Bản án số 290/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 290/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 290/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 290/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 290/2026/DS-PTNgày 23/9/2026V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 290/2026/DS-PT Bản án số 290/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 290/2026/DS-PT Bản án số 290/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 290/2026/DS-PT
Ngày 23/9/2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công và bà Cao Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly –
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 17 và 23 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia
Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng
3 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 160/2026/QĐ-PT ngày
16 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ H, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Mộng N, sinh
năm 1986, địa chỉ: Tổ C, phường A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H1,
sinh năm 1955, địa chỉ: Tổ I, phường A, tỉnh Gia Lai. Có mặt khi xét xử, vắng
mặt khi tuyên án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Thế N1,
là Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G, địa chỉ: C N, phường
H, tỉnh Gia Lai. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Thu H3,
sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn T, xã S, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lương Ngọc
P, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ B, phường A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
Ông Trần Duy H4, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963,
địa chỉ: Thôn T, xã S, tỉnh Gia Lai. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Ông Đinh Văn B, sinh năm 1974 và bà Đinh Thị H5 (Q), sinh năm 1963,
địa chỉ: Làng H, xã S, tỉnh Gia Lai. Ông B có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên
án; bà H5 vắng mặt.
Ông Nguyễn Đức V1, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Gia Lai
Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Vũ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Trần Duy H4, bà Nguyễn Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn ông Vũ H và bà Nguyễn Thị Mộng N trình bày
Năm 2019, vợ chồng ông Vũ H và bà Nguyễn Thị Mộng N nhận chuyển
nhượng của vợ chồng ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V thửa đất có diện
tích 360m
2
(200m
2
đất ở nông thôn, 160m
2
đất trồng cây lâu năm) tại thôn H, xã
S, tỉnh Gia Lai; đất đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện K, tỉnh Gia Lai cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất (GCNQSDĐ) số BT 222158 ngày 02/6/2014 và CP 983372 ngày
18/2/2019, giá chuyển nhượng là 350.000.000 đồng. Nguồn gốc của diện tích đất
trên là của ông H4, bà V nhận chuyển nhượng lại của vợ chồng ông Đinh Văn B
và bà Đinh Thị H5 bằng giấy viết tay từ năm 2012, ranh giới thửa đất được ông
H4, bà V và ông B, bà H5 xác định từ đầu là lấy trụ điện làm chuẩn, kéo qua phía
Đông hiện giáp đất bà H3 theo mặt đường T là 12m. Tứ cận thửa đất vợ chồng
ông H đã nhận chuyển nhượng là:
- Phía Đông giáp đất bà H3, ông H2 dài 30m.
- Phía Tây giáp đất ông B dài 30m.
- Phía Nam giáp suối rộng 12m.
- Phía Bắc giáp đường T rộng 12m.
Việc chuyển nhượng đất giữa hai bên đã hoàn thành và được Văn phòng
Đ1 (ĐKĐĐ) chi nhánh huyện K, tỉnh Gia Lai ghi nội dung chuyển nhượng tại
trang 3 của Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, đất vợ chồng ông H đã nhận chuyển
nhượng nói trên giáp ranh phía Đông với đất của bà H3 và ông H2, bà H3 và ông
H2 cũng đã được cấp GCNQSDĐ số BP 204110 ngày 11/9/2013 nhưng chưa
được trích đo bản đồ địa chính nên chưa có số thửa, số tờ bản đồ; bà H3 và ông
H2 cho rằng đất của ông bà hiện bị thiếu nên đã cắm trụ hàng rào bê tông lấn
sang đất của vợ chồng ông H đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ kết luận
là 113,20m
2
đất (75,90m
2
đất ở và 37,30m
2
đất trồng cây lâu năm), phần lấn
chiếm này có vị trí tứ cận:
3
- Phía Đông giáp đất ông H2, bà H3 dài 30m;
- Phía Tây giáp đất ông H, bà N dài 30m;
- Phía Nam giáp khe cạn dài 3,77m;
- Phía Bắc giáp đường T dài 3,78m.
Trước hành vi lấn chiếm đất của bà H3 và ông H2, vợ chồng ông H đã làm
đơn đề nghị UBND xã S, tỉnh Gia Lai hoà giải nhưng không thành. Vì vậy, vợ
chồng ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông H2 phải trả
lại vợ chồng ông H diện tích đất đã lấn chiếm là 113,20m
2
đất như đã mô tả ở
trên vì: Ông H và bà N đã nhận chuyển nhượng đất của ông H4 và bà V một cách
hợp pháp, đất của vợ chồng ông H đã có đất thổ cư và đã được trích đo bản đồ
địa chính nên đã có số thửa và số tờ bản đồ, trong khi đất ông H2 và bà H3 chỉ
là đất vườn, chưa có số thửa và số tờ bản đồ địa chính.
Nguyên đơn không có yêu cầu gì với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là ông H4 và bà V.
Tại phiên tòa ngày 18/11/2025, nguyên đơn và người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện
như nói ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tạm ngừng phiên tòa để thương
lượng thỏa thuận với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh
Nguyễn Đức V1.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là bị đơn phải trả lại nguyên đơn
diện tích đất đã lấn chiếm là 113,20m
2
.
1.2. Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu H3 trình bày
Năm 2012, vợ chồng ông bà cùng vợ chồng ông Trần Duy H4 và bà
Nguyễn Thị V thỏa thuận mua chung thửa đất có chiều rộng giáp đường Đông
Trường Sơn là 40m, chiều dài là 30m của cha mẹ ông Đinh Văn B và bà Đinh
Thị H5 (hiện ông bà này đều đã chết). Việc mua bán ông bà không trực tiếp đứng
ra giao dịch với người bán mà bà V là chị gái ông H2 đứng ra giao dịch nên người
bán họ tên sao ông bà không rõ. Sau khi mua đất một thời gian thì hai gia đình
cùng đổ đất, bà V nhờ ông L là cán bộ địa chính xã S xuống đo đất có bà H3
cùng tham gia, đo xong ông L thông báo đất có chiều ngang là 40m, chiều dài
30m, đất lúc bấy giờ chưa được cấp GCNQSDĐ. Sau đó, ông bà và vợ chồng
ông H4 thỏa thuận phân chia là ông bà lấy phần đất rộng 22m mặt đường Đông
Trường S hiện giáp với đất vợ chồng ông H, vợ chồng ông H4 lấy phần đất rộng
18m gần về phía trung tâm xã hơn. Năm 2013, ông bà kê khai và được UBND
huyện K, tỉnh Gia Lai cấp GCNQSDĐ số BP 204110 với diện tích 660m
2
(ngang
22m, dài 30m), ông H4 cũng là người đã ký vào biên bản xác định ranh giới của
các hộ liền kề để ông bà được cấp Giấy chứng nhận. Phần đất còn lại của vợ
chồng ông H4 đã được ông bà chuyển nhượng lại cho ông L lúc bấy giờ là cán
bộ địa chính xã, ông L đã làm GCNQSDĐ rồi bán lại cho vợ chồng ông T và bà
H6 (phần rộng 10m), bán lại cho vợ chồng ông N2 và bà B (phần rộng 8m). Diện
4
tích đất 660m
2
của ông bà từ lâu đến nay ông bà để trống, đến gần đây do muốn
rào lại cho gọn gàng thì ông bà đã đo đất từ đất của vợ chồng ông N2, bà B giáp
ranh với đất của ông bà kéo về phía đất vợ chồng ông H (đã nhận chuyển nhượng
lại của vợ chồng ông H4) đủ 22m chiều rộng và 30m chiều sâu và rào lại theo
đúng GCNQSDĐ ông bà đã được cấp, chứ ông bà không lấn chiếm đất như vợ
chồng ông H khởi kiện nên ông bà không chấp nhận trả đất như nguyên đơn yêu
cầu.
Nay qua kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/5/2025 của Tòa án
xác định diện tích đất tranh chấp giữa ông bà và vợ chồng ông H là 113,20m
2
(75,90m
2
đất ở và 37,30m
2
đất trồng cây lâu năm) thì ông bà cũng đồng ý với kết
quả này và hiện diện tích đất tranh chấp ông bà đang quản lý có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp đất ông H2, bà H3 dài 30m;
- Phía Tây giáp đất ông H, bà N dài 30m;
- Phía Nam giáp khe cạn dài 3,77m;
- Phía Bắc giáp đường T dài 3,78m.
Về nguồn gốc đất vợ chồng ông H nhận chuyển nhượng lại của vợ chồng
ông H4 là do vợ chồng ông H4 đổ đất san lấp từ nguồn gốc đất mua lại của vợ
chồng ông B, bà H5. Sau đó, vợ chồng ông H4 được cấp GCNQSDĐ rồi chuyển
nhượng lại cho vợ chồng ông H. Khi vợ chồng ông H4 kê khai để được cấp
GCNQSDĐ thì bà H3 có ký vào biên bản xác định các hộ có đất liền kề không
tranh chấp, khi ký biên bản bà H3 suy nghĩ là đất vợ chồng bà đã được cấp Giấy
chứng nhận trước rồi, giờ vợ chồng ông H4 được cấp Giấy chứng nhận phần đất
còn lại với diện tích bao nhiêu thì bà H3 không quan tâm đến.
Tại phiên tòa ngày 18/11/2025, bị đơn bà H3 và người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung trình bày và quan điểm như
nói ở trên, đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để thương lượng thỏa thuận với
nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức V1.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông H2 không đồng ý hỗ trợ cho nguyên
đơn phần đất có chiều rộng giáp đường T là 0,9m, chiều dài là 30m; bị đơn và
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm là
không đồng ý trả lại nguyên đơn diện tích đất tranh chấp là 113,20m
2
.
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ông Trần Duy H4 và bà
Nguyễn Thị V trình bày
Ngày 20/8/2012, ông bà có nhận chuyển nhượng viết tay của vợ chồng ông
Đinh Văn B và bà Đinh Thị H5, ở tại: Làng H, xã S, tỉnh Gia Lai mảnh đất có
diện tích 360m
2
với tứ cận là:
- Phía Đông giáp đất bà H3, ông H2 dài 30m.
- Phía Tây giáp đất ông B dài 30m.
- Phía Nam giáp suối rộng 12m.
5
- Phía Bắc giáp đường T rộng 12m.
Giấy viết tay này đã được vợ chồng ông H nộp cho Tòa án làm chứng cứ
(bản photo), trong đó có nội dung ông bà và vợ chồng ông B xác định diện tích
đất hai bên chuyển nhượng lấy trụ điện làm chuẩn, kéo qua phía Đông giáp với
đất bà H3 theo mặt đường T là rộng 12m.
Đến năm 2014, ông bà kê khai và được UBND huyện K, tỉnh Gia Lai cấp
GCNQSDĐ số BT 222158 ngày 02/6/2014 với diện tích 360m
2
đất nông nghiệp
trồng cây lâu năm. Khi ông bà kê khai thì bà H3 có ký vào biên bản xác định các
hộ có đất liền kề không tranh chấp. Đến năm 2019, ông bà làm hồ sơ chuyển mục
đích sử dụng đất sang đất ở với diện tích 200m
2
và được UBND huyện Kbang
cấp GCNQSDĐ số CP 983372 ngày 18/2/2019. Đến ngày 03/4/2019, ông bà
chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho vợ chồng ông H với giá chuyển
nhượng là 310.000.000 đồng
Đối với phần đất của vợ chồng bà H3 liền kề với phần đất ông bà đã chuyển
nhượng cho vợ chồng ông H nói trên có nguồn gốc là vào năm 2012, ông bà cùng
vợ chồng bà H3 thỏa thuận mua chung mảnh đất có chiều rộng giáp đường Đông
Trường Sơn là 38m, chiều dài là 30m của vợ chồng ông Đinh G và bà Đinh Thị
T1, trước đây ở thôn B, xã S, tỉnh Gia Lai (hiện ông bà này còn sống hay đã chết
thì ông bà không rõ), ông bà này là cha mẹ của ông Đinh Văn B và bà Đinh Thị
H5, đất lúc bấy giờ chưa được cấp GCNQSDĐ. Việc mua bán là do bà V đứng
ra giao dịch với vợ chồng ông G, bà V và vợ chồng ông G có viết giấy tay với
nhau (người viết giấy giúp đã lâu bà V không nhớ rõ), giấy mua bán này hiện
ông bà còn giữ và có xác nhận của ông Đinh Văn K là thôn trưởng thôn 2, xã S
thời điểm đó (ông K hiện đã chết), vợ chồng bà H3 là người chung tiền vào mua
đất chứ không trực tiếp giao dịch với vợ chồng ông G. Sau khi mua đất một thời
gian thì hai gia đình cùng đổ đất và nhờ ông L là cán bộ địa chính xã S thời điểm
đó xuống đo đất mua chung, lúc đo đất đó có bà V, vợ chồng bà H3 và ông L; bà
H3 và ông L cầm dây đo đất, khi đo xong thì ông L không nói gì chỉ bà H3 nói
lại bà V là đất có chiều ngang giáp đường là 38m, chiều dài là 30m. Sau đó, ông
bà và vợ chồng bà H3 thỏa thuận phân chia là vợ chồng bà H3 lấy phần đất rộng
20m mặt đường Đông Trường S hiện giáp với đất ông bà đã chuyển nhượng cho
vợ chồng ông H, ông bà lấy phần đất rộng 18m gần về phía trung tâm xã hơn.
Phần đất này ông bà đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông N2, bà B (phần
rộng 8m giáp đường T) và ông L (phần rộng 10m giáp đường T), ông L sau đó
đã làm GCNQSDĐ rồi bán lại cho vợ chồng ông T và bà H6.
Đối với phần đất vợ chồng bà H3 được phân chia khi mua chung đất với
ông bà thì sau đó vợ chồng bà H3 kê khai và được UBND huyện K, tỉnh Gia Lai
cấp GCNQSDĐ số BP 204110 ngày 11/9/2013 với diện tích 660m
2
(ngang 22m,
dài 30m), về chữ ký của ông H4 trong biên bản xác định các hộ có đất giáp ranh
không tranh chấp thuộc hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng bà H3 thì đã lâu ông
H4 không nhớ rõ là có ký hay không. Như vậy, việc vợ chồng bà H3 được cấp
GCNQSDĐ số BP 204110 với diện tích 660m
2
(ngang 22m, dài 30m) là không
6
đúng với thực tế vì đất vợ chồng bà H3 mua chung với ông bà và được chia chỉ
có diện tích 600m
2
(ngang 20m, dài 30m).
Nay qua kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định diện tích
đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là 113,20m
2
(75,90m
2
đất ở và 37,30m
2
đất trồng cây lâu năm) thì ông bà cũng đồng ý với kết quả này, đất có tứ cận là:
- Phía Đông giáp đất ông H2, bà H3 dài 30m;
- Phía Tây giáp đất ông H, bà N dài 30m;
- Phía Nam giáp khe cạn dài 3,77m;
- Phía Bắc giáp đường T dài 3,78m.
Nay ông bà cũng thống nhất với yêu cầu của vợ chồng ông H, đề nghị Tòa
án buộc vợ chồng bà H3 phải trả cho vợ chồng ông H diện tích đất vợ chồng bà
H3 đã lấn chiếm nói trên.
Tại phiên tòa ngày 18/11/2025, ông H4 và bà V vẫn giữ nguyên nội dung
trình bày và quan điểm như nói ở trên, ông H4 xác định lại là ông có ký vào biên
bản xác định các hộ có đất giáp ranh không tranh chấp thuộc hồ sơ cấp
GCNQSDĐ cho vợ chồng bà H3.
1.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn B và bà Đinh
Thị H5 trình bày
Thời điểm đã lâu rồi, cha mẹ ông B là ông Đinh G và bà Đinh Thị T1 có
chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông H4 và bà V, ông bà có biết việc chuyển
nhượng nhưng không biết rõ diện tích, chiều dài, chiều rộng của thửa đất vợ
chồng ông G đã chuyển nhượng.
Về phần ông bà, vào ngày 20/8/2012, ông bà có thỏa thuận chuyển nhượng
cho vợ chồng ông H4 mảnh đất sát với thửa đất vợ chồng ông G đã chuyển
nhượng cho bà V, ông H4 nói trên. Mảnh đất này trong giấy sang nhượng đất đã
mô tả là mảnh đất rẫy có bờ sát ruộng, giáp đất ông H2, bà H3 ra tới trụ điện (trụ
điện hiện nay vẫn còn trên thực tế), đất có phía giáp đường T hiện nay rộng 12m,
phía sau giáp bờ ruộng rộng 14m, chiều dài hai bên thửa đất từ đường T trở vào
đến giáp rừng, giá chuyển nhượng là 10.000.000 đồng, vợ chồng ông H4 đã trả
đủ tiền và ông bà đã bàn giao đất cho vợ chồng ông H4 sử dụng, đất thời điểm
đó chưa được cấp GCNQSDĐ, hai bên chuyển nhượng viết tay và Giấy sang
nhượng đất do ông B viết.
Sau đó, bà V và ông H4 kê khai, làm thủ tục và được cấp GCNQSDĐ với
diện tích là 360m
2
(rộng 12m, dài 30m) thì ông bà có ký vào sơ đồ trích lục thửa
đất phần hộ liền kề không tranh chấp ở mục phía Tây của thửa đất, khi ký thì ông
bà không biết diện tích cụ thể là bao nhiêu, chỉ biết mặt đường rộng 12m. Diện
tích đất vợ chồng ông H4 được cấp quyền sử dụng có chiều rộng 12m là đúng
với chiều rộng của đất ông bà đã bán, về chiều dài 30m thì ông bà không khẳng
định chính xác được vì khi bán đất thì hai bên không có đo chiều dài. Nay đất
của vợ chồng ông H mua lại của vợ chồng ông H4 bị thiếu diện tích so với
7
GCNQSDĐ thì đây là tranh chấp nội bộ giữa vợ chồng ông H4 và vợ chồng ông
H2 còn ông bà đã bán và giao đủ đất cho vợ chồng ông H4.
Diện tích đất ông bà đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông H4, nay được
vợ chồng ông H4 chuyển nhượng cho vợ chồng ông H chỉ thuộc phần diện tích
tính từ trụ điện kéo về giáp đất bà H3, ông H2; phía bên kia trụ điện hướng về
phía xã Đ là đất của ông V1 nhận chuyển nhượng của ông bà, không liên quan
gì đến đất của ông H4, bà V.
Tại phiên tòa ngày 18/11/2025, ông B và bà H5 vẫn giữ nguyên nội dung
trình bày và quan điểm như nói ở trên, ông B xác định lại họ tên chính xác của
cha ông là ông Đinh G chứ không phải là Đinh G1, hiện cha mẹ ông đều đã chết.
1.5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức V1 trình
bày
Vào ngày 30/8/2024, anh có thỏa thuận nhận chuyển nhượng viết tay của
vợ chồng ông Đinh Văn B và bà Đinh Thị H5 (tên gọi khác là Q) mảnh đất tại
thôn H, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai (nay là thôn H, xã S, tỉnh Gia Lai) giáp với
đất của ông H và bà N với giới cận được tính từ trụ điện (sát đất ông H) ngược
về hướng đi xã Đ dài khoảng 50m (giáp đường T) và chiều dài của lô đất tính từ
đường T kéo ra phía sau giáp suối dài khoảng 40m, giá mua bán là 220.000.000
đồng. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa hai bên đã được lập thành Giấy sang
nhượng có người làm chứng là ông Đinh Trung K1, trú tại: Làng H, xã S, tỉnh
Gia Lai và xác nhận của ông Lê Ngọc C là T2 trưởng thôn H, xã S, tỉnh Gia Lai.
Từ khi nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông B thì anh đã nhận bàn
giao đất và sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai kể cả với ông H và bà N;
hiện ranh giới đất của anh và ông H, bà N đã được xác định cụ thể trên thực địa
và đã được cắm mốc hàng rào cố định. Diện tích đất của ông H và bà N đang sử
dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông H4 và bà V, đất này trước đó
ông H4 và bà V cũng nhận chuyển nhượng viết tay của ông B và bà H5, giấy
mua bán cũng đã ghi rõ ông B và bà H5 bán cho ông H4 và bà V mảnh đất tính
từ trụ điện (giáp đất của anh) đến giáp đất ông H2 và bà H3. Vì vậy, việc đất của
ông H và bà N bị thiếu thì không liên quan gì đến đất của anh.
Tại phiên tòa ngày 18/11/2025, anh V1 vẫn giữ nguyên nội dung trình bày
như nói ở trên, đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để thương lượng thỏa thuận
với nguyên đơn và bị đơn.
Tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 08/01/2026, anh V1 xin rút lại nội
dung đã đưa ra tại phiên tòa ngày 18/11/2025, theo đó anh không đồng ý hỗ trợ
cho nguyên đơn phần đất có chiều rộng giáp đường T là 01m, chiều dài là 30m
vì anh không liên quan đến vụ kiện này nên anh không phải có nghĩa vụ hỗ trợ.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai đã quyết định:
8
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; khoản 3 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 26, 39, 91, 93, 94, 95, 101, 104, 108, 143, 144, 147,
157, 165, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 23, 25, 31, 235 và 236 của Luật Đất đai năm 2024;
- Căn cứ vào các Điều 175 và 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ H7 và bà
Nguyễn Thị Mộng N về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị
Thu H3 phải trả lại cho ông H7, bà N 113,20m
2
đất tại thôn H, xã S, huyện K, tỉnh
Gia Lai; đất có vị trí tứ cận và chỉ số các cạnh như sau:
- Phía Đông giáp đất ông H2, bà H3 dài 30m;
- Phía Tây giáp đất ông H7, bà N dài 30m;
- Phía Nam giáp khe cạn dài 3,77m;
- Phía Bắc giáp đường T dài 3,78m.
Ông H7 và bà N phải chịu toàn bộ chi phí định giá tài sản là 900.000 đồng
và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 8.100.000 đồng, các khoản chi phí này
ông H7 và bà N đã nộp đủ.
Về án phí: Buộc ông Võ H7 và bà Nguyễn Thị Mộng N phải chịu 300.000
đồng án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông bà đã nộp là
300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Toà án số 0002409 ngày
25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 - tỉnh Gia Lai), ông H7 và bà N đã nộp đủ
án phí DSST.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo
quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo
Ngày 19/01/2026, nguyên đơn ông Vũ H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
số 02/2026/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 14
– Gia Lai, yêu cầu sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn hoặc hủy bản án vì chưa làm rõ “Giấy sang nhượng đất ruộng
nước” ghi ngày 20/4/1989 giữa ông Đinh G, bà Đinh Thị T1 và ông Trần Duy H4,
bà Nguyễn Thị V.
9
Ngày 23/01/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy H4
và bà Nguyễn Thị V kháng cáo bản án sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 09 tháng
01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai, yêu cầu xem xét, điều
chỉnh và bổ sung một số thông tin mà ông, bà đã cung cấp trong bản tự khai, trong
phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm.
Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại không
kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
- Ngày 03/7/2026, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu
thập bổ sung tài liệu, chứng cứ.
- Nguyên đơn ông Vũ H và bà Nguyễn Thị Mông N3 trình bày việc ông, bà
nhận chuyển nhượng đất ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V là có sự kiểm tra,
đo đạc thửa đất; ranh giới thửa đất là từ trụ điện kéo phía đất của ông H2, bà H3
có chiều ngang 12m; phần đất của ông bà cao hơn khoảng 30cm so với phần đất
của ông H2, bà H3; sau này khi thấy bà Hồng Đ đất trồng trụ bê tông trên phần
đất của ông H, bà N3 thì ông bà có báo với chính quyền địa phương.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Thế N1
trình bày nguồn gốc đất của nguyên đơn từ ông B, sau đó ông B chuyển nhượng
cho ông H4, bà V; ông H4, bà V chuyển nhượng lại cho nguyên đơn; ông H2, bà
H3 không chứng minh được phần đất của ông bà có chiều ngang giáp mặt đường
là 22m, ngoài số đo được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp cho ông H2, bà H3 nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông H, sửa bản án
dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu H3 trình bày thửa đất có
diện tích 660m
2
do bà Nguyễn Thị V trực tiếp nhận chuyển nhượng từ ông Đinh
G và bà Đinh Thị T1; ông H2, bà H3 không chứng kiến việc chuyển nhượng và
cũng không xuống thực địa, kiểm tra thực tế và cắm mốc xác nhận thửa đất chuyển
nhượng; sau đó giữa ông H2, bà H3 và ông H4, bà V có đổ đất san mặt bằng và
phân chia đất; thời điểm phân chia có ông L là công chức địa chính có đó đất và
thông báo thửa đất có chiều ngang giáp mặt đường T là 40m, ông H2, bà H3 nhận
phần đất có chiều ngang 22m, ông H4, bà V nhận phần đất có chiều ngang 18m
giáp với trung tâm xã; sau khi ông H2, bà H3 cắm cọc bê tông thì ông H, bà N3
ngăn cản và báo với chính quyền địa phương.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lương Ngọc P
trình bày về nguồn gốc đất đã được xác định trong biên bản xác nhận không tranh
chấp của các hộ lân cận trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông H2, bà H3 nên phía ông H4, bà V cho rằng thửa đất nhận chuyển nhượng cho
chiều ngang giáp mặt đường là 38m là không đảm bảo; bà V cho rằng thời điểm
đo đạc để chuyển mục đích sử dụng đất vào năm 2019 bà có nhờ dịch vụ làm chứ
bà không đi xác định thửa đất nên đây là lý do có sự sai lệch vị trí; giấy chứng
10
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H2, bà H3 là đúng trình tự, thủ tục theo quy
định của pháp luật; thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, thẩm định tại chỗ, phần
đất ông H2, bà H3 đang trực tiếp quản lý, sử dụng có diện tích ít hơn diện tích
được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có căn cứ xác định
ông H2, bà H3 lấn chiếm đất, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn
Thị V trình bày thửa đất có diện tích 660m
2
do bà Nguyễn Thị V trực tiếp nhận
chuyển nhượng từ ông Đinh G và bà Đinh Thị T1; sau đó giữa ông H2, bà H3 và
ông H4, bà V có đổ đất san mặt bằng và phân chia đất; thời điểm phân chia có
ông L là công chức địa chính có đó đất và thông báo thửa đất có chiều ngang giáp
mặt đường T là 38m, ông H2, bà H3 nhận phần đất có chiều ngang 20m, ông H4,
bà V nhận phần đất có chiều ngang 18m giáp với trung tâm xã; sơ đồ được vẽ
trong “Giấy sang nhượng đất ruộng nước” ghi ngày 20/4/1989 do bà T1 vẽ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn B trình bày phần
đất ông và bà H5 chuyển nhượng cho ông H4, bà V và hiện nay của ông H, bà H2
có chiều ngang giáp mặt đường 12m, mốc giới là từ trụ điện kéo về phía phần gốc
của trụ điện đôi đến giáp phần đất của ông H2, bà H3; việc chuyển nhượng cho
thực hiện việc đo đạc, sơ đồ vẽ trong “Giấy sang nhượng đất bờ ruộng” ghi ngày
20/8/2012 do ông B và bà V vẽ; thời điểm ông H2, bà H3 và ông H4, bà V có đổ
đất san mặt bằng, ông B có đến ngăn cản và không cho đổ đất sang phần đất của
ông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức V1 trình bày
trước đây trong buổi hòa giải, ông tự nguyện hỗ trợ cho nguyên đơn phần đất giáp
mặt đường có chiều ngang 1m, tuy nhiên hiện nay ông không đồng ý hỗ trợ.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận kháng của nguyên đơn ông Vũ
H và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy H4 và
bà Nguyễn Thị V; sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ H, bà Nguyễn Thị Mộng N; về án phí và
chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
11
Về án phí: Nguyên đơn ông Vũ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V đảm bảo thời hạn kháng cáo, đã
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các điều 273 và 276 của Bộ
luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ H và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V, thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất, thấy:
Đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ TĐ1-2019, diện tích 160m
2
(theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 222158) và thửa đất số thửa đất số 01, tờ
bản đồ TĐ1-2019, diện tích 200m
2
(theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CP 983372) (sau đây gọi chung là thửa đất có diện tích 360m
2
), nguyên đơn ông
Vũ H và bà Nguyễn Thị Mộng N cho rằng nguồn gốc thửa đất là của vợ chồng
ông Đinh Văn B và bà Đinh Thị H5; năm 2012 ông B, bà H5 chuyển nhượng cho
ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V, đến năm 2019, ông H4, bà V chuyển
nhượng cho ông H và bà N.
Đối với thửa đất có diện tích 660m
2
(theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BP 204110), bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu H3 cho rằng
năm 2012 ông bà có cùng với ông H4, bà V nhận chuyển nhượng chung từ cha
mẹ ông Đinh Văn B và bà Đinh Thị H5. Sau đó, giữa ông H2, bà H3 và ông H4,
bà V có thỏa thuận phân chia, theo đó ông H2, bà H3 nhận phần đất rộng 22m
giáp mặt đường Đông Trường S và giáp với đất vợ chồng ông H, còn ông H4, bà
V nhận phần đất rộng 18m gần về phía trung tâm xã.
Lời trình bày của các ông bà phù hợp với lời trình bày của những người
chuyển nhượng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ là hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nên có căn cứ xác định về nguồn gốc các thửa đất do các bên
trình bày là có căn cứ.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất, thấy:
Theo ông H, bà N xác định, quá trình sử dụng ông H2 và bà H3 cho rằng
đất của ông bà bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên
đã cắm trụ hàng rào bê tông lấn sang đất của ông H, bà N phần đất có diện tích
113,20m
2
.
[2.2.1] Đối với thửa đất có diện tích 360m
2
, thấy:
Nguyên đơn cho rằng ranh giới thửa đất được ông H4, bà V và ông B, bà
H5 xác định từ đầu là lấy trụ điện (hiện nay chỉ còn phần trụ bê tông) làm chuẩn,
12
từ trụ điện kéo qua phía Đông của thửa đất 12m theo hướng mặt đường T 12m là
đất của ông H, bà N, giáp bên cạnh đất ông H2, bà H3.
Ông B và H5 cũng xác nhận phần đất ông bà chuyển nhượng cho ông H4,
bà V có phía giáp đường T hiện nay rộng 12m, phía sau giáp bờ ruộng rộng 14m,
chiều dài hai bên thửa đất từ đường T trở vào đến giáp rừng.
Tại “Giấy sang nhượng đất bờ ruộng” ghi ngày 20/8/2012 giữa bên chuyển
nhượng là ông Đinh Văn B, bà Đinh Thị Q và bên nhận chuyển nhượng là ông
Trần Duy H4, bà Nguyễn Thị V (bút lục 08 – 09) thể hiện “Tôi có mảnh đất … bờ
sát ruộng giáp đất hân H3, ra tới trụ điện thẳng xuống gốc dỗi giáp đất của tôi,
nay tôi sang nhượng lại cho Vân H8…..mảnh đất từ ngoài trụ điện thẳng xuống
rới ruộng đến gốc dỗi”, đồng thời có sơ đồ thể hiện một cạnh có chiều dài 12m,
cạnh đối diện có chiều dài 14m.
Như vậy, lời trình bày của ông H, bà N là phù hợp với lời trình bày của các
chủ sử dụng đất trước đó là ông B và ông H8, bà V, phù hợp với nội dung thỏa
thuận, sơ đồ vẽ thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2.2.2] Đối với thửa đất có diện tích 660m
2
, thấy:
Ông H2, bà H3 cho rằng phần đất ông bà cùng với ông H8, bà V nhận
chuyển nhượng chung của ông Đinh G và bà Đinh Thị T1 có diện tích chiều rộng
giáp đường Đ là 40m, chiều dài là 30m; sau đó, các bên có thỏa thuận phân chia,
ông H2, bà H3 nhận phần đất giáp mặt đường Đông Trường S rộng 22m, còn ông
H8, bà V nhận phần đất giáp mặt đường Đông Trường S rộng 18m gần về phía
trung tâm xã.
Ông H8, bà V lại cho rằng phần diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông
G và bà T1 có chiều rộng giáp đường Đ là 38m (ít hơn 02m so với lời trình bày
của ông H2, bà H3), chiều dài là 30m.
Tại “Giấy sang nhượng đất ruộng nước” ghi ngày 20/4/1989 giữa bên
chuyển nhượng là ông Đinh G, bà Đinh Thị T1 và bên nhận chuyển nhượng là
ông Trần Duy H4, bà Nguyễn Thị V (bút lục 84) hiện nội dung “….Vợ chồng tôi
thống nhất sang nhượng cho vợ chồng: Trần Duy H4 và Nguyễn Thị V thôn 6 xã
S Gia Lai một phần đất chia đôi…..”, đồng thời có sơ đồ thể hiện một cạnh có
chiều dài 38m, cạnh đối diện có chiều dài 38m.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H3 cho rằng việc nhận chuyển nhượng do bà
V trực tiếp thực hiện; thời điểm nhận chuyển nhượng ông H2, bà H3 không xuống
thực địa, không kiểm tra thực tế và cắm mốc xác nhận thửa đất chuyển nhượng.
Mặt khác, lời trình bày của bà H3 về việc nhờ ông L là cán bộ địa chính xã S
xuống đo đất, thông báo đất có chiều ngang là 40m, chiều dài 30m, lại không được
ông L thừa nhận, như vậy lời trình bày của ông H2, bà H3 về việc thửa đất nhận
chuyển nhượng có chiều rộng giáp mặt đường T là 40m, phần đất ông bà được
chia có chiều rộng 22m là không có căn cứ.
[2.2.3] Về thời điểm phát sinh tranh chấp, thấy:
13
Ông H2, bà H3 cho rằng ông bà nhận chuyển nhượng chung và thỏa thuận
phân chia đất năm 2012, đến năm 2013 ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất; ông bà sử dụng đất từ thời điểm thỏa thuận phân chia đất (năm 2012)
cho đến nay.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H3 trình bày thời điểm bà đóng cọc bê tông là
thời điểm ông H khởi kiện, như vậy có căn cứ xác định từ thời điểm nhận chuyển
nhượng, phân chia đất, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cả
quá trình sử dụng đất ông H2, bà H3 không có sự đo đạc, kiểm tra, không cắm
mốc ranh giới, không đối chiếu diện tích sử dụng so với diện tích được cấp theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho đến khi đối chiếu với giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, mới phát hiện đất bị thiếu và thực hiện việc đo đạc, cắm trụ
bê tông dẫn đến có sự tranh chấp.
Xét thấy, vị trí thửa đất thuộc đất ở nhưng thực tế là đất sát bìa rừng, ít
người dân sinh sống, các đương sự từ thời điểm nhận chuyển nhượng không có
việc cắm mốc ranh giới trên thực địa, việc sử dụng thửa đất không có sự liên tục;
việc xác định ranh giới do các chủ sử dụng cũ xác định, hiện các mốc giới nhân
tạo vẫn còn tồn tại; về vị trí địa lý của phần đất đang tranh chấp so với phần đất
mà bị đơn đang trực tiếp quản lý sử dụng là chênh lệch hoàn toàn về độ cao, không
phù hợp với lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa về việc đã đổ đất san lấp toàn
bộ phần diện tích đất nhận chuyển nhượng; mặt khác việc bị đơn thực hiện cắm
trụ bê tông đã được nguyên đơn báo với chính quyền địa phương nhưng bị đơn
vẫn tiếp tục thực hiện mà không chờ kết quả giải quyết của chính quyền địa
phương, chỉ dựa vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tự ý cắm mốc ngoài
thực địa; đối chiếu với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án có căn cứ xác định
phần đất ông H2, bà H3 và ông H4, bà V nhận chuyển nhượng từ ông G và bà T1
có chiều rộng giáp đường Đ là 38m, phần đất ông H2, bà H3 nhận sau khi thỏa
thuận phân chia có chiều rộng giáp đường Đ là 20m.
Do đó, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H, bà
N, buộc ông H2, bà H3 trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 61,4m
2
, có vị trí tứ
cận như sau:
- Phía Đông giáp đất ông H3, bà H2, có chiều dài lần lượt 10,31m + 9,69m
+ 10m;
- Phía Tây giáp đất ông H, bà N, có chiều dài lần lượt 10,31m + 9,69m +
10m;
- Phía Nam giáp khe cạn, có chiều dài 2m;
- Phía Bắc giáp đường T, có chiều dài 2m;
Đối với phần diện tích đất còn lại mà ông H, bà N bị thiếu so với giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được cấp, tại văn bản số 147/CV-TNMT ngày 25/6/2022
của Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện K (bút lục số 270) cung cấp thông
tin như sau: “Qua đối chiếu sơ đồ ranh giới các thửa đất ngoài thực địa do thành
viên hội đồng xem xét tại chỗ cung cấp và bản đồ thu hồi đất dự án đường T (khu
vực cấp 03 GCNQSDĐ trên). Vị trí cấp 03 GCNQSDĐ trên nằm trong cùng một
14
thửa đất và một chủ sử dụng được thu hồi đất để phục vụ công trình đường T. Vị
trí phía giáp đất ông V1 (trụ điện hiện nay) vẫn còn khoảng đất hơn 09m mặt
đường của chủ sử dụng này (có sơ đồ đối chiếu kèm theo)”. Quá trình giải quyết,
ông H, bà H2 không có yêu cầu nào khác, ngoài yêu cầu ông H2, bà H3 trả lại
phần diện tích đất lấn chiếm nên ông bà có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm
Trong vụ án này, cả nguyên đơn và bị đơn đều được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm và
khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích đất lấn chiếm. Quá trình giải quyết
Tòa án phải xem xét giá trị của tài sản vì vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên
đơn phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch là chưa phù
hợp với Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc đương sự phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần giá trị tài sản mà Tòa án
không chấp nhận yêu cầu của đương sự.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của
nguyên đơn ông Vũ H, chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ H được chấp nhận một phần;
yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy H4
và bà Nguyễn Thị V được chấp nhận nên ông H, ông H4 và bà V không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm (ông H4 và bà V được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm do là người cao tuổi).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; khoản 3 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 26, 39, 91, 93, 94, 95, 101, 104, 108, 143, 144, 147,
157, 165, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 23, 25, 31, 235 và 236 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào các điều 175 và 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
15
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T3 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Hoài .
2. Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Duy H4 và bà Nguyễn Thị V.
3. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai, giữa nguyên đơn ông Vũ H, bà
Nguyễn Thị Mộng N và bị đơn ông Nguyễn Văn H2, bà Trần Thị Thu H3 về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tuyên xử:
4. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ H và bà
Nguyễn Thị Mộng N.
Buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu H3 trả lại cho ông Vũ H và
bà Nguyễn Thị Mộng N phần đất có diện tích 61,4m
2
, tại thôn H, xã S, huyện K,
tỉnh Gia Lai (nay là thôn E, xã S, tỉnh Gia Lai), phần đất có vị trí tứ cận:
- Phía Đông giáp đất ông H3, bà H2, có chiều dài lần lượt 10,31m + 9,69m
+ 10m;
- Phía Tây giáp đất ông H, bà N, có chiều dài lần lượt 10,31m + 9,69m +
10m;
- Phía Nam giáp khe cạn, có chiều dài 2m;
- Phía Bắc giáp đường T, có chiều dài 2m;
(Có sơ đồ hiện trạng kèm theo)
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật.
5. Không chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ H và
bà Nguyễn Thị Mộng N về việc buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu
H3 trả lại phần đất có diện tích 51,8m
2
.
6. Về chi phí tố tụng
Ông Vũ H và bà Nguyễn Thị Mộng N phải chịu chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ và định giá tài sản 4.118.375 (bốn triệu một trăm mươi tám nghìn ba trăm
bảy mươi lăm) đồng. Ông H và bà N đã nộp đủ.
Buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu H3 phải trả lại cho ông Vũ
H và bà Nguyễn Thị Mộng N chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài
sản là 4.881.625 (bốn triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm hai mươi lăm)
đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
16
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
7. Về án phí:
7.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Vũ H và bà Nguyễn Thị Mộng N phải chịu 5.046.000 (năm triệu
không trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào
300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002409 ngày 25/11/2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 14 - tỉnh Gia Lai). Ông H và bà N còn phải nộp thêm số tiền
4.746.000 (bốn triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng.
Ông Nguyễn Văn H2 và bà Trần Thị Thu H3 phải chịu 6.049.500 (sáu
triệu không trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
7.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Trả lại cho ông Vũ H số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000842
ngày 23/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 14 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 14 – Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 290/2026/DS-PT Bản án số 290/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 290/2026/DS-PT Bản án số 290/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất