả
ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/4/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai huyện C, diện tích này trước đây do các bên xác định) có nằm trong thửa
đất s84. Nvậy, đủ căn cứ xác định phần đất tranh chấp N người
quản lý, sử dụng nhưng đã được cấp cho ông Đ đại diện hộ gia đình đứng tên.
Đồng thời, tại phiên Tòa phúc thẩm, bị đơn ông Đ đại diện hộ đồng ý giao
phần đất đang tranh chấp cho nguyên đơn N quản sử dụng, N đồng ý
nhận phần đất tranh chấp này để làm lối đi đường thoát nước cho các hộ dân
phía bên trong. Xét thấy các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án, sự thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức hội và phù hợp với các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như đã phân tích ở trên nên Hội đồng xét xử
ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao phần đất diện tích 76,6m² thuộc
một phần thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02 tại ấp L, L, huyện C, tỉnh Tiền
Giang (nay là ấp L, xã C, tỉnh Đồng Tháp) đang tranh chấp cho bà N quản lý, sử
dụng.
Kiến nghị quan nhà nước thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H00282 đối với thửa đất số 84 do Ủy ban nhân dân huyện
C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Văn Đ ngày 21/9/2005, bảo đảm phù hợp
sau khi trừ phần diện tích giao cho N.
Việc nhập thửa phần đất tranh chấp này với thửa đất của con N liền kề
được thực hiện theo quy định tại Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024
Quyết định số 40/2024/QĐ-UBND ngày 07/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T
ban hành quy định điều kiện, diện tích tối thiểu tách thửa đất, hợp thửa đất đối
với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh ĐồngTháp).
8
Do các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên chi
phí đo đạc mỗi bên phải chịu 50%, N đã tạm ứng 3.374.029 đồng nên ông Đ
có nghĩa vụ trả lại cho bà N 1.687.000 đồng.
[3] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Do sửa án thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Sửa Bản án dân sự thẩm s125/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn Nguyễn Thị N bị đơn Văn
Đ.
Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 147, Điều 148, Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 220 của Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Công nhận cho Nguyễn Thị N được quyền sử dụng diện tích đất
76,6m² đang tranh chấp, thuộc một phần thửa đất số 84, tờ bản đồ số 02, có diện
tích 2.113m², tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, xã C,
tỉnh Đồng Tháp), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00282 do Ủy
ban nhân dân huyện C cấp ngày 21 tháng 9 năm 2005 cho hộ ông Lê Văn Đ.
Nguyễn Thị N được đăng khai nhập thửa phần diện tích 76,6m²
đất tranh chấp này theo quy định của Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024
Quyết định số 40/2024/QĐ-UBND ngày 07/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh T
ban hành quy định điều kiện, diện tích tối thiểu tách thửa đất, hợp thửa đất đối
với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh ĐồngTháp).
Kiến nghị quan nhà nước thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H00282 đối với thửa đất số 84 do Ủy ban nhân dân huyện
C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hông Văn Đ ngày 21/9/2005 sau khi trừ phần
diện tích 76,6m² giao cho bà N.
(Có sơ đồ kèm theo)
9
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Văn Đ trả chi phí đo đạc cho bà Nguyễn
Thị N số tiền 1.687.000 đồng (một triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự thẩm: Ông Văn Đ, Mai Thị Kim L, anh
Quốc Đ1, anh Lê Quốc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị N ông Văn Đ không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông Đ 300.000 đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0004460 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Đồng Tháp.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TPT TAND TC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND KV X- Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV X - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Phong
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 466/2026/DS-PT Bản án số 466/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 466/2026/DS-PT Bản án số 466/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất