Bản án số 25/2026/HS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 25/2026/HS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 25/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 25/2026/HS-PT Bản án số 25/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2026/HS-PT Bản án số 25/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 25/2026/HSCTN-PT
Ngày 22/9/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thu.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà
Ông Trần Văn Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ
Thị Lệ Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2026/TLPT-HS-CTN
ngày 04 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Trần Hữu N do có kháng cáo của bị cáo
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2026/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Hữu N, sinh ngày 30/4/2006 tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Tổ dân phố T,
phường H, tỉnh Gia Lai; số Căn cước công dân: ************; nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ học vấn: 12/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn
Thị M, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân: Ngày 14/8/2021, bị Công an thị xã H, tỉnh Bình Định (trước
đây) xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo đang
tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, còn có 08 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo,
kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/9/2024, Huỳnh Duy Q (sinh ngày
2
30/5/2009, trú ở tổ dân phố C, phường H, tỉnh Gia Lai) gọi điện rủ Phạm Phan Anh
P, Nguyễn Sinh T1, Nguyễn Văn L tìm Trần Hữu N và Trương Ja P1 để giải quyết
mâu thuẫn trước đó.Trong thời gian này, Trần Hữu N, La Duy T2 (sinh năm 1992),
Võ Duy L1 (sinh năm 1991), Trần Thanh R (sinh năm 1994) cùng trú ở tổ dân phố
C, phường H, tỉnh Gia Lai đang nhậu tại quán “Sông L" thuộc tổ dân phố T,
phường H, tỉnh Gia Lai rồi cùng nhau đi đến cơ sở karaoke “IDOL” thuộc tổ dân
phố T, phường H, tỉnh Gia Lai.
Sau khi gọi điện cho cả nhóm, Q điều khiển xe mô tô chở P đến khu vực
“Cầu D" thuộc tổ dân phố C , phường H, tỉnh Gia Lai thì gặp L, T1 và Nguyễn
Dũy Â. Lúc này, Q rủ Â cùng tham gia thì Â đồng ý. Sau đó, Q, P, L, T1, Â về
phòng trọ của L ở tổ dân phố L, phường H, tỉnh Gia Lai để lấy hung khí đi đánh N.
P điều khiển xe mô tô biển số 77C1-339.34 chở L cầm 01 phảng phát bờ, Â điều
khiển xe mô tô biển số 77C1-147.04 chở Q, T1 ngồi sau cầm 01 dao tự chế và 01
bình xịt hơi cay đến cơ sở karaoke “IDOL”. Khi đến, L gọi N ra và dùng tay đánh
vào mặt N rồi bỏ đi.
Sau khi bị đánh, N gọi điện cho Trương Ja P1 thông báo sự việc. Pân mở loa
ngoài điện thoại và nói cho Nguyễn Chí T3, Phạm Tiến P2, Nguyễn Quốc C, Đỗ
Gia H (sinh năm 2001, trú ở tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gia Lai) đang cùng chơi
game biết việc N bị đánh. Sau đó, C lấy 02 dao tự chế tại nhà Pân rồi T3 điều
khiển xe mô tô biển số 77C1-701.08 chở P2 và C cầm theo hung khí đến quán
“Sông L2” tìm N. Lúc này, P1 gọi điện cho Lê Nhất H1 thông báo về việc N bị
đánh rồi điều khiển xe mô tô biển số 77C1-906.69 chở Gia H đến cơ sở karaoke
“IDOL”.
Khi đi đến đoạn đường V thuộc tổ dân phố C, phường H, tỉnh Gia Lai, L nói
quay lại cơ sở karaoke “IDOL” để tiếp tục đánh nhau thì cả nhóm đống ý. Đến nơi,
L thấy P1, N, Gia H đứng trước quán nên L cầm phảng phát bờ chạy đến chém 01
cái vào cổ tay P1; P1, N, Gia H bỏ chạy. Lạnh và T1 cầm hung khí cùng Q, P, Â
xông vào cơ sở karaoke “IDOL” la hét, rượt đuổi nhóm P1. L tiếp tục dùng phảng
phát bờ chém P1, P1 dùng tay giữ lại phảng phát bờ, giằng co với L. Trân xông
đến cầm dao tự chế chém vào tay phải, chân phải và vùng lưng của P1, còn  nhặt
01 khúc cây gỗ tròn đánh vào lưng P1. Pân chạy vào phòng số 2 cơ sở karaoke
“IDOL” rồi gọi điện cho Đỗ Thành S (sinh năm 1999, trú ở tổ dân phố P, phường
H, tỉnh Gia Lai) đến chở đi cấp cứu. Sau đó, Q đưa dao tự chế và phảng phát bờ
cho chủ cơ sở karaoke “IDOL” là Đặng Thị Thanh H2 (sinh năm 1990, trú ở tổ dân
phố T, phường H, tỉnh Gia Lai) cất giấu dưới chân cầu thang.
Trong thời gian này, T3, P2, C đến quán “Sông Lại” nhưng không thấy N
nên đi đến cơ sở karaoke “IDOL” và Nhất H1 điều khiển xe mô tô biển số 77AB-
113.80 cũng vừa đến. Tại đây, Nhất H1 và T3 lấy dao tự chế do C mang đến, cùng
P2, C xông vào chém Q. Bà H2 và Võ Duy L1 đến can ngăn nên Q bỏ chạy vào
nhà kho cơ sở karaoke “IDOL” và gọi điện cho Lê Trung N1 (sinh năm 1990, trú ở
tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gia Lai) đến chở về. Sau đó, Nhất H1,T3, P2, C đi ra
khu vực cổng thì gặp N nên cả nhóm thống nhất quay lại đánh Q và tìm P1. N, C
cầm dao tự chế cùng T3, P2, Nhất H1 xông vào quầy tính tiền và nhà kho cơ sở
3
karaoke “IDOL” la hét, truy tìm đánh Q nhưng được H2, L1 và Nguyễn Tuấn V
(sinh năm 1988, trú ở tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gia lai) can ngăn, L1 giật dao
tự chế của N. Lúc này, Đỗ Thành S, Lê Trung N1, Phan Đình C1 (sinh năm 1996,
trú ở tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gia Lai) đã đến cơ sở karaoke “IDOL” tìm Q
nên L1 đưa dao tự chế cho C1 và N1 giữ rồi vứt tại khu vực động cát thuộc tổ dân
phố C, phường H, tỉnh Gia Lai. Sau đó, P2, N, Nhất H1, T3 lấy xe ra về, riêng C đã
rời khỏi cơ sở karaoke “IDOL” trước đó.
Sau khi L, T1, Â, P về lại nhà trọ của L thì không thấy Q nên P điều khiển
xe mô tô biển số 77C1-339.34 chở L cầm theo 01 phảng phát bờ quay lại cơ sở
karaoke “IDOL”. Trên đường đi, P thấy P2 điều khiển xe mô tô biển số 77C1-
701.08 chở N chạy cùng chiều phía trước nên đuổi theo. Khi hai xe chạy song
song, L ngồi sau cầm phảng phát bờ chém 01 cái trúng lưng N, làm P2 và N ngã
xuống lề đường cùng xe mô tô. Sau đó, cả hai về nhà trọ của Lạnh cất giấu hung
khí.
Hậu quả: Trương Ja P1 bị 01 vết thương ở cẳng chân phải, 04 vết thương ở
tay phải, 01 vết thương ở đùi trái, 01 vết thương ở lưng; Trần Hữu N bị 01 vết
thương ở lưng; Phạm Tiến P2 bị 06 vết thương trầy xước ở tay và chân, có đơn từ
chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và không yêu cầu xử lý hình sự; xe mô tô
biển số 77C1-701.08 bị hư hỏng.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
239/KLTTCT-PYBĐ ngày 13/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B (nay là tỉnh
Gia Lai): tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Ja P1 là 16%.
Theo Kết luận giám địnhtổn thương cơ thể trên người sống số
253/KLTTCT-PYBĐ ngày 26/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B (nay là tỉnh
Gia Lai): tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Hữu Nghĩa là 03%.
Theo Kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/6/2025 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia
Lai): Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 77C1-701.08 là 370.000 đồng.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát
điều tra đã tạm giữ 03 dao tự chế, 02 phảng phát bờ, 03 xe mô tô biển số 77C1-
906.69, 77C1-701.08, 77C1-339.34 và 01 video clip (đặc điểm như mô tả trong
biên bản tạm giữ có tại hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn L và Phạm Phan Anh P đã bồi thường
cho Trương Ja P1 số tiền 370.000 đồng để sửa chữa xe mô tô biển số 77C1-701.08;
bồi thường cho Trần Hữu N số tiền 1.550.000 đồng.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2026/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều
58 của Bộ luật Hình sự.
4
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công
cộng”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên hình phạt của các bị cáo khác, về trách nhiệm
dân sự; về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.
3. Nội dung kháng cáo
Ngày 27/7/2026, bị cáo Trần Hữu N kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt
và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt.
4. Tranh luận tại phiên toà
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ
án: Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357 BLTTHS đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm nhẹ
hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo; Sửa bản án sơ thẩm số
71/2026/HSST ngày 15/7/2026 của TAND khu vực 6 - Gia Lai theo hướng: Áp
dụng thêm cho bị cáo Trần Hữu N khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt 02
(hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù (giảm 06 tháng đến 09
tháng tù).
- Bị cáo Trần Hữu N thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội,
không oan sai và xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo
L3 khai của bị cáo Trần Hữu N tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai
của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài
liệu có tại hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định:
Tối ngày 23/9/2024, trên địa bàn phường H, tỉnh Gia Lai, nhóm của Huỳnh
Duy Q gồm Q, Nguyễn Văn L, Phạm Phan Anh P, Nguyễn Sinh T1, Nguyễn Dũy
 và nhóm của Trần Hữu N gồm N, Trương Ja P1, Lê Nhất H1, Nguyễn Chí T3,
Phạm Tiến P2, Nguyễn Quốc C đã có hành vi tụ tập, chuẩn bị hung khí đánh nhau,
la hét lớn tiếng gây huyên náo khu dân cư, làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt
bình thường, gây bất bình, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Trong quá
trình gây rối trật tự công cộng, nhóm của Huỳnh Duy Q đã sử dụng hung khí nguy
hiểm đánh gây thương tích cho Trương Ja P1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%,
Trần Hữu Nghĩa là 03%.
5
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Gây rối
trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng tội.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt của bị cáo Trần Hữu N, Hội
đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Nguyên nhân xảy ra sự việc xuất phát từ việc bị cáo N bị Nguyễn Văn
L đánh, sau đó bị cáo gọi điện cho P1 thông báo sự việc, P1 mở loa ngoài điện
thoại và nói cho Nguyễn Chí T3, Phạm Tiến P2, Nguyễn Quốc C, Đỗ Gia H đang
cùng chơi game biết việc N bị đánh. Sau khi nghe N bị đánh C đã chuẩn bị 02 dao
tự chế, cùng với P2 và T3 đi tìm N, khi đi đến cơ sở karaoke “IDOL” thì C, P2 và
T3 dùng dao tự chế xong vào chém Q, sau khi bị ngăn cản, T3, P2, C đi ra khu vực
cổng thì gặp N nên cả nhóm lại thống nhất quay lại đánh Q và tìm P1, tại đây N, C
cầm dao tự chế cùng T3, P2, Nhất H1 xông vào quầy tính tiền và nhà kho cơ sở
karaoke “IDOL” la hét, truy tìm đánh Q nhưng bị can ngăn nên cả nhóm ra về.
Như vậy, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Chí T3, Phạm Tiến P2 và
Nguyễn Quốc C đều giữ vai trò là người thực hành tích cực, đối với Trần Hữu N
và Trương Ja P1 là người thực hành nhưng đều có vai trò không đáng kể trong vụ
án. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Xét tính chất hành vi, vai trò và nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Bị
cáo N phạm tội với tính chất bộc phát do bị tấn công, khiêu khích trước bởi vì
nhóm Huỳnh Duy Q, Nguyễn Văn L là bên chủ động tìm đến gây sự trước; L tát
vào mặt N vô cớ, sau đó còn dùng phảng phát bờ chém trúng lưng N gây tổn
thương cơ thể 03% nên vừa là bị cáo nhưng vừa là bị hại.
Và tại cấp phúc thẩm, bị cáo N cung cấp Đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia
đình khó khăn có xác nhận của Tổ trưởng Tổ dân phố T và UBND phường H Đông
ngày 18/9/2026: Gia đình thuộc diện có hoàn cảnh khó khăn, trước đây là hộ
nghèo, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập bấp bênh; bố mẹ đều đau ốm, bệnh tật
triền miên không thể lao động nặng và đang gánh khoản nợ ngân hàng
550.000.000 đồng để lo nhà cửa, trang trải sinh hoạt. Bị cáo Trần Hữu Nghĩa L4
nguồn lao động hỗ trợ kinh tế chính của gia đình trong hoàn cảnh cả cha lẫn mẹ
mất sức lao động. Bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được
Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 71/2026/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai về phần hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu N 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Gây rối
trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi
chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí HSPT: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự,
khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Hữu N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Phòng HSNV - CA tỉnh Gia Lai;
- THADS tỉnh Gia Lai;
- VKSND khu vực 6 – Gia Lai;
- TAND khu vực 6 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 6 – Gia Lai;
- Các bị cáo;
- Lưu VT, THS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
Võ Thị Hồng Thu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 25/2026/HS-PT Bản án số 25/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2026/HS-PT Bản án số 25/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất