Bản án số 627/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 627/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 627/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 627/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị M - Trần Anh T - Tranh chấp hợp đồng vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 627/2026/DS-PT Bản án số 627/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 627/2026/DS-PT Bản án số 627/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 583/2026/DS-PT
Ngày: 18-9-2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng
Các Thẩm phán: Ông Lương Đức Dương
Ông Võ Văn Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chính là Thư ký viên Tòa án nhân dân
tnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Viết Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tnh Lâm Đồng, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 298/2026/TLPT-DS ngày 26-6-2026 về
việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số
10/2026/DS-ST, ngày 08-5-2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 473/2026/QĐ-PT
ngày 06 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 431/2026/QĐ-PT, ngày
29 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 528/2026/QĐ-PT, ngày 27
tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1965; CCCD số: ************;
địa ch: Thôn A, xã B, tnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang V, sinh
năm 1993; địa ch: số C, đường D, xã E, tnh Lâm Đồng - Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1971; CCCD số: ************; địa
ch: Thôn F, xã B, tnh Lâm Đồng - Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung X, sinh năm 1976; địa ch:
Thôn G, xã E, tnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Phạm Anh T - là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Quang V trình
bày:
Ngày 02/6/2024 bà Trần Thị M có cho ông Phạm Anh T vay số tiền là
50.000.000 đồng, thỏa thuận thời hạn thanh toán là ngày 07/6/2024, trong giấy vay
tiền không thỏa thuận lãi suất. Tiếp đến ngày 17/5/2024 bà M có cho ông T vay số
tiền 6.000.000 đồng và ngày 14/6/2024 bà M cho ông T vay tiếp số tiền là
6.000.000 đồng. Hai khoản vay ngày 17/5/2024 và ngày 14/6/2024 trong giấy vay
tiền không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ. Đã nhiều
lần bà M yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nhưng ông T không thực
hiện. Nay bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T phải thanh toán các khoản nợ
cụ thể như sau:
Đối với số tiền vay ngày 02/6/2024: Buộc ông T phải thanh toán số nợ gốc là
50.000.000 đồng và lãi suất phát sinh là lãi trong hạn tính từ ngày 02/6/2024 đến
ngày 07/6/2024 với lãi suất là 1,66%/tháng, cụ thể: 50.000.000 đồng x
1.66%/tháng x 05 ngày = 138.333 đồng; lãi suất quá hạn tính từ ngày 08/6/2024
đến nay là 699 ngày là 50.000.000 đồng x 1,66% x 150% x 699 ngày = 29.008.500
đồng, làm tròn 29.009.000 đồng
Đối với số tiền ngày 6.000.000 đồng ngày 17/5/2024 bà M yêu cầu Tòa án buộc
ông T phải thanh toán số nợ gốc là 6.000.000 đồng và lãi suất là 0,83%/tháng tính từ
ngày vay là 6.000.000 đồng x 0.83% x 721 ngày = 1.196.800 đồng.
Đối với số tiền ngày 6.000.000 đồng ngày 14/6/2024 bà M yêu cầu Tòa án buộc
ông T phải thanh toán số nợ gốc là 6.000.000 đồng và lãi suất là 0,83%/tháng tính từ
ngày vay là 6.000.000 đồng x 0.83% x 693 ngày = 1.150.380 đồng.
Tổng số tiền mà bà M yêu cầu Tòa án buộc ông T phải thanh toán cả gốc và
lãi của ba lần vay là: 93.536.000 đồng.
2. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, bị đơn trình bày: Ông Toán thừa
nhận có vay của bà M 03 khoản vay như trên. Tuy nhiên, đối với khoản vay
50.000.000 đồng ngày 02/6/2024 thì ông T đã trả cho bà M do con dâu là chị Phạm
Thị Việt T1 đứng ra nhận và có viết giấy cam kết, khoản nợ này ông T đã trả cho
bà M nên ông T không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà M về việc bà M yêu cầu
Tòa án buộc ông T phải thanh toán số nợ gốc là 50.000.000 đồng và lãi suất như
phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
Đối với hai khoản vay ngày 17/5/2024 với số tiền là 6.000.000 đồng và ngày
14/6/2024 ông T vay 6.000.000 đồng. Do trong giấy vay tiền không thể hiện lãi
suất, không thể hiện thời hạn thanh toán nợ. Nên ông T ch chấp nhập thanh toán
3
số nợ gốc của hai lần vay là 12.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh với lãi suất là
0,83%/tháng tín từ ngày bà M khởi kiện. Không chấp nhận lãi suất như ý kiến của
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày.
3. Bản án số: 10/2026/DS-ST, ngày 08-5-2026 của Toà án nhân dân khu vực
9 - Lâm Đồng, quyết định:
“Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản
1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M
Buộc ông Phạm Anh T phải trả cho bà trần Thị Mây số tiền 77.177.000 đồng,
trong đó tiền nợ gốc của ba lần vay là 62.000.000 đồng, tiền lãi là 15.177.000
đồng.”
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
6. Ngày 18-5-2026 bị đơn ông Phạm Anh T kháng cáo một phần Bản án sơ
thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận phần yêu cầu khởi kiện về nợ gốc 50.000.000 đồng và lãi suất theo giấy vay
nợ ngày 02-6-2024.
7. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn ông Phạm Anh T giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc
thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị không chấp nhận kháng
cáo, y án sơ thẩm.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy
định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: Bị đơn ông Phạm Anh T thừa nhận có vay 50.000.000 đồng của
bà M nhưng cho rằng đã trả cho bà M thông qua bà T1 là con dâu, tuy nhiên bà M
không có ủy quyền cho bà T1 nhận nợ thay do đó ông T vẫn có nghĩa vụ trả cho bà
M 50.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm nhận định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, không
lãi suất nhưng lại buộc ông T chịu lãi suất trong hạn 10% và lãi suất chậm thực
hiện nghĩa vụ bằng 150 lãi suất vay (10%) là không đúng do đó đề nghị HĐXX
4
xem xét chấp nhận một phần kháng cáo, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số
10/2026/DS-ST, ngày 08-5-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng về
phần lãi suất, và án phí dân sự cho đúng quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý
kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định,
nội dung kháng cáo nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm, nên được xem xét theo thủ
tục phúc thẩm.
[1.2] Về quan hệ pháp luật, người tham gia tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện
tranh chấp về hợp đồng vay tài sản; bị đơn có địa ch cư trú xã Đắk Wil, tnh Lâm
Đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và
Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng
hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối
thoại tại tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng thụ lý, giải quyết là đúng
thẩm quyền. Việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng là đúng
quy định pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo của ông Phạm Anh T
Bị đơn Phạm Anh T thừa nhận ngày 02-6-2024 ông có vay của bà M số tiền
50.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 02-6-2024 đến ngày 07-6-2024. Đây là tình
tiết có thật, không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 điểu 92 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Tại giấy vay nợ ngày 02-6-2024 không ghi nội dung về lãi suất. Tại phiên tòa
sơ thẩm bà M và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác nhận không có thỏa
thuận về lãi suất đối với khoản vay nêu trên. Vì vậy, đây là hợp đồng vay có kỳ hạn,
không có lãi suất.
Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn cung cấp 01 “Giấy nhận tiền nợ
thay” thể hiện bà Phạm Thị Viết Trinh đã nhận đủ từ ông Phạm Anh T số tiền
50.000.000 đồng thay cho mẹ chồng của mình là bà Ngô Thị M (BL 71) và cho rằng
ông đã trả đủ số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc đã mượn. Tuy nhiên, bà M không
thừa nhận.
5
Xét thấy, giấy vay nợ ngày 02-6-2024 là một hợp đồng dân sự được các bên có
đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự tham gia giao kết tự nguyện, nội dung không
trái pháp luật, trái đạo đức xã hội do đó đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự theo Điều 117 của Bộ luật Dân sự, theo đó phát sinh và ràng buộc về
quyền và nghĩa vụ giữa bên cho vay và bên vay. Về bản chất hợp đồng vay theo quy
định tại điều 463 của Bộ luật dân sự quy định “là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho
bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu
có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”, và khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự
quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”, do đó, ông T có
nghĩa vụ trả nợ đối với người cho vay là bà M. Đồng thời, tại hợp đồng không có
thỏa thuận khác về việc ông T được quyền trả khoản nợ cho ai khác ngoài bà M hay
không? Bà Mây cũng không có ủy quyền, chuyển giao quyền trong hợp đồng cho bà
T1 hay nhờ bà T1 nhận tiền thay bà M.
Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 27-10-2025 (BL28) ông T trình bày
“Tôi vay của bà M 50.000.000 đồng, sau đó vài ngày thì tôi đem tiền ra nhà bà M
trả nhưng bà M không có nhà và có gặp con dâu bà M, sau đó đến chiều cùng
ngày con dâu bà M là chị Phạm Thị Việt T1 có đến nhà tôi và nói với tôi: “Chú
chưa trả cho má cháu thì cho má cháu vay thời gian 01 tuần cháu sẽ trả”, nên tôi
đưa tiền cho chị T1. Việc chị T1 vay tiền của tôi thì chị T1 có viết giấy vay tiền với
tôi” và hẹn “số nợ gốc 50.000.000 đồng tôi xin khất 4 tháng nữa chị T1 thanh
toán tôi sẽ thanh toán đầy đủ cho bà M”. Như vậy, có cơ sở xác định việc ông T
đưa số tiền 50.000.000 đồng cho bà T1 là một hợp đồng vay tài sản khác, độc lập
với hợp đồng vay giữa ông và bà M. Do đó, cấp phúc thẩm nhận thấy cũng không
cần thiết đưa bà Phạm Thị Việt T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
Từ những nhận định trên, có cơ sở xác định ông T chưa thực hiện nghĩa vụ trả
nợ gốc số tiền 50.000.000 đồng đối với bà Trần Thị M, cần buộc ông T trả cho bà M
số tiền nợ gốc của Giấy vay ngày 02-6-2024 số tiền 50.000.000 đồng.
Trường hợp có phát sinh tranh chấp, ông T có quyền khởi kiện bằng một vụ án
dân sự khác tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bà Phạm Thị Việt T1 trả cho ông
số tiền 50.000.000 đồng nêu trên.
[3]. Về lãi suất.
Giấy vay ngày 02-6-2026 là hợp đồng vay có kỳ hạn, không có lãi suất, do đó,
từ 02-6-2024 đến 07-6-2024 ông T không phải chịu lãi suất trong hạn do không có
6
thỏa thuận. Cấp sơ thẩm xác định bị đơn phải chịu mức lãi suất 10%/năm theo
khoản 2 Điều 468 của BLDS là không có cơ sở.
Đối với khoản lãi do vi phạm nghĩa vụ, chậm trả tiền: Khoản 4 Điều 466 của
Bộ luật dân sự quy định “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay
không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với
mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm
trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác”
Như vậy, từ ngày 8-6-2024 ông T phải chịu lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả là
10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả là 50.000.000 đồng x 10%/năm x 12
tháng 11 ngày = 9.575.000 đồng. Cấp sơ thẩm buộc ông T phải chịu lãi trên nợ gốc
quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay tương ứng với thời gian chậm trả là áp
dụng không đúng pháp luật.
[4]. Từ các nhận định tại mục [2], [3] nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn là
có cơ sở, do đó chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là đúng pháp luật, phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của ông Phạm Anh T được chấp nhận một phần
nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định. Đồng thời do Bản án sơ thẩm
bị sửa nên cần sửa phần án phí dân sự cho phù hợp.
[7] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận
một phần kháng cáo của ông Phạm Anh T: sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
10/2026/DS-ST, ngày 08-5-2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng.
2. Áp dụng:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự
năm 2015;
Căn cứ khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14
về án phí lệ phí Tòa án.
7
3. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M.
Buộc ông Phạm Anh T phải trả cho bà Trần Thị M số tiền 72.365.000 đồng
(Bảy mươi hai triệu ba trăm sáu mươi lắm nghìn đồng), trong đó tiền nợ gốc của
ba lần vay là 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng), tiền lãi là 10.365.000
đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự 2015.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị M đối với yêu
cầu buộc ông Phạm Anh T phải trả 21.171.000 đồng (Hai mươi mốt triệu một trăm
bảy mươi mốt nghìn đồng) tiền lãi.
4. Về án phí:
Buộc ông Phạm Anh T phải nộp 3.618.000 đồng (Ba triệu sáu trăm mười tám
nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009747 ngày 25-
5-2026 của Thi hành án dân sự tnh Lâm Đồng. Ông Toán còn phải nộp 3.318.000
đồng (Ba triệu ba trăm mười tám nghìn đồng)
Buộc bà Trần Thị M phải nộp 1.059.000 đồng (Một triệu không trăm năm
mươi chín nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không
được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền 2.096.000 đồng (Hai triệu không trăm
chín mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà M đã nộp theo biên lai số
0005779 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tnh Lâm Đồng, bà M được
nhận lại 1.037.000 đồng (Một triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
5. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
18/9/2026).
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
8
8, 36 và Điều 72 Luật Thi hành án Dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án Dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 9-Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 9-Lâm Đồng;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9
Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, TDS;
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
K’Tiêng
9
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 627/2026/DS-PT Bản án số 627/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 627/2026/DS-PT Bản án số 627/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất