Bản án số 271/2024/KDTM-PT ngày 27/12/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 271/2024/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 271/2024/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 271/2024/KDTM-PT
Tên Bản án: | Bản án số 271/2024/KDTM-PT ngày 27/12/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về cung ứng dịch vụ |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
Số hiệu: | 271/2024/KDTM-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/12/2024 |
Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
————————
Bản án số: 271/2024/KDTM-PT
Ngày: 27-12-2024
V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Bà Phùng Thị Như Mai
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thiêm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 và 27-12-2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2024/TLPT-KDTM
ngày 08-10-2024 về tranh chấp “hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/KDTM-ST ngày 31-7-2024 của
Toà án nhân dân quận T bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5748/2024/QĐ-PT ngày 30-10-
2024, Quyết định hoãn phiên toà số 17444/2024/QĐ-PT ngày 27-11-2024;
Quyết định tạm ngừng phiên toà số 18536/2024/QĐ-PT ngày 19-12-2024; giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Q; Địa chỉ: P.1901 Saigon T C, số C T,
phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Quỳnh M, sinh năm
1998; địa chỉ: Tầng G, 2 P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là
người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10-5-2024) (có mặt)
Bị đơn: Công ty TNHH T; trụ sở: B N, phường A, quận T, Thành phố Hồ
Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Lê Đình P, sinh năm 1937, Địa
chỉ: 113/4/21 V (số cũ 2 N), Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; là
người đại diện theo pháp luật (có đơn xin vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Lê Thị Thu B; địa chỉ: C, KDC J, phường T, Quận
2
G, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt)
Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-KDTM
ngày 12-8-2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17-3-2023; đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi
kiện đề ngày 23-7-2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như
tại phiên toà sơ thẩm; Nguyên đơn Công ty TNHH Q có bà Trần Thị Quỳnh M
đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH Q (viết tắt là Công ty Q) và Công ty TNHH T do bà Lê
Thị Thu B là đại diện theo ủy quyền (viết tắt là Công ty Đ) đã ký Hợp đồng
Dịch vụ quản lý bất động sản số TVS- ĐT/062021 ngày 01-7-2021 và Phụ lục
1 ngày 01-6-2021, Phụ lục 2 ngày 25-6-2021. Theo đó, Công ty Q cung cấp
dịch vụ Quản lý vận hành Toà nhà chung cư Đ và Công ty Đ sẽ trả phí dịch vụ
Quản lý vận hành hàng tháng là 265.950.000 (hai trăm sáu mươi lăm triệu, chín
trăm năm mươi ngàn) đồng, chưa bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng; hợp đồng
có thời hạn từ ngày 01-7-2021 đến 31-12-2022.
Thực hiện hợp đồng, Công ty Đ thanh toán nhiều lần (12 lần) bằng hình
thức chuyển khoản cho Công ty Q từ ngày 01-6-2021 đến ngày 31-12-2021, với
tổng số tiền là 1.875.070.000 đồng (ngày 31-12-2021 Công ty Đ còn nợ một
phần tiền phí dịch vụ Quản lý vận hành là 172.745.000 đồng). Tuy nhiên từ
ngày 31-12-2021 đến ngày 11-6-2022, Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán phí dịch vụ Quản lý vận hành Toà nhà tại chung cư Đ cho Công ty
Q. Do tháng 06/2022 Công ty Đ đề nghị chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn nên
Công ty Q ngừng cung cấp dịch vụ theo Hợp đồng Dịch vụ quản lý bất động
sản nêu trên nhưng Công ty Đ vẫn chưa thanh toán tiền gốc và lãi phí dịch vụ
từ tháng 12/2021 đến tháng 6/2022. Công ty Q đã nhiều lần gửi cho Công ty Đ
biên bản đối chiếu công nợ và thư yêu cầu xác nhận công nợ cũng như yêu cầu
thanh toán dứt điểm công nợ nói trên, nhưng không nhận được bất kỳ thiện chí
thanh toán nào từ Công ty Đ. Vì vậy, Công ty Q khởi kiện yêu cầu:
Buộc Công ty TNHH T thanh toán nợ gốc và tiền lãi chậm thanh toán tạm
tính từ ngày 31-12-2021 đến ngày 31-7-2024, tổng cộng là 2.100.468.268 đồng.
Trong đó, nợ gốc 1.742.736.500 đồng, nợ lãi 357.728.768 đồng; yêu cầu thanh
toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ông Ngô Triều V (trước đây là đại diện theo
pháp luật của Bị đơn) ngày 03-7-2024 và biên bản lấy lời khai ngày 19-7-2024
tại Trại giam Chí Hoà trình bày:
Công ty TNHH T do bà Lê Thị Thu B và Công ty TNHH Q có ký Hợp
đồng Dịch vụ quản lý bất động sản số TVS- ĐT/062021 ngày 01-7-2021. Tuy
nhiên con dấu đóng trên hợp đồng dịch vụ có phải là con dấu của Công ty Đ
hay không thì ông V không biết. Ông V xác định không ủy quyền cho bất cứ ai

3
thay mặt ông V ký hợp đồng hay điều hành Công ty Đ. Bà Lê Thị Thu B không
có chức vụ gì trong Công ty Đ, ông V biết bà B là do được bạn bè giới thiệu để
chạy lo các thủ tục hồ sơ pháp lý dự án, có thể bỏ tiền ra để lo dự án của Công
ty Đ. Do đó, ông V có nhờ bà B xuống dàn xếp với cư dân để tiếp cư dân chứ
không giao cho bà B bất cứ việc gì trong công ty. Ông V cho rằng con dấu
trong thư mời ngày 07-6-2022 là con dấu thật vì con dấu này sau khi ông V bị
bắt tạm giam ông V để trong nhà nên con trai ông V là Ngô Thanh T lấy đóng
dấu vào thư mời nêu trên, ông V cũng không ủy quyền cho ông Tú thay mặt
ông V điều hành Công ty Đ. Từ năm 2001 đến năm 2019, Công ty Đ đã nhiều
lần thay đổi con dấu. Việc quản lý con dấu của Công ty Đ là trách nhiệm của
người đại diện theo pháp luật. Ông Lê Đình P là thành viện góp vốn của Công
ty Đ trên danh nghĩa, cho đúng thủ tục thực tế ông Phụng không biết và không
tham gia trực tiếp vào hoạt động của Công ty Đ. Nay Nguyên đơn khởi kiện,
ông V cho rằng thời điểm ký hợp đồng dịch vụ nêu trên ông V đã bị bắt tạm
giam nên những nội dung thỏa thuận trong hợp đồng ông V không biết.
Ông Lê Đình P (thành viên góp vốn của bị đơn) vắng mặt nhưng có bản tự
khai ngày 24-5-2024 trình bày: Ông Phụng không liên quan đến việc góp vốn
vào Công ty Đ. Vì lý do sức khỏe, tuổi cao ông Phụng xin vắng mặt tại các
buổi hoà giải, xét xử.
Bà Lê Thị Thu B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên
không có lời khai, ý kiến tại Toà án
Tại phiên toà sơ thẩm, Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện,
cụ thể yêu cầu Bị đơn phải trả tổng số tiền 2.100.468.268 đồng; trong đó nợ
gốc là 1.742.736.500 đồng, nợ lãi là 357.728.768 đồng; yêu cầu trả một lần
ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2023/KDTM-ST ngày 31-7-2024 của
Toà án nhân dân quận T đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn Công ty TNHH Q.
Buộc Công ty TNHH T phải thanh toán cho Công ty TNHH Q tổng số tiền
2.100.468.268 (hai tỷ, một trăm triệu, bốn trăm sáu mươi tám nghìn, hai trăm
sáu mươi tám) đồng. Trong đó tiền nợ gốc là 1.742.736.500 đồng, tiền nợ lãi là
357.728.768 đồng.
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ
quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo,
kháng nghị, quyền thi hành án của đương sự theo luật định.
Sau khi Toà án nhân dân quận T xét xử, ngày 12-8-2024, Viện trưởng
Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình kháng nghị Bản án sơ thẩm số
184/2024/KDTM-ST ngày 31-7-2024 của Toà án nhân dân quận T, đề nghị cấp
phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

4
Tại phiên toà phúc thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không chấp nhận kháng nghị
của Viện Kiểm sát. Đề nghị cấp phúc thẩm y án sơ thẩm.
Bị đơn vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư
ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định
của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng nghị:
- Vi phạm về việc xác định tư cách tham gia tố tụng:
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Công ty TNHH T có 2
thành viên góp vốn là: Ông Ngô Triều V, tỷ lệ 99,990%, giá trị phần vốn góp là
499.950.000.000 đồng và ông Lê Đình P, tỷ lệ 0,01%, giá trị phần vốn góp là
50.000.000 đồng. Người đại diện theo pháp luật công ty là ông Ngô Triều V.
Căn cứ Lệnh bắt bị can để tạm giam số 909-04 ngày 02-11-2021 và Công
số 3310/PC03-Đ2 ngày 30-10-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, ông Ngô
Triều V- Nguyên Giám đốc Công ty Đ bị khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C.
Căn cứ khoản 6 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Đối với
công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân
làm người đại diện theo pháp luật của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù,… thì thành
viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho
đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp
luật của công ty”.
Do đó, Công ty Đ tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn thì đại diện theo
pháp luật của Công ty đương nhiên là ông Lê Đình P. Toà án cấp sơ thẩm xác
định người đại diện theo pháp luật ông Ngô Triều V là chưa phù hợp với quy
định của pháp luật.
Ông Ngô Triều V, có liên quan đến vụ án trong việc ủy quyền cho bà Lê
Thị Thu B để ký hợp đồng dịch vụ với Công ty TNHH Q. Cấp sơ thẩm không
đưa ông V vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan để làm rõ việc ủy quyền ký kết hợp đồng dịch vụ là vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng, theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Công ty Q cho rằng bà Lê Thị Thu B đại diện theo ủy quyền Công ty Đ ký
kết hợp đồng dịch vụ với Công ty Q. Tuy nhiên, ông Ngô Triều xác nhận không
ủy quyền cho bà Lê Thị Thu B thực hiện việc ký kết này. Đồng thời Công ty Q
không cung cấp bản chính giấy ủy quyền cũng như bản chính văn bản hủy bỏ

5
giấy ủy quyền nên chưa có cơ sở xác định bà Lê Thị Thu B có thẩm quyền ký
kết hợp đồng dịch vụ với Công ty Taisei.
Ngoài ra, ông Ngô Triều V là đại diện theo pháp luật của Công ty Đ tại
thời điểm Hợp đồng dịch vụ quản lý bất động sản số TSV-ĐT/06/2021 ngày
01-7-2021 được ký kết. Ông Ngô Triều V là người giữ và sử dụng con dấu của
Công ty Đ. Tại các bản khai, ông Ngô Triều V đã xác định con dấu đóng trong
hợp đồng không phải là con dấu của Công ty Đ. Do đó, để việc giải quyết vụ án
được đảm bảo thủ tục tố tụng cần làm rõ dấu mộc của Công ty Đ trên hợp đồng
dịch vụ quản lý bất động sản số TSV-ĐT/062021 ngày 01-7-2021 có giá trị
pháp lý hay không.
Từ những nhận định trên, nhận thấy Bản án số 184/2024/KDTM-ST ngày
31-7-2024 của Toà án nhân dân Tân Bình, triệu tập thiếu người tham gia tố tụng
và chưa xác minh đầy đủ chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Do đó, có
cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện |Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện
Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; căn sứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/KDTM-ST ngày 31-7-
2024, chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân quận T giải quyết lại theo thủ tục sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên toà, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không rút
kháng nghị nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp
luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện
Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và Bị đơn ký kết Hợp đồng Dịch vụ
quản lý bất động sản số TVS-ĐT/062021 ngày 01-7-2021 và Phụ lục 1 ngày
01-6-2021, Phụ lục 2 ngày 25-6-2021, theo đó Công ty Q cung cấp dịch vụ
Quản lý vận hành Toà nhà tại chung cư Đ và Công ty Đ sẽ trả phí dịch vụ. Quá
trình thực hiện hợp đồng các bên phát sinh tranh chấp, Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu Bị đơn thanh toán phí dịch vụ còn nợ. Toà án nhân dân quận T xác
định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1
Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự là có căn cứ.
[2] Ngày 31-7-2024, Toà án nhân dân quận T xét xử sơ thẩm; ngày 12-8-
2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình có Quyết định số
05/QĐ-VKS-KDTM kháng nghị phúc thẩm Bản án kinh doanh thương mại sơ
thẩm số 184/2024/KDTM-ST ngày 31-7-2024. Xét thấy, kháng nghị trong thời
hạn luật định và hợp lệ nên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết

6
theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng
dân sự 2015.
[3] Xét nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình
theo Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-KDTM ngày 12-8-2024; Hội đồng
xét xử nhận thấy:
[4] Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm
hữu hạn hai thành viên trở lên, đăng ký thay đổi lần thứ 16, ngày 20-5-2019 có
nộidung: Công ty TNHH T có thành viên góp vốn là: ông Ngô Triều V, tỷ lệ
99,99% giá trị phần vốn góp và là người đại diện theo pháp luật của công ty;
ông Lê Đình P, tỷ lệ 0,01%, giá trị phần vốn góp. Căn cứ Quyết định khởi tố bị
can đối với ông Ngô Triều V; Lệnh bắt bị can để tạm giam số 909-04 ngày 02-
11-2021; khoản 6 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020, ông Lê Đình P đương
nhiên là đại diện theo pháp luật của Bị đơn. Cấp sơ thẩm căn cứ khoản 6 Điều
12 Luật Doanh nghiệp nhận định kể từ thời điểm ông Ngô Triều V bị tạm giam
thì thành viên còn lại là ông Lê Đình P đương nhiên là người đại diện theo
pháp luật của Bị đơn là đúng, tuy nhiên Toà án nhân dân quận T xác định tư
cách tham gia tố tụng trong vụ án đối với ông Ngô Triều V là người đại diện
theo pháp luật của Bị đơn, ông Phụng được xác định là thành viên góp vốn của
Bị đơn là chưa thống nhất, không đúng quy định của pháp luật.
[5] Về xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ: Căn cứ Hợp đồng dịch vụ
quản lý bất động sản số TVS-ĐT/062021 ngày 01-7-2021: Công ty Q (người
đại diện là ông Trương Công Hoài N) và Công ty Đ (người đại diện là bà Lê
Thị Thu B, Giám đốc được ủy quyền từ ông Ngô Triều V, đại diện theo pháp
luật của công ty) có thỏa thuận, ký kết hợp đồng dịch vụ. Theo đó, Công ty Q
cung cấp dịch vụ Quản lý vận hành tòa nhà tại Chung cư Đ và Công ty Đ trả
phí dịch vụ. Căn cứ các Biên bản lấy lời khai ngày 03-7-2024, ngày 19-7-2024,
ông Ngô Triều V xác nhận không ký giấy ủy quyền ngày 01-5-2021 cho bà Lê
Thị Thu B thực hiện việc ký kết hợp đồng với Nguyên đơn; chữ ký trong Giấy
uỷ quyền không phải của ông Ngô Triều V; con dấu đóng trong hợp đồng
không phải là con dấu của Công ty Đ. Nguyên đơn không cung cấp được bản
chính giấy uỷ quyền ngày 01-5-2021 và văn bản huỷ bỏ giấy uỷ quyền nên
chưa có đủ cơ sở xác định bà Lê Thị Thu B có thẩm quyền ký kết hợp đồng
dịch vụ với Nguyên đơn hay không; khoản tiền nợ phí dịch vụ mà Nguyên đơn
yêu cầu chưa được Bị đơn xác nhận; Toà cấp sơ thẩm chưa xác minh, thu thập
đầy đủ tài liệu chứng cứ làm cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
Nguyên đơn là chưa đảm bảo tính khách quan theo quy định tại khoản 3 Điều
48, Điều 93, khoản 2 Điều 97, điểm c khoản 1 Điều 259 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[6] Mặt khác, Toà án cấp sơ thẩm xác định bà Lê Thị Thu B là Người
làm chứng là không đúng, bởi lẽ bà B là người đại diện theo uỷ quyền của Bị
đơn ký hợp đồng dịch vụ với Nguyên đơn, là một bên có trách nhiệm ký phê
duyệt trên các chứng từ ngân hàng liên quan đến tài khoản chung giữa Bị đơn
và Nguyên đơn; trong khi đó ông Ngô Triều V là Người đại diện theo pháp luật

7
trước đây của Bị đơn xác nhận không uỷ quyền cho bà B ký hợp đồng dịch vụ
với Nguyên đơn, do đó cần xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Lê Thị
Thu B, ông Ngô Triều V là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự; kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân
Bình là có căn cứ; do đó cần huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án
cho Toà án nhân dân quận T giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của
đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân
Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313
của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/KDTM-ST ngày 31-7-2024
của Toà án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND quận Tân Bình;
- Cục THADS TP.HCM
- Chi cục THADS quận Tân Bình;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thị Quỳnh Trâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 03/02/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 10/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/01/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/12/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 28/11/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/10/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 25/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 24/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 20/09/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm