Bản án số 1744/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1744/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1744/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1744/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc T - Nguyễn Thanh B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1744/2026/DS-PT Bản án số 1744/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1744/2026/DS-PT Bản án số 1744/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1744/2026/DS-PT
Ngày: 15/9/2026
V/v: Tranh chấp quyền về lối đi qua
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hòa
Bà Phạm Thị Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Lê Quỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11/8/2026 và ngày 15/9/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
751/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 04 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền về
lối đi qua”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 277/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4475/2026/QĐ-PT
ngày 15 tháng 7 năm 2026 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
5546/2026/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1965. (xin vắng mặt ngày
11/8/2026, có mặt ngày 15/9/2026)
Địa chỉ: số 3/19 Đường 86, Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C, nay là xã C1,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn
T1 - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; Công ty Luật Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên D. (có mặt)
2. Bị đơn:
Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1978.
Địa chỉ: số 52 Đường M, ấp L, xã P, huyện C, nay là xã C1, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn (theo Giấy ủy quyền công chứng
ngày 09/6/2018 tại Văn phòng công chứng Y, Thành phố Hồ Chí Minh): Bà
Nguyễn Thị N, sinh năm 1961. (có mặt)
Địa chỉ: số 63/7A hẻm 63 Đường K, tổ 8, ấp B, xã P, huyện C nay là xã
C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện C:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn L - Phó Chủ tịch UBND xã C1,
Thành phố Hồ Chí Minh. (theo Giấy ủy quyền ngày 30/6/2026 của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã C1)
Địa chỉ: 314 Đường P, xã C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Bà Huỳnh Thị Ngọc X, sinh năm 1972.
3.3 Bà Huỳnh Thị Hồng N1, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C, nay là xã C1, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà X và bà N1 (theo Giấy ủy quyền công
chứng ngày 16/5/2018 tại Văn phòng công chứng Y, Thành phố Hồ Chí Minh):
Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1965. Địa chỉ: số 3/19 Đường 86, Tổ 13, ấp X, xã
P, huyện C, nay là xã C1, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt ngày
11/8/2026, có mặt ngày 15/9/2026)
4. Người làm chứng:
4.1 Ông Huỳnh Văn T2. (vắng mặt)
Địa chỉ: số 198/10 Tỉnh lộ 2, Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C nay là xã C1,
Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2 Bà Trần Thị U. (vắng mặt)
Địa chỉ: số 3/20, Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C nay là xã C1, Thành phố Hồ
Chí Minh.
4.3 Bà Lê Thị N2. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C nay là xã C1, TP. Hồ Chí Minh.
4.4 Ông Nguyễn Văn C. (vắng mặt)
Địa chỉ: số 25/3, Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C nay là xã C1, Thành phố Hồ
Chí Minh.
4.5 Ông Huỳnh Văn D. (vắng mặt)
4.6 Ông Nguyễn Tất H. (vắng mặt)
4.7 Ông Trần Văn N3. (vắng mặt)
4.8 Ông Huỳnh Văn D1. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 13, ấp X, xã P, huyện C nay là xã C1, TP. Hồ Chí Minh.
4.9 Ông Bùi Văn B1. (có mặt)
Địa chỉ: số 09 Đường 60, Tổ 1, ấp X, xã P, huyện C nay là xã C1, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo:
Ông Nguyễn Thanh B – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - bà Huỳnh Ngọc T trình bày:
Bà T là chủ sử dụng phần đất diện tích 144,7m
2
thuộc thửa 1087, Tờ bản
đồ số 16, Bộ địa chính xã P, huyện C, nay là xã C1, Thành phố Hồ Chí Minh, đã
3
được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
532676, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01097/12 ngày
19/9/2007.
Ông Nguyễn Thanh B là chủ sử dụng đất thuộc thửa 1304-1, Tờ bản đồ số
4 và thửa 1356-1, Tờ bản đồ số 19 (Tài liệu 02/CT-UB), Bộ địa chính xã P,
huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số T 822137, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 7016
QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/11/2001, cập nhật biến
động ngày 26/12/2013.
Giữa 02 phần đất của ông B và bà T có con đường đi công cộng chiều
ngang khoảng 4m, chiều dài hơn 100m, sau khi đo đạc thực tế có diện tích
435,7m
2
theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số hợp đồng: 25498/TTĐĐBĐ-
CNCC do Trung tâm Đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố
Hồ Chí Minh phát hành ngày 26/3/2024.
Năm 2007, ông B tự ý xây tường rào bằng gạch Block cao khoảng 2m
chắn ngang con đường đi nêu trên, làm cho bà T không thể đi ra Hẻm số 3,
Đường 86, ấp X, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, mọi sinh hoạt đi lại
của bà T và gia đình rất khó khăn do đây là con đường duy nhất, tồn tại từ trước
năm 1975 đến nay, được bà con xung quanh khẳng định là đường đi công cộng.
Do đó, bà T có Đơn khởi kiện ngày 12/8/2016, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ
sung ngày 15/8/2023, Văn bản xác định yêu cầu khởi kiện ngày 14/4/2025, yêu
cầu: ông B tháo dỡ hàng rào, trả lại con đường đi công cộng diện tích 407,5m
2
tại vị trí số (1), (2) Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số hợp đồng
25498/TTĐĐBĐ-CNCC do Trung tâm Đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi
trường Thành phố Hồ Chí Minh phát hành ngày 26/3/2024, để bà T có lối đi vào
sử dụng canh tác phần đất của mình.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh B do người đại diện hợp pháp trình bày:
Phần đất mà bà T tranh chấp cho rằng là lối đi công cộng có nguồn gốc là
của ông Ong S nhận chuyển nhượng 10.000m
2
đất thuộc thửa 1304-1, Tờ bản đồ
số 4 và thửa 1356-1, Tờ bản đồ số 19 (Tài liệu 02/CT-UB), Bộ địa chính xã P,
huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh từ ông Lê Quang V vào năm 2001, được Ủy
ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 822137, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 7016 QSDĐ/CQ ngày
13/11/2001.
Năm 2013, ông Ong S đã tặng cho ông B phần đất nêu trên, được Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C cập nhật biến động ngày 26/12/2013.
Trong tất cả các lần chuyển quyền và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, đều không thể hiện con đường đi công cộng tiếp giáp đất với bà T. Do
đó, ông B không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Trường hợp bà T muốn có lối đi ra đường công cộng thì phải thanh toán
cho ông B giá trị phần đất mà ông B bỏ ra làm lối đi theo giá thị trường.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Huỳnh Thị Hồng N1, Huỳnh
Thị Ngọc X do người đại diện hợp pháp là bà Huỳnh Ngọc T trình bày: Thống
nhất với ý kiến, yêu cầu khởi kiện của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
C1, kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Phần đất tranh chấp diện tích 435,7m
2
theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp
ranh số hợp đồng 25498/TTĐĐBĐ-CNCC do Trung tâm Đo đạc bản đồ, Sở Tài
nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phát hành ngày 26/3/2024, qua
kết quả xác minh, đường đất có trước năm 1990, đến năm 1996 Ban nhân dân ấp
X có thực hiện việc nâng cấp đường đất thành đường đất đỏ là đường đi công
cộng (nối từ Hẻm số 3, Đường 86 ra Tỉnh lộ 2); theo Tài liệu bản đồ địa chính
299/TTg thể hiện là đường đất; theo Tài liệu bản đồ địa chính kỹ thuật số tài liệu
đo đạc năm 2003: Tờ bản đồ số 16 thể hiện là đường đất.
Những người làm chứng gồm các ông, bà: Huỳnh Tấn T2, Trần Thị U, Lê
Thị N2, Nguyễn Văn C, Huỳnh Văn D, Nguyễn Tất H, Trần Văn N3, Huỳnh Văn
D1trình bày: Các ông, bà là người dân sống tại địa phương, biết rõ trước đây có
con đường đi công cộng tiếp giáp giữa 02 (hai) phần đất của ông B và bà T.
Hiện nay, các ông, bà không đi trên con đường này vì đều có lối đi khác, chỉ còn
bà T, bà N1 và bà X phải đi trên con đường này thì mới vào được đất của họ.
Người làm chứng - ông Bùi Văn B1 trình bày:
Ông B1 là người sinh ra, lớn lên tại địa phương và làm Trưởng ấp X từ
năm 2005 đến năm 2015, nên biết rất rõ về nguồn gốc con đường mà 02 bên
đang tranh chấp. Ông B1 khẳng định không có con đường đi công cộng như các
bên trình bày, mà chỉ là đường mòn tự chừa của chủ đất cũ. Sau đó, chủ đất cũ
chuyển nhượng lại cho ông Ong S và ông Ong S tặng cho ông B.
Khi còn là Trưởng ấp, chính ông B1 đã vận động chủ cũ cho các hộ dân
liền kề đi nhờ để đổ đất san lấp cho những phần đất của họ. Sau khi san lấp xong
thì bang đất trả lại hiện trạng cho chủ cũ, chứ không phải là đường đi công cộng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DSST ngày 06 tháng 01 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh B tháo dỡ bức tường trả lại
đường đi công cộng có diện tích 443,9m
2
theo bản vẽ sơ đồ nhà đất do Công ty
TNHH MTV Thiết kế Xây dựng Đo đạc bản đồ H lập ngày 19/6/2020, được Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 30/6/2020.
Bản án này đã bị kháng nghị bởi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
huyện C và kháng cáo của nguyên đơn.
Bản án dân sự phúc thẩm số 724/2021/DS-PT ngày 23/12/2021 của Tòa
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Chấp nhận kháng cáo của
bà Huỳnh Ngọc T, Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DSST ngày 06 tháng
01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án
5
nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ
thẩm.
Sau khi thụ lý giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án nhân dân
Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án ra xét xử và quyết định tại
Bản án sơ thẩm số 277/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 như sau:
“1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Ngọc T.
1.1 Xác định phần đất diện tích 407,5m
2
vị trí số (1), (2) trên Bản đồ hiện
trạng vị trí - áp ranh số hợp đồng: 25498/TTĐĐBĐ-CNCC do Trung tâm Đo
đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phát hành
ngày 26/3/2024 là lối đi công cộng.
1.2. Buộc ông Nguyễn Thanh B tháo dỡ rào lưới B40 trên lối đi (có diện
tích là 407,5m
2
) phần tiếp giáp Hẻm số 3, Đường 86, ấp X, xã C1, Thành phố
Hồ Chí Minh để trả lại lối đi công cộng.
1.3. Kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C1 thu hồi, hủy một phần
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 822137, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất: 7016 QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho
ông Ong S ngày 13/11/2001, được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện
C cập nhật biến động tặng cho ông Nguyễn Thanh B ngày 26/12/2013 theo Hồ
sơ số: 36826, vào sổ số: CH06311, đối với phần đất diện tích 407,5m
2
tại tiểu
mục 1.1.”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/3/2026, bị đơn nộp đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm,
yêu cầu xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bên đương sự không thỏa thuận được về
việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn không kháng cáo và giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, vì hiện trạng từ
trước đến nay không có đường đi trên đất ông B, do mọi người thấy đất trống
nên đi ngang qua để ra Đường 86 hoặc ra Tỉnh lộ 2, nên ông B đã rào đất lại để
bảo vệ từ năm 2013, sau khi được ông Ong S tặng cho đất.
Mọi người đều đã có đường đi khác, không ai sử dụng lối đi trên đất nhà
ông B, ngoài một mình bà T yêu cầu. Phần đất của bà T chỉ là đất trống không
có nhà, bà T không có ở trên đất và bà T sử dụng lối đi khác ra Đường 86.
Do Tòa án cấp phúc thẩm không biết thực tế, chỉ nhìn trên bản vẽ không
thể hiện lối đi khác của bà T nên đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ, để xác định
phần đất trống của bà T có lối đi khác ra Đường 86, không cần sử dụng lối đi
trên đất của ông B.
6
Trường hợp bà T muốn sử dụng lối đi trên đất ông B, thì bà T phải trả cho
ông B số tiền tương đương giá trị đất.
Người làm chứng – ông Bùi Văn Bích trình bày:
Ông Bích trước đây là Trưởng ấp X từ năm 1995 đến năm 2018. Ông B1
biết rõ phần đất hiện nay của ông B vốn trước đây không có đường đi, chỉ là đất
trống, nên mọi người hay đi ngang qua để đi từ Đường 86 ra Hẻm số 3 ấp X vào
đường Tỉnh lộ 2, đi nhiều tạo thành lối mòn, sau ông B mới rào lại bảo vệ đất.
Trước đây, Chính quyền có cho cải tạo đường, nâng cấp cho con Hẻm số
3, nhưng đoạn nối từ Hẻm số 3 ra Đường 86 do là đất ông B có tranh chấp nên
không làm đường.
Gia đình bà T và các chị em là bà X, bà N1 có lối đi riêng – thông qua nhà
của cha mẹ anh em họ, không cần sử dụng đến con đường đi trên đất của ông B,
nếu bắt ông B phải cắt đất của ông B cho mình bà T đi thì thiệt thòi cho ông B.
Nguyên đơn - bà T trình bày:
Con đường đất trước phần đất nhà bà T từ trước đến nay vẫn tồn tại, thể
hiện trên bản vẽ đất từ thời ông Võ Văn M, Giấy chứng nhận cấp cho bà T cũng
thể hiện con đường đi chung này. Đến khoảng năm 2007 – 2008, bà T không
nhớ chính xác, thì ông B rào lại đất ngang qua đất của bà, khiến việc đi lại gặp
rất nhiều khó khăn, buộc bà T phải đi nhờ qua nhà họ hàng và phần đất của
Công ty đang thuê mướn.
Trên phần đất của bà T có căn nhà của bà T ở cùng với bà X được xây
khoảng năm 2017 – 2018.
Con đường đi đã có từ trước đến nay và được công nhận trên Giấy chứng
nhận của bà T, nên bà T không đồng ý với ý kiến của bà N về việc trả tiền để
được đi trên lối đi chung này.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm kết thúc phần tranh luận
tại phiên tòa phúc thẩm trước khi nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đơn kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở nên đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
7
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn quy định,
bị đơn đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận để xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập phiên tòa xét xử phúc thẩm đến lần thứ
hai những người liên quan trực tiếp đến kháng cáo theo quy định tại Điều 294
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các đương sự được triệu tập vắng mặt tại phiên tòa
đều có đơn xin vắng mặt khi xét xử tại giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm, Hội
đồng xét xử tiến hành phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 294, khoản 2
Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Về nội dung kháng cáo của bị đơn, yêu cầu xét xử phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm với lý do sau: Lối đi hiện tranh chấp có nguồn gốc là đất đã được cấp
quyền sử dụng đất cho chủ đất cũ và nay là bị đơn, không phải là lối đi công
cộng, bản thân nguyên đơn đã có lối đi khác ra Đường 86 xã C1.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Phần đất tranh chấp lối đi chiều ngang khoảng 4m, chiều dài hơn 100m,
có diện tích 435,7m
2
tại vị trí số (1) và (2) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh
số hợp đồng: 25498/TTĐĐBĐ-CNCC do Trung tâm Đo đạc bản đồ, Sở Tài
nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phát hành ngày 26/3/2024, được
công nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số T 822137, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 7016
QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ong S ngày 13/11/2001,
cập nhật biến động sang tên ông Nguyễn Thanh B ngày 26/12/2013.
Theo trình bày của nguyên đơn, trên phần đất ông B được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất – nguyên trước đây là của ông Võ Văn M, được Ủy ban
nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/6/2000 đối
với thửa đất số 1356, đã tồn tại con đường đi công cộng. Sau đó ông M chuyển
nhượng cho ông Lê Quang V, rồi ông V chuyển nhượng cho ông Ong S, ông S
tặng cho ông Nguyễn Thanh B thì Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất không thể hiện vị trí con đường công cộng, nhưng Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Ngọc T có thể hiện đường đi này.
Trước nay, bà T và em bà T là bà Hồng N1 và một số hộ dân khác vẫn đi trên lối
đi này, nhưng nay ông B rào chắn không cho đi nữa.
Theo bị đơn, trên phần đất tranh chấp không tồn tại lối đi công cộng mà
do thấy đất trống nên mọi người tự đi tạo thành con đường mòn đi từ Đường 86
để ra đường Tỉnh lộ 2.
Lịch sử hình thành lối đi này, theo ông B1(người làm chứng) khẳng định:
“Tôi biết phần đất tranh chấp không có đường, chỉ có lối mòn đi từ ngoài đường
Hương lộ 2. … Con đường bà T tranh chấp với ông B từ trước đến nay là không
có đường”. Lời trình bày của người làm chứng thể hiện sự mâu thuẫn khi cho
rằng phần đất tranh chấp không phải là con đường nhưng có lối mòn đi từ ngoài
8
đường Hương lộ 2. Nghĩa là thực tế phần đất này đã tồn tại lối đi từ đường
Hương Lộ 2 (nay là Tỉnh lộ 2) vào Đường 86.
Theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 05/06/2000 do Đoàn Đo đạc bản đồ
thuộc Sở Địa chính Thành phố Hồ Chí Minh lập (BL.538) để bổ túc hồ sơ xin
cấp Giấy chứng nhận cho ông Võ Văn M đối với một phần Thửa 488 đã thể hiện
có con đường mòn nối giữa con đường đất rộng (nay là Đường 86) với con
đường mòn nhỏ (Hẻm số 3) ra Hương lộ 2.
Theo Ủy ban nhân dân huyện C có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C1 trình bày: Phần đất tranh chấp diện
tích 435,7m
2
theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số hợp đồng
25498/TTĐĐBĐ-CNCC do Trung tâm Đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi
trường Thành phố Hồ Chí Minh phát hành ngày 26/3/2024, qua kết quả xác
minh, đường đất có trước năm 1990, đến năm 1996 Ban nhân dân ấp X có thực
hiện việc nâng cấp đường đất thành đường đất đỏ là đường đi công cộng (nối từ
Hẻm số 3, Đường 86 ra Tỉnh lộ 2); theo Tài liệu bản đồ địa chính 299/TTg thể
hiện là đường đất; theo Tài liệu bản đồ địa chính kỹ thuật số tài liệu đo đạc năm
2003: Tờ bản đồ số 16 thể hiện là đường đất.
Theo Văn bản số 3398/UBND ngày 03/10/2023 (BL.516) Ủy ban nhân
dân xã P trả lời nội dung xác minh về thời điểm cấp Giấy chứng nhận cho ông S,
bà T có tồn tại con đường đất hay không, như sau:
“+ Theo bản đồ địa chính tài liệu đo đạc năm 2003: tờ bản đồ số 16, vị trí
thửa đất số 398, 399; 403, 402, 400 có tiếp giáp đường đất.
+ Theo bản đồ địa chính tài liệu 02/CT-UB: tờ bản đồ số 19, vị trí thửa
đất số thửa 1356-1 (thửa gốc 488) không thể hiện đường.
+ Theo bản đồ địa chính tài liệu 299/TTg: tờ bản đồ số 03, vị trí thửa đất
số thửa 442, 443, 444, 446, 445: tiếp giáp đường đất.”
Theo Văn bản số 2825/PKT ngày 07/09/2026 của Phòng Kinh tế xã C1 –
Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết:
“Phần diện tích đất đang tranh chấp vị trí (1), (2) trên Bản đồ hiện trạng vị
trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 26/3/2024, cụ thể:
Qua kết quả xác minh, đường đất có trước năm 1990, đến năm 1996 Ban
nhân dân ấp X có thực hiện việc nâng cấp đường đất thành đường đất đỏ là
đường đi công cộng (nối từ Hẻm số 3 đường 86 ra đường Tỉnh lộ 2)
+ Theo tài liệu bản đồ địa chính 299/TTg: tờ bản đồ số 3: Thể hiện đường
đất.
+ Theo tài liệu bản đồ địa chính kỹ thuật số tài liệu đo đạc năm 2003: tờ
bản đồ số 16: Thể hiện đường đất.”
9
Như vậy, với kết quả xác minh trên, cho thấy tại vị trí tranh chấp có tồn
tại con đường đất nối từ con đường đi ra Hương lộ 2 và đi ra Đường 86; con
đường đi này có tên là Hẻm số 3. Bản đồ địa chính lập theo tài liệu 02/CT-UB
tuy không thể hiện có đường đi, nhưng bản đồ được lập theo tài liệu 02/CT-UB
ngày 18/01/1992 là lập trong khoảng thời gian ở giữa giai đoạn của bản đồ địa
chính lập theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 và bản đồ kỹ thuật số lập năm
2003, mà các bản đồ địa chính của các giai đoạn trước và sau giai đoạn của bản
đồ địa chính lập theo Chỉ thị 02/CT-UB ngày 18/01/1992 đều thể hiện có đường
đi tồn tại tại vị trí tranh chấp, nên có thể khẳng định bản đồ địa chính lập theo tài
liệu 02/CT-UB tuy không đề cập đến lối đi này nhưng không có nghĩa là thực tế
không tồn tại lối đi này.
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện của bị đơn đã yêu cầu Tòa án thực
hiện thẩm định tại chỗ lại, để xác định việc nguyên đơn có lối đi khác ngoài lối
đi cũ trước đây, nay đã bị rào bít lại và cỏ mọc um tùm. Thực hiện việc xem xét
thẩm định tại chỗ lại vào ngày 28/08/2026, nhận thấy ngay tại ranh khu đất của
bà T, cùng với ranh khu nhà đất của bà Hồng N1, bà X và ranh nhà đất của một
số hộ dân khác, có tồn tại hàng rào lưới và cột bê tông, theo lời các bên thừa
nhận là hàng rào này do ông B xây dựng. Lối đi mà các bên tranh chấp chạy dọc
khu đất của bị đơn, giáp ranh với khu đất và nhà của bà Hồng N1, bà T và bà X
(và một vài nhà đất khác), nối liền với con đường mang tên Hẻm số 3 từ Tỉnh lộ
2 (Hương lộ 2 cũ) vào Đường 86, hiện trạng cỏ mọc cao và bị xây tường chắn
hai đầu – một đầu là tường xây cắt ngang Hẻm số 3 và một đầu là gờ tường thấp
cắt ngang lối ra Đường 86. Hiện trạng trên đất của bà T có tồn tại một căn nhà
nhỏ, theo bà T trình bày là xây đã lâu bà không nhớ năm cụ thể, khoảng 2017-
2018.
Theo nguyên đơn trình bày, ông B đã xây rào chắn từ khoảng 2007 - 2008
đến nay, gây khó khăn cho việc đi lại của bà T nhiều năm nay. Theo người đại
diện của bị đơn trình bày, ông B xây hàng rào xung quanh đất khoảng năm
2013, tuy nhiên nguyên đơn vẫn có lối đi nội bộ xuyên qua 03 nhà khác là chỗ
anh em họ hàng với bà T (thể hiện tại Biên bản thẩm định tại chỗ ngày
28/08/2026) nên không ảnh hưởng gì.
Xét thấy: Dù thời điểm xây rào chắn của ông B không xác định được
chính xác, nhưng việc xây rào chắn của ông B là có thật và đã gây ảnh hưởng
đến sinh hoạt của những người giáp ranh khu đất, cụ thể là 03 hộ của các bà
Huỳnh Thị Hồng N1, Huỳnh Thị Ngọc X; bà Huỳnh Ngọc T, như Văn bản số
2825/PKT ngày 07/09/2026 của Phòng Kinh tế xã C1 – Thành phố Hồ Chí Minh
đã xác định. Thực tế 03 hộ dân này không có lối đi khác, hiện tại họ phải đi nhờ
qua hiện trạng nhiều nhà đất có rào xung quanh của các hộ dân khác để ra
Đường 86, do lối đi chính thức trước khu nhà đất của họ đã bị ông B rào lại.
Dựa trên lịch sử của khu đất thể hiện qua các tài liệu về đất đai cho thấy,
lối đi hiện tranh chấp đã hình thành từ lâu đời và đã thể hiện trong bản đồ hiện
trạng vị trí để cấp Giấy chứng nhận cho ông Võ Văn M và nằm ngoài diện tích
ông Võ Văn M được cấp chủ quyền, tuy nhiên, vì lý do nào đó, khi cấp Giấy
10
chứng nhận quyền sử dụng đất số Q360317 ngày 15/06/2000 (BL.38), Ủy ban
nhân dân huyện C đã không thể hiện phần đường mòn giáp ranh giữa Thửa 1356
của ông Võ Văn M với Thửa 506, 505 và 504; dẫn đến việc khi ông Lê Quang V
nhận chuyển nhượng Thửa đất 1356 từ ông M và sau đó chuyển nhượng lại cho
ông Ong S, ông Ong S đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận
có số vào sổ 7016/QSDĐ/CQ ngày 13/11/2001 (BL.37, 39) – sau cập nhật chủ
sở hữu sang tên ông Nguyễn Thanh B ngày 26/12/2013 - đối với Thửa 1356-1
cũng không thể hiện lối đi nhỏ tiếp giáp với Thửa đất số 305 và Thửa số 304.
Trong khi đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Ngọc T
do Ủy ban nhân dân huyện C cấp số vào sổ H01097/12 ngày 19/09/2007 (BL36)
lại thể hiện Thửa đất số 1087 tiếp giáp đường đất và còn có ranh lộ giới trên
Thửa 1087. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị X do Ủy ban
nhân dân huyện C cấp số vào sổ H01098/12 ngày 19/09/2007 (BL.49) cũng thể
hiện Thửa đất số 1086 tiếp giáp đường đất và còn có ranh lộ giới trên Thửa
1086.
Bản sơ đồ thửa đất (BL.35) thể hiện phần đất của ông Ong S nay thuộc
ông Nguyễn Thanh B một mặt tiếp giáp Đường đất lớn một mặt tiếp giáp lối đi
ấp X, các Thửa đất tiếp giáp lối đi ấp X gồm có Thửa 400 của ông Trần Văn N3,
Thửa 1025 của bà Nguyễn Thị Chúc, Thửa 1087 của bà Huỳnh Ngọc T, Thửa
1086 của bà Huỳnh Thị X, Thửa 402 của ông Huỳnh Văn O và Thửa 403 của
ông Huỳnh Văn D.
Từ những phân tích trên, nhận thấy bản án sơ thẩm đã xét xử đúng, kháng
cáo của ông B là không có căn cứ.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về
việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp;
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên đương sự
kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp, bị
đơn đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, Điều 271, 272, 273, 276, khoản 1 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – ông Nguyễn Thanh B. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 277/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
11
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Ngọc T.
1.1 Xác định phần đất diện tích 407,5m
2
vị trí số (1), (2) trên Bản đồ hiện
trạng vị trí - áp ranh số hợp đồng: 25498/TTĐĐBĐ-CNCC do Trung tâm Đo
đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh phát hành
ngày 26/3/2024 là lối đi công cộng.
1.2 Buộc ông Nguyễn Thanh B tháo dỡ rào lưới B40 trên lối đi (có diện
tích là 407,5m
2
) phần tiếp giáp Hẻm số 3, Đường 86, ấp X, xã C1, Thành phố
Hồ Chí Minh để trả lại lối đi công cộng.
1.3. Kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C1 thu hồi, hủy một phần
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 822137, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất: 7016 QSDĐ/CQ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho
ông Ong S ngày 13/11/2001, được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất
huyện C cập nhật biến động tặng cho ông Nguyễn Thanh B ngày 26/12/2013
theo Hồ sơ số: 36826, vào sổ số: CH06311, đối với phần đất diện tích 407,5m
2
tại tiểu mục 1.1.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1 Ông Nguyễn Thanh B phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự sơ thẩm và nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.2 Bà Huỳnh Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho
bà T tiền tạm ứng án phí đã nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005180 ngày 11/10/2016 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện C (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8), Thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Thanh B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đồng
(Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số
0015062 ngày 11/03/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông
B đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
34, 36, 37, 38, 71 và 72 Luật thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Khu vực 8 - TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
12
- Phòng THADS Khu vực 8 - TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu/25.
Nguyễn Thị Thanh Hiền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1744/2026/DS-PT Bản án số 1744/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1744/2026/DS-PT Bản án số 1744/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất