Bản án số 267/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 267/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 267/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 267/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 267/2026/DS-PTNgày 15/9/2026“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 267/2026/DS-PT Bản án số 267/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 267/2026/DS-PT Bản án số 267/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 267/2026/DS-PT
Ngày 15/9/2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công và bà Võ Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vỹ, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Kim
Cúc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2026/TLPT-DS ngày 24 tháng 3 năm 2026
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm 18/2026/DS-ST, ngày 04/6/2026 của Toà án nhân
dân khu vực 8 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 326/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1966 và bà Mai Thị T, sinh
năm 1971, cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai. Nay là Thôn
A, xã B, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1974 và bà Trần Thị T1, sinh năm
1977, cùng địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai. Nay là Thôn A, xã
B, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đinh Tuấn A, sinh năm
1992, địa chỉ: Số A đường T, phường D, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Gia Lai; Đại diện theo pháp luật là ông
Nguyễn Quang T2 - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
3.2. Nguyễn Xuân K, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2
3.3. Nguyễn Thị Ái L, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3.4. Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3.5. Nguyễn Thị Ái V1, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3.6. Phan Văn H1, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai. Vắng
mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3.7. Phan Thị Thiên H2, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Gia
Lai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa,
nguyên đơn, vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Mai Thị T thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông, bà có các thửa đất số 13, 13a, tờ bản đồ số QH, diện tích
241,6m
2
tại thôn A, xã T, huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai. Nay là thôn A, xã B, tỉnh
Gia Lai (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AE 077538, do UBND
huyện C (cũ) cấp ngày 25/7/2006).
Nguồn gốc các thửa đất số 13, 13a, tờ bản đồ số QH do ông, bà mua đấu
giá do UBND huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai tổ chức vào năm 2005.
Thửa đất số 13, diện tích 176,7m
2
, chiều ngang dài 8m; thửa đất số 13a,
diện tích 64,9m
2
, chiều ngang dài 8m. Hai thửa cách nhau bởi hành lang an toàn
điện 35Kw.
Giới cận: Phía Đông giáp thửa đất số 14, 14a, Phía Tây giáp thửa đất số 12,
12a, phía Nam giáp đường Q, dài 8m, phía Bắc giáp đường quy hoạch.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Mai Thị T. Sơ đồ thửa đất
trong Giấy chứng nhận phù hợp với sơ đồ thửa đất theo bản đồ quy hoạch khu đất
đấu giá. Khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng ông, bà không
được bàn giao đất tại thực địa.
Năm 2023, ông, bà có nhu cầu xây nhà trên thửa đất mua đấu giá nên đã
liên hệ đến chính quyền xã T đề nghị bàn giao đất. UBND xã T cử Cán bộ địa
chính khi đó là ông Nguyễn Văn Q (hiện nay công tác tại xã I, tỉnh Gia Lai) đến
thực địa để cắm mốc, giao đất cho ông, bà.
Khi đó đạc giao, xác định vị trí các thửa đất số 13, 13a, Cán bộ địa chính
tiến hành đo từ thửa đất số 1, 1a đến thửa đất số 12, 12a để xác định các thửa đất
13, 13a và đo theo hướng ngược lại từ thửa 22, 22a đến thửa 14, 14a để xác định
các thửa đất số 13, 13a để giao cho ông, bà. Kết quả xác định, phần diện tích thửa
đất số 13, 13a của ông, bà, phía Nam giáp đường dài hơn so với giấy chứng nhận;
3
phía bắc ngắn hơn so với giấy chứng nhận (thiếu khoảng 5m). Hội đồng đo đạc
xác định, phần diện tích thiếu của thửa đất số 13, 13a của vợ chồng ông, bà hiện
do vợ chồng ông Phan Văn H, bà Trần Thị T1 (chủ sử dụng các thửa đất số 12,
12a) sử dụng.
Trong đơn khởi kiện, ông V, bà T yêu cầu ông H, bà T1 trả lại diện tích đất
đã sử dụng lấn chiếm các thửa đất số 13, 13a của vợ chồng ông, bà là 93,6m
2
. Căn
cứ biên bản, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2026, ông V, bà T yêu cầu trả
lại diện tích đất là 75,29m
2
.
* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn vợ chồng ông
Phan Văn H, bà Trần Thị T1 thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông, bà có các thửa đất số 12, 12a, tờ bản đồ số QH, diện tích
237,2m
2
tại thôn A, xã T, huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai. Nay là thôn A, xã B, tỉnh
Gia Lai (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AE 180976, do UBND
huyện C (cũ) cấp ngày 25/7/2006).
Nguồn gốc thửa đất các thửa đất số 12, 12a, tờ bản đồ số QH, do ông, bà
mua đấu giá do UBND huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai tổ chức vào năm 2005.
Thửa đất số 12, diện tích 176,8m
2
, chiều ngang dài 8m; thửa đất số 12a,
diện tích 60,4m
2
, chiều ngang dài 8m. Hai thửa cách nhau bởi hành lang an toàn
điện 35Kw.
Giới cận: Phía Đông giáp thửa đất số 13, 13a, phía Tây giáp thửa đất số 11,
11a, phía Nam giáp đường Q, dài 8m, phía Bắc giáp đường quy hoạch.
Khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông, bà không được bàn giao
đất tại thực địa.
Năm 2012, ông, bà có nhu cầu xây nhà trên thửa đất trúng đấu giá nên đã
liên hệ đến chính quyền xã T đề nghị bàn giao đất trúng đấu giá. UBND xã T cử
Cán bộ địa chính khi đó là ông B (không nhớ họ tên đầy đủ) đến thực địa để cắm
mốc, giao đất. Tại thời điểm cắm mốc, thì các thửa đất liền kề thửa đất số 12, 12a,
thuộc khu đất quy hoạch đấu giá chưa được bàn giao, chưa ai xây dựng nhà ở.
Gần đó có thửa đất số 5, 5a của ông Trương Văn Đ đã được bàn giao, ông Đ đã
xây nhà trên đất đấu giá từ năm 2010. Ông B căn cứ vào sơ đồ quy hoạch, lấy mốc
đo từ hướng tây sang hướng đông, đo từ thửa đất số 5, 5a, lần lượt đến thửa đất
số 6, 6a; 7,7a; 8, 8a; 9, 9a; 10, 1a; 11, 11a; đến thửa đất của ông, bà là 12, 12a.
Ông B tiến hành cắm mốc tại thực địa, kích thước chiều rộng là 8m đúng như sơ
đồ đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bàn giao cho ông, bà.
Sau khi được cán bộ địa chính xã cắm mốc, vợ chồng ông, bà tiến hành xây
nhà cấp 4 và ở tại căn nhà này cho đến nay.
Trong quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông, bà sử dụng đất ổn định.
Ông, bà không có lấn chiếm đất của vợ chồng ông V, bà T nên không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông V, bà T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
4
Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Gia Lai không cử địa diện tham gia tố tụng. Do
đó, hồ sơ không có ý kiến của Ủy ban nhân dân xã B.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS-ST, ngày 04/6/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 8 – Gia Lai đã quyết định:
Áp dụng các Điều 26, 35, 144, 147, 157, 158, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 158, 163, 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Các Điều 26,
31, 37, 235, 236 của Luật Đất đai năm 2024; các Điều 26, 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên
xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V và
bà Mai Thị T về việc yêu cầu ông Phan Văn H, bà Trần Thị T1 trả 75,29m
2
đất
tại thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai.
Có sơ đồ kèm theo.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.500.000 đồng; chi phí định giá tài sản là 3.500.000
đồng. Ông V, bà T đã nộp đủ.
3. Về án phí: Buộc Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T chịu 300.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước. Được khấu trừ vào 300.000 đồng
tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0007300 ngày
11/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Prông (cũ), tỉnh Gia Lai.
Ông V, bà T đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm theo quy
định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15
ngày, kể từ ngày tuyên án, của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ
ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về kháng cáo
Ngày 17/6/2026, nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T có kháng
cáo toàn bộ bản án số 18/2026/DS-ST, ngày 04/6/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 8 – Gia Lai đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Nguyên đơn.
Bị đơn không kháng cáo.
5
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
- Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến trình bày, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo,
yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên ý kiến trình bày,
không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị đo đạc lại toàn bộ các thửa đất để xác
định có việc lấn chiếm đất hay không, tiến hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ
tại cơ quan có thẩm quyền; đề nghị hủy bản án sơ thẩm, và chuyển hồ sơ vụ án
cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T đảm
bảo thời hạn kháng cáo, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại
các điều 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự
phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T thấy rằng: Các
yêu cầu kháng cáo của ông thể hiện UBND huyện C (cũ) nay là UBND xã B, tỉnh
Gia Lai phải chịu trách nhiệm trong việc đo đạc và cấp GCNQSDĐ, nếu Ủy ban
nhân dân xã phân lô sai thì phải chịu cấp đất lại lô khác với sự thỏa thuận của
đương sự, “phía ông H và bà T1 xây nhà lệch hướng thì phải chịu trách nhiệm
đính chính lại”.
6
[2.1] Xét thấy, về nguồn gốc của quyền sử dụng đất đang có tranh chấp:
Các bên đều xuất phát từ việc mua, đấu giá được quyền sử dụng đất theo kết quả
trúng đấu giá.
- Biên bản bán đấu giá tài sản ngày 29/7/2026 thể hiện: Thửa đất số 13, 13a,
tờ bản đồ số QH, diện tích 241,6m
2
được bà Mai Thị T trả giá cao nhất là
32.000.000 đồng. Bà T là người trúng đấu giá. Bà T đã nộp đủ tiền vào ngày
10/8/2005.
Biên bản bán đấu giá tài sản ngày 29/7/2026 thể hiện: Thửa đất số 12, 12a,
tờ bản đồ số QH, diện tích 237,2m
2
được ông Phan Văn H trả giá cao nhất là
24.350.000.000 đồng. Ông H là người trúng đấu giá. Ông H đã nộp đủ tiền vào
ngày 15/8/2005.
Bà T, ông H được UBND huyện C (cũ) giao đất xây dựng nhà ở lần lượt
theo Quyết định số 840/QĐ-UBND và số 821/QĐ-UBND cùng ngày 25/7/2006.
Việc bán đấu giá được UBND huyện C thực hiện theo quy định pháp luật.
Sau khi trúng đấu giá, các bên đã được UBND huyện C cấp giấy CNQSDĐ.
Sau khi có quyết định giao đất, bà T và ông H đã được UBND huyện C (cũ)
giấy CNQSDĐ. Bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE
077538, cấp ngày 25/7/2006. Ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AE 180976, cấp ngày 25/7/2006.
Như vậy xác định về nguồn gốc hình thành và giá trị pháp lý của các giấy
CNQSDĐ mà các bên đương sự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đều
là hợp pháp.
[2.2] Về quá trình sử dụng:
Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Không có biên bản bàn giao các thửa đất
số 13, 13a cho bà T và bàn giao các thửa đất số 12, 12a cho ông H sau khi có kết
quả đấu giá và quyết định giao đất.
Các bên đương sự cũng đều thừa nhận họ không được nhận đất trên thực
địa sau khi có quyết định giao đất nên không xác định được mốc giới trên thực tế.
Việc sử dụng đất của các bên chỉ xảy ra khi có nhu cầu xây dựng nhà ở và
được thực hiện xác định theo phương pháp kế tiếp đối với các chủ sở hữu liền kề
(đã xây nhà trước đó).
- Năm 2012, ông Phan Văn H xây nhà. Khi đó, cán bộ địa chính tên B đo
từ các thửa đất số 5, 5a, 6, 6a cho đến thửa đất của vợ chồng ông H, bà T1, để xác
định vị trí, kích thước thửa đất của vợ chồng ông H, bà T1.
Việc xây nhà và xác định vị trí đất theo trình bày của ông H được ông
Trương Văn Đ (Người có thửa đất số 5, 5a và một phần thửa đất số 6, 6a, tờ bản
đồ số QH) xác nhận.
Ông H xây dựng nhà phù hợp với diện tích được giao.
7
- Theo lời khai của ông V, vào năm 2023 vợ chồng liên hệ đến chính quyền
xã T đề nghị bàn giao các thửa đất số 13, 13a. Cán bộ địa chính xã T khi đó là ông
Nguyễn Văn Q đến thực địa để cắm mốc xác định vị trí, mốc giới các thửa đất số
13, 13a cho vợ chồng ông. Cán bộ địa chính tiến hành đo từ thửa đất số 1, 1a đến
thửa đất số 12, 12a để xác định các thửa đất 13, 13a và đo theo hướng ngược lại
từ thửa 22, 22a đến thửa 14, 14a để xác định các thửa đất số 13, 13a. Kết quả xác
định, phần diện tích các thửa đất số 13, 13a của vợ chồng ông, cạnh phía Nam
giáp đường dài hơn so với Giấy chứng nhận; cạnh phía Bắc ngắn hơn so với giấy
chứng nhận.
Hội đồng đo đạc xác định, phần diện tích thiếu của thửa đất số 13, 13a của
vợ chồng ông hiện do vợ chồng ông Phan Văn H, bà Trần Thị T1 sử dụng.
Như vậy, việc nhận đất trên thực địa được ông V yêu cầu là sau 10 năm khi
bị đơn đã nhận đất và xây dựng nhà ở ổn định.
Hiện tại, tại khu vực đất đấu giá đã xây dựng nhiều nhà ở và công trình xây
dựng kiên cố.
Ông V cho rằng Hội đồng đo đạc xác định, phần diện tích thiếu của thửa
đất số 13, 13a của vợ chồng ông hiện do vợ chồng ông Phan Văn H, bà Trần Thị
T1 sử dụng tuy nhiên Nguyễn Văn Q chỉ khai việc đo đạc là để phục vụ cho công
tác hòa giải, còn ông Trần Ngọc H3 - Cán bộ địa chính xã B trình bày: Vào năm
2017, ông V có nhờ ông xác định 03 thửa đất liền kề của ông V. Căn cứ vào sơ
đồng đất quy hoạch đấu giá tại thôn A, xã T, ông xác định tương đối vị trí các
thửa đất này cho ông V. UBND xã T không có phân công ông xác định vị trí đất
cho ông V tại thực địa để ông V xây dựng công trình trên đất.
Từ các nhận định nêu trên, thấy rằng việc ông V cho rằng vợ chồng ông H,
bà T1 đã có hành vi lấn chiếm 75,29m
2
đất tại thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai của ông
là không có căn cứ.
Vấn đề có liên quan đến quyền sử dụng đất của ông V, thấy rằng:
Ông V, bà T mua đấu giá của UBND huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai các thửa
đất số 13, 13a với giá 32.000.000 đồng. Các thửa đất số 13, 13a, tờ bản đồ số QH,
diện tích 241,6m
2
, trích lục thửa đất cạnh phía Nam giáp Quốc lộ A dài, 8m, cạnh
phía Bắc dài 8m. Tuy nhiên, hiện trạng cạnh phía Bắc của thửa đất chỉ dài 3,3m.
Như vậy, bên bán đấu giá đất là UBND huyện C (cũ), tỉnh Gia Lai đã vi phạm
thoả thuận hợp đồng bán đấu giá, không bàn giao cho khánh hàng (là bà Mai Thị
T) thửa đất mua đấu giá đúng, đủ diện tích, kích thước như thoả thuận bán đấu
giá.
Trong vụ kiện này, ông V xác định người bị kiện ông H bà T1 có hành vi
lấn chiếm; không khởi kiện hoặc có yêu cầu đối với là UBND xã B, tỉnh Gia Lai
về việc không bàn giao đúng, đủ quyền sử dụng đất theo kết quả bán đấu giá và
quyết định giao đất nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét, giải quyết là có
căn cứ.
8
Ông V, bà T có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện UBND huyện C (cũ) nay
là UBND xã B, tỉnh Gia Lai để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên
đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 26, 35, 144, 147, 157, 158, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 158, 163, 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Các Điều 26,
31, 37, 235, 236 của Luật Đất đai năm 2024; các Điều 26, 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên
xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
V và bà Mai Thị T.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm 18/2026/DS-ST, ngày 04/6/2026 của
Toà án nhân dân khu vực 8 – Gia Lai, giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà
Mai Thị T và bị đơn ông Phan Văn H, bà Trần Thị T1, về việc “Tranh chấp quyền
sử dụng đất”.
Tuyên xử:
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V và
bà Mai Thị T về việc yêu cầu ông Phan Văn H, bà Trần Thị T1 trả lại phần đất có
diện tích 75,29m
2
đất tại thôn A, xã B, tỉnh Gia Lai.
(Có sơ đồ kèm theo)
4. Về chi phí tố tụng: Buộc Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T chịu chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng và chi phí
định giá tài sản là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng. Ông V, bà T đã nộp
đủ.
5. Về án phí:
5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước. Được khấu trừ vào 300.000
(ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0007300 ngày 11/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư
9
Prông, tỉnh Gia Lai (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Gia Lai). Ông
V, bà T đã nộp đủ tiền án phí.
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Văn V và bà Mai Thị T chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí
dân sự phúc thẩm để sung ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000264 ngày 07/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Gia Lai. Ông V, bà T đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và 36 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 8 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 8 – Gia Lai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 267/2026/DS-PT Bản án số 267/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 267/2026/DS-PT Bản án số 267/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất