Bản án số 289/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 289/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 289/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 289/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 289/2026/DS-PTNgày 23/9/2026V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 289/2026/DS-PT Bản án số 289/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 289/2026/DS-PT Bản án số 289/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 289/2026/DS-PT
Ngày 23/9/2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công và bà Võ Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly –
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 17 và 23 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia
Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng
01 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 130/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Công C, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Kim N,
sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn A, xã K (trước là thôn D, xã Đ, huyện K), tỉnh Gia
Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Công T, sinh năm 1979 và bà Tô Thị Hồng H, sinh năm
1982, địa chỉ: Thôn A, xã K (trước là thôn D, xã Đ, huyện K), tỉnh Gia Lai. Vắng
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1935, địa chỉ: Thôn A, xã K (trước là thôn D,
xã Đ, huyện K), tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ: Tầng A, 2, 3 Toà nhà G, C
H, phường Ô, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A:
2
Ông Phạm Anh T1, chức vụ: Phó Phòng xử lý nợ Phía Bắc- Ngân hàng
Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ: Tầng A, 2, 3 Toà nhà G, C H, phường Ô, thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Huy P, chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ - Ngân hàng
Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ: Tầng A, 2, 3 Toà nhà G, C H, phường Ô, thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Uy P1, chức vụ: Chuyên viên cao cấp Xử lý nợ- Ngân hàng
Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ: Tầng A, 2, 3 Toà nhà G, C H, phường Ô, thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
Ông Hồ Việt C1, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ- Ngân hàng Thương mại
Cổ phần A; Địa chỉ: I - I đường Đ, phường D, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N trình bày
Ông, bà có một lô đất diện tích 2.274 m
2
đất (trong đó đất ở là 300 m2; đất
nông nghiệp trồng cây lâu năm là 1.974 m
2
) tại thôn A, xã K (trước là thôn D, xã
Đ, huyện K), tỉnh Gia Lai, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 62, đất đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số AL 902587, do Ủy
ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai cấp ngày 07/7/2008. Nguồn gốc của diện
tích đất này là ông, bà nhận tặng cho từ cha mẹ là bà Nguyễn Thị D (cha là ông
Lê M đã chết từ năm 2003).
Thời điểm đó, ông Lê Công T (em trai ông C) cũng được cha mẹ tặng cho
và tách ra từ thửa đất số 53, tờ bản đồ số 62 với diện tích đất là 785 m
2
(trong đó
là 100 m
2
đất ở và 685 m
2
đất trồng cây lâu năm), tại thôn A, xã K (trước là thôn
D, xã Đ, huyện K), tỉnh Gia Lai, thửa đất số 53a, tờ bản đồ số 62, đất đã được
cấp GCNQSDĐ số AL 902587, do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai cấp
ngày 07/7/2008. Khi ông, bà và ông T, bà H thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ
đều được sự đồng ý của hai bên; bà D và những người con khác là Lê Thị C2 và
Lê Công T2.
Ngoài diện tích đất đã được tách thửa cho ông T, bà H thì vợ chồng ông
không có thỏa thuận gì khác và cũng không hứa hẹn tặng cho ông T, bà H diện
tích đất nào cả. Tuy nhiên, đến năm 2009 ông T, bà H xây dựng nhà ở kiên cố
thì ông, bà có biết và chính quyền địa phương cũng biết nhưng việc ông T, bà H
xây dựng nhà có lấn một phần trên diện tích đất thuộc GCNQSDĐ của gia đình
ông thì ông không được biết. Từ khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất thì ông,
bà không tiến hành đo đạc nên chưa sử dụng đúng diện tích đất đã nhận tặng cho.
Ngày 04/8/2022, ông, bà cần tiền để lo công việc gia đình nên đã vay vốn
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (viết tắt là A1) và đã thế chấp toàn bộ diện
3
tích đất 2.274 m
2
thuộc GCNQSDĐ số AL 902587 để đảm bảo cho khoản vay.
Đến thời gian trả nợ cho A1 thì ông, bà mới thực hiện việc cấp đổi lại GCNQSDĐ
để thực hiện việc chuyển nhượng một phần diện tích đất để thanh toán khoản vay
của A1 thì phát hiện việc ông T, bà H đã xây dựng nhà lấn lên một phần diện tích
đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông, bà. Nhưng ông T, bà H cho rằng phần
đất đó đã được bà D tặng cho và đã thuộc quyền sử dụng của ông T, bà H nên
giữa hai bên gia đình đã xảy ra tranh chấp.
Khi biết việc ông T, bà H có hành vi lấn đất, ông, bà đã thông báo cho ông
T, bà H, song giữa hai bên gia đình không tự giải quyết được, nên ông, bà đã
kiến nghị Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Đông để giải quyết. Ủy ban
nhân dân xã đã tiến hành đo đạc diện tích thực tế sử dụng giữa hai nhà xác định
hiện trạng ông C chỉ đang sử dụng diện tích 1.420,6 m
2
còn ông T đang sử dụng
diện tích 942 m
2
, phần diện tích của ông C bị ông T lấn chiếm là 345 m
2
nhưng
ông T không chấp nhận trả nên việc hòa giải tại địa phương không thành.
Ngày 29/10/2024, ông C-bà N đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông T, bà H phải trả lại diện tích tranh chấp là 345 m
2
đất tại thôn A,
xã K (trước là thôn D, xã Đ, huyện K), tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, trong quá trình
giải quyết vụ án, ngày 20/12/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại
chỗ để đo đạc xác định diện tích đất tranh chấp. Theo kết quả đo đạc xác định lại
thì diện tích đất tranh chấp là 438,9 m
2
, trong đó 72 m
2
đất ở và 366,9 m
2
đất
nông nghiệp trồng cây lâu năm nên ông, bà đã sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
buộc ông T, bà H phải trả cho ông, bà diện tích đất đã lấn chiếm là 438,9 m
2
.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H
phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 438,9 m
2
, tại thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai.
Tứ cận cụ thể như sau: Phía Đông giáp với đất ông V đang sử dụng có tổng chiều
rộng là 12,4 m; Phía Tây giáp với đường tỉnh lộ 669 có chiều rộng là 8,21 m;
Phía Nam giáp với đất ông T, bà H có chiều dài là 61,38 m. Phía Bắc giáp với
đất ông C-bà N có tổng chiều dài là 64,19 m.
1.2. Bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H trình bày
Ông, bà được cha mẹ là ông Lê M (đã chết năm 2003) và bà Nguyễn Thị
D tặng cho diện tích đất 785 m², gồm 100 m² đất ở và 685 m² đất trồng cây lâu
năm, tại thôn A, xã K (trước đây là thôn D, xã Đ, huyện K), tỉnh Gia Lai. Thửa
đất này thuộc thửa số 53a, tờ bản đồ số 62, đã được cấp GCNQSDĐ số AL
902587 do UBND huyện K cấp ngày 07/7/2008. Việc tặng cho và làm thủ tục
cấp GCNQSDĐ được sự đồng ý của bà D và các anh chị em gồm ông Lê Công
C, bà Lê Thị C2 và ông Lê Công T2. Ông, bà sử dụng diện tích đất này ổn định,
không có tranh chấp với ai.
Đến năm 2009 ông, bà được chính quyền địa phương cấp giấy phép xây
dựng nhà ở trên thửa đất số 53a. Quá trình xây dựng có sự đồng ý của ông Lê
Công C (là hộ liền kề). Hai gia đình đã cùng nhau kéo thước đo đạc, thống nhất
ranh giới để xây dựng nhà. Ngoài diện tích đất có trong GCNQSDĐ, ông bà còn
4
sử dụng thêm một phần đất trống liền kề giáp với phần đất của ông C, bà N. Ông
T, bà H trình bày trong quá trình bà D quản lý đất đã đồng ý tặng thêm cho ông,
bà một phần diện tích đất với chiều rộng 02m thuộc thửa đất số 53 kéo dài hết
thửa đất về phía sau, nhằm mở rộng mặt tiền từ 10m thành 12m. Ông C-bà N
cũng biết việc này nhưng không lập văn bản và cũng chưa làm thủ tục tách phần
diện tích đất này từ thửa đất số 53 sang thửa đất số 53a.
Ông, bà vẫn sử dụng ổn định trên diện tích đất này theo ranh giới giữa hai
bên gia đình hình thành lâu nay, đó là nhà ở đã xây từ năm 2009, ông bà không
có hành vi lấn chiếm hay tháo dỡ bất kỳ công trình nào ông C-bà N để làm ranh
giới. Nguồn gốc diện tích đất của hai bên gia đình đều là được tặng cho từ cha
mẹ, nay bà D (là mẹ ruột của ông C, ông T) thừa nhận là tặng cho ông, bà diện
tích đất có chiều rộng là 12m nên ông, bà xây dựng nhà ở, tôn trọng và duy trì
ranh giới đất đai theo hiện trạng mà hai gia đình đã sử dụng từ trước đến nay.
Còn về việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho người
dân trên địa bàn xã còn có nhiều sai sót nên không thể chỉ căn cứ vào GCNQSDĐ
để xác định ông, bà lấn chiếm đất của ông C, bà N.
Đến năm 2024, ông C-bà N cho rằng ông, bà lấn đất và có làm đơn khiếu
nại đến Ủy ban nhân dân xã Đ và khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Kbang
(nay là TAND khu vực 14 - Gia Lai) yêu cầu ông, bà phải trả lại diện tích 345
m
2
, tại thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai; khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ ông C,
bà N thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông, bà phải trả lại diện tích
đất là 438,9m
2
, tại thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai thì ông, bà khẳng định không hề
lấn chiếm diện tích đất này của nguyên đơn nên ông, bà không chấp nhận trả cho
nguyên đơn.
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan bà Nguyễn Thị D trình
bày
Bà là mẹ ruột của ông Lê Công C và ông Lê Công T. Năm 1985, bà và
chồng là ông Lê M đến sinh sống, làm nhà ở tại thôn D, xã Đ, huyện K (nay là
thôn A, xã K), tỉnh Gia Lai. Diện tích đất này sau đó đã được Nhà nước cấp
GCNQSDĐ cho gia đình bà. Sau khi ông M mất năm 2003, bà tự nguyện chia và
tặng cho toàn bộ diện tích đất trên hai con trai là ông Lê Công C và ông Lê Công
T. Khi hai con làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, bà và các con khác gồm Lê Thị C2
và Lê Công T2 đều đồng ý và ký xác nhận. Bà tặng cho ông Lê Công T phần đất
giáp mặt đường với chiều rộng 10m để làm nhà ở, ổn định cuộc sống, năm 2008
con Thứ đã làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2009 khi vợ chồng ông T, bà
H làm nhà thì bà có cho thêm chiều rộng 02m thuộc thửa đất số 53 kéo dài hết
thửa đất về phía sau, nhằm mở rộng mặt tiền từ 10m thành 12m nhưng bà không
lập văn bản gì; vợ chồng ông T, bà H xây dựng nhà kiên cố, sử dụng đúng vị trí
mà bà đã thống nhất cho. Ông C biết, vui mừng khi em trai có nhà và không xảy
ra tranh chấp gì trong nhiều năm. Đến năm 2024, khi ông C làm ăn khó khăn, nợ
ngân hàng, dẫn đến việc liên quan đến đất thế chấp, từ đó phát sinh tranh chấp.
5
Hiện nay bà đang sinh sống cùng ông T, bà H, đây là nơi ở duy nhất của gia đình
con trai bà và của chính bà.
Bà đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật,
đảm bảo quyền lợi của các con, đồng thời ghi nhận đúng ý chí của bà trong việc
tặng cho đất trước đây.
1.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại
Cổ phần A trình bày
Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đang khởi kiện ông Lê Công C và bà
Huỳnh Thị Kim N phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ từ hợp đồng tín dụng theo
thông báo về việc thụ lý vụ án số 82/2024/TLST-DS ngày 24/7/2024. Theo đó,
Ngân hàng buộc ông C và bà N phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ.
Trong trường hợp ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N không trả được
nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu
cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 59.01/21/TC/VIII.1 ngày 04/02/2021 để thu hồi nợ.
Việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất 2.274m
2
tại thôn D, xã Đ
(nay là thôn A, xã K), tỉnh Gia Lai trên đang bị tranh chấp với ông Lê Công T và
bà Tô Thị Hồng H. Việc Toà án đang giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất
trên thì Ngân hàng không có ý kiến gì, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 14-Gia
Lai giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 35 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng Dân sự; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người chưa thành niên; Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025;
Căn cứ Điều 26, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95,
Điều 96, Điều 97, Điều 99, Điều 101, Điều 104, Điều 106, Điều 108, Điều 143,
Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều
266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 26, Điều 166, Điều 170 và Điều 202 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 158, Điều 163, Điều 166, khoản 1 Điều 175, Điều 176, Điều
357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI;
Xử:
6
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Công C và bà
Huỳnh Thị Kim N, cụ thể:
Buộc bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H phải trả cho nguyên đơn
ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N diện tích đất đã lấn chiếm là 128,9m
2
(trong đó ONT: 39,98m
2
đất ở và CLN: 88,92m
2
) ông T, bà H chưa xây dựng
công trình gì trên đất có vị trí tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông V đang sử
dụng có chiều rộng là 2,05m; Phía Tây giáp đường tỉnh lộ 669 có chiều rộng là
2,08m; Phía Nam giáp đất ông T, bà H đang sử dụng có chiều dài là 64,53m; Phía
Bắc giáp với đất ông C, bà N có chiều dài là 64,19m.
Buộc bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H phải thanh toán cho
nguyên đơn ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N giá trị quyền sử dụng đất đã
lấn chiếm có diện tích là 310m
2
đất (trong đó ONT: 32,02 m
2
đất ở và CLN:
277,98m
2
) với số tiền là 41.021.100 đồng (bốn mươi mốt triệu, hai mươi mốt
nghìn, một trăm đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
Công nhận cho bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H được quyền
quản lý, sử dụng diện tích 310 m2 đất (trong đó ONT: 32,02m
2
đất ở và CLN:
277,98m
2
) ông T, bà H đã xây dựng ngôi nhà trên đất có vị trí tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đất ông V đang sử dụng có chiều rộng là 10,35m; Phía Tây giáp
đường tỉnh lộ 669 là đỉnh nhọn; Phía Nam giáp đất ông T, bà H có chiều dài là
61,38m; Phía Bắc giáp với đất ông T, bà H đang sử dụng có chiều dài là 64,53m.
(Có sơ đồ hiện trạng đất kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
20/12/2024).
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng về quản lý
đất đai để chỉnh lý quyền sử dụng đất theo bản án của Toà án.
Trường hợp các bên đương sự không tự nguyện liên hệ với cơ quan chức
về quản lý đất đai để chỉnh lý quyền sử dụng đất thì bên còn lại có quyền làm đơn
yêu cầu thi hành án theo quy định.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.000.000 đồng
(bốn triệu đồng), buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng
chí phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đã nộp là 4.000.000 đồng
(bốn triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
7
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí Dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N không phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã
tạm nộp theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0002381 ngày 30/10/2024 số tiền là
10.000.000 đồng (mười triệu đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang,
tỉnh Gia Lai.
Buộc bị đơn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự
không có giá ngạch đối với yêu cầu trả lại đất và phải chịu 2.051.055 đồng (hai
triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng) án phí
dân sự có giá ngạch đối với yêu cầu trả bằng giá trị diện tích đất đã được công
nhận cho bị đơn.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo
quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo
Ngày 25/12/2025, bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H kháng cáo
toàn bộ bản án 05/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
khu vực 14 – Gia Lai, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng
cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
- Ngày 23/7/2026, Hội đồng xét xử phúc thẩm tạm ngừng phiên tòa để xác
minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ.
- Nguyên đơn ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N cho rằng phần đất
ông bà được tặng cho giáp mặt đường có chiều ngang là 31m, phần đất ông T, bà
H được tặng cho giáp mặt đường có chiều ngang là 10m, không có việc bà D tặng
cho thêm ông T, bà H phần đất giáp mặt đường giáp với đất ông C, bà N có chiều
ngang 02m; việc tặng cho quyền sử dụng đất chỉ thực hiện trên sơ đồ được cấp
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Lê M và không tiến hành
đo đạc trên thực địa; thời điểm ông T, bà H xây dựng nhà và công trình kiến trúc
thì ông C, bà N biết và không có ý kiến phản đối, cho đến khi đo đạc để tiến hành
cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông C, bà N mới phát hiện ông T,
bà H lấn chiếm đất.
- Bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H cho rằng ban đầu ông, bà
được tặng cho phần đất giáp mặt đường có chiều ngang là 10m, quá trình sử dụng
8
bà D tặng cho ông T, bà H thêm phần đất giáp mặt đường giáp với đất ông C, bà
N có chiều ngang 02m; việc tặng cho ông T, bà H biết và không có ý kiến phản
đối; thời điểm ông T, bà H xây dựng thì giữa ông T, bà H và ông C, bà N có dùng
thước đo để xác định ranh giới, việc ông T, bà H xây dựng nhà và công trình kiến
trúc thì ông C, bà N biết và cũng không có ý kiến phản đối; yêu cầu sửa bản án
dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D cho rằng bà có
cho thêm ông C, bà H phần đất giáp mặt đường giáp với đất ông C, bà N có chiều
ngang 02m, việc tặng cho được ông C, bà N biết và không có ý kiến phản đối.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Công T
và bà Tô Thị Hồng H, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng
theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H đảm bảo
thời hạn kháng cáo, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các
điều 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H, thấy
rằng:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất, thấy:
Đối với thửa đất số 53, tờ bản đồ số 62, diện tích 2.274m
2
, tại thôn D, xã
Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai (nay là thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai), ông C, bà N cho
9
rằng có nguồn gốc do ông, bà nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị
D (mẹ ruột ông C) từ năm 2008.
Đối với thửa đất số 53a, tờ bản đồ số 62, diện tích 785m
2
tại thôn D, xã Đ,
huyện K, tỉnh Gia Lai (nay là thôn A, xã K, tỉnh Gia Lai), ông T, bà H cho rằng
có nguồn gốc do ông, bà nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị D
(mẹ ruột ông T) từ năm 2008. Quá trình sử dụng đất, bà D tặng cho thêm cho ông,
bà một phần quyền sử dụng thửa đất số 53, với chiều rộng 02m và chiều dài kéo
hết thửa đất về phía sau, nhằm mở rộng mặt tiền từ 10m thành 12m.
Bà D thừa nhận ý kiến trình bày của ông C, bà N, ông T và bà H về nguồn
gốc các thửa đất. Tại hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
Tòa án cấp sơ thẩm thu thập, thể hiện cùng trong ngày 24/4/2008, bà C lập 02 hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất, trong đó tặng cho ông phần đất có diện tích
2.274m
2
, tặng cho ông T phần đất có diện tích 875m
2
. Như vậy, lời trình bày của
các đương sự về nguồn gốc các thửa đất là phù hợp.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất, thấy:
Ông C, bà N cho rằng ông bà sử dụng đất từ thời điểm nhận tặng cho quyền
sử dụng đất. Ngày 07/7/2008 ông C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, đến khi ông, bà đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình
đo đạc lại mới phát hiện ông T, bà H lấn chiếm đất.
Ông T, bà H cho rằng ông bà sử dụng đất từ thời điểm nhận tặng cho quyền
sử dụng đất. Ngày 07/7/2008, ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, năm 2009 ông T, bà H xây dựng nhà ở, quá trình xây dựng có sự đồng ý của
ông C. Hai gia đình đã cùng nhau kéo thước đo đạc, thống nhất ranh giới để xây
dựng nhà. Sau đó ông T, bà H chuyển nhượng một phần đất có diện tích 349,8m
2
cho ông K.
Tại Văn bản số 424/CV-TNMT ngày 20/12/2024 của Phòng Tài nguyên và
Môi trường huyện K (bút lục số 74), xác định chỉ số cạnh trên sơ đồ đất của Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 902587 (thửa đất cấp cho ông C) như sau:
Cạnh phía Đông là 32m, cạnh phía Tây (giáp Tỉnh lộ 669) là 21m, cạnh phía Nam
(giáp đất ông T) là 77m và cạnh phía Bắc là 66m.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/12/2024, thể hiện:
- Hiện trạng phần đất ông C, bà N đang trực tiếp sử dụng, có vị trí tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông V, có chiều dài 18,37m; phía Tây giáp Tỉnh lộ 669, có
chiều dài 8,93m + 19,49m; phía Nam giáp phần đất đang tranh chấp (ông T, bà H
đang sử dụng), có chiều dài 64,19m; phía Bắc giáp đất ông C3, có chiều dài
14,46m + 13,02m + 22,33m + 10,13m. Phần đất ông C, bà N đang trực tiếp sử
dụng có diện tích 1.418,9m
2
, ít hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
được cấp là 885,1m
2
.
- Hiện trạng phần đất ông T, bà H đang trực tiếp sử dụng, có vị trí tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông V, có chiều dài 1,82m + 0,23m + 10,35m + 2,43m; phía
Tây giáp Tỉnh lộ 669, có chiều dài 2,08m + 6,13m; phía Nam giáp phần đất ông
10
K, có chiều dài 35,1m + 26,6m; phía Bắc giáp đất ông C, bà N, có chiều dài
64,19m. Phần đất ông T, bà H đang trực tiếp sử dụng có diện tích 708,5m
2
, ít hơn
so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 166,5m
2
.
- Giữa hai thửa đất của ông C, bà N và ông T, bà H không có ranh giới cố
định.
Đối chiếu với hiện trạng đất sử dụng thực tế của ông C, bà N, thấy rằng:
Phía Tây giáp Tỉnh lộ 669, có chiều dài nhiều hơn so với Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất được cấp là 7,42m; phía Nam có chiều dài ít hơn so với Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được cấp là 12,81m; phía Bắc có chiều dài ít hơn so với
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 6,06m. Như vậy, đối chiếu hiện
trạng sử dụng đất và sơ đồ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất ông
C, bà N đang sử dụng bị thiếu phần đuôi phía sau (giáp với ông V).
Mặt khác, tại Văn bản số 994/CV-CNKB ngày 21/8/2026 của Chi nhánh
Văn phòng Đ thể hiện đơn vị không lưu trữ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Lê M nên không thể cung cấp cho Tòa án nên không thể xác
định có hay không việc đo đạc thửa đất trước thời điểm cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê M.
Như vậy, có căn cứ xác định hình thể, diện tích thửa đất số 53, tờ bản đồ số
62 được cấp cho hộ ông Lê M không phù hợp với hình thể, diện tích sử dụng đất
hiện trạng tại thời điểm cấp. Việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tách thửa,
chuyển quyền sử dụng đất từ bà D sang cho ông C, bà N và ông T, bà H chỉ dựa
trên sơ đồ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có sự kiểm tra, đo
đạc, vẽ sơ đồ hiện trạng. Thời điểm tặng cho quyền sử dụng đất, các bên đương
sự cũng không tiến hành kiểm tra, đo đạc thửa đất, mà chỉ xác định theo hiện trạng
sử dụng đất. Từ sự sai sót trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên
việc ông C, bà N căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu ông T, bà
H trả lại phần đất lấn chiếm là không có căn cứ;
[2.3] Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ từ sau thời điểm tạm ngừng phiên
tòa phúc thẩm, thấy:
[2.3.1] Tại Biên bản xác minh ngày 08/9/2026, ông Bùi Tấn C4 (chức vụ:
Chuyên viên Phòng Kinh tế xã K, tỉnh Gia Lai) cung cấp:
“1. Đối chiếu với sự chênh lệch về số đo các cạnh và diện tích thửa đất,
Phòng Kinh tế xã K La cung cấp như sau:
Qua đối chiếu giấy tờ và các tài liệu thuộc hồ sơ cấp GCNQSDĐ số AL
902587 do UBND huyện K cấp ngày 07/7/2008 cho ông Lê Công C thì chỉ số cạnh
trên sơ đồ đất của GCNQSDĐ số AL 902587 xác định như sau:
- Cạnh phía Bắc: 66m;
- Cạnh phía Nam (giáp đất ông T): 77m;
- Cạnh phía Đông: 32m;
- Cạnh phía Tây (giáp đường F): 31m.”.
11
Tuy nhiên, tại Văn bản số 424/CV-TNMT ngày 20/12/2024 của Phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện K (bút lục số 74) xác định chỉ số cạnh trên sơ đồ đất
của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 902587 (thửa đất cấp cho ông C)
đối với cạnh phía Tây (giáp Tỉnh lộ 669) là 21m. Mặt khác, đối chiếu với Sơ đồ
trích lục thửa đất của hộ ông bà Lê Công C (bút lục số 71) và của hộ ông Lê Công
T (bút lục số 64), phía Tây của thửa đất giáp đường Tỉnh lộ 669 có chiều dài là
21m + 10m = 31m. Như vậy, thông tin cung cấp tại Biên bản xác minh ngày
08/9/2026 có sự mâu thuẫn, không thống nhất với tài liệu, chứng cứ được thể hiện
trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông C và ông
T.
[2.3.2] Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/9/2026, ông C, bà N cho rằng ông,
bà biết việc ông T, bà H xây dựng nhà, công trình kiến trúc trên đất vào năm 2009.
Từ thời điểm được tặng cho đất các bên không đo đạc lại thửa đất do đã sử dụng
ổn định và không phát sinh tranh chấp. Đến khi ông C, bà N đề nghị cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mới phát hiện ông T, bà H xây dựng nhà lấn chiếm
một phần đất của ông C, bà N.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/9/2026, ông T, bà H cũng xác định thời
điểm ông bà xây dựng nhà, công trình kiến trúc là vào năm 2009, việc xây dựng
nhà được chính quyền địa phương, ông C, bà N biết; thời điểm xây dựng nhà giữa
ông C, bà N và ông T, bà H có thống nhất kéo thước đo đạc, xác định ranh giới
để ông T, bà H xây dựng nhà; việc bà D tặng cho thêm cho ông T, bà H phần đất
có chiều ngang 2m, chiều dài chạy hết đất được ông C, bà N biết nhưng không
làm thủ tục tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất. Kèm theo là Giấy phép xây dựng
số 0083/GPXD ngày 06/5/2009 của ông Lê Công T, được UBND xã Đ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/9/2026, bà D1 cũng xác định bà biết ông
T, bà H xây dựng nhà, công trình kiến trúc là vào năm 2009, thừa nhận cũng trong
năm 2009 bà có tặng thêm cho ông T, bà H phần đất có chiều ngang 2m, chiều
dài chạy hết đất được ông C, bà N biết nhưng không làm thủ tục tách thửa, chuyển
quyền sử dụng đất.
Như vậy, quá trình sử dụng đất các bên không có ý kiến gì về hiện trạng sử
dụng đất, ông C, bà N không phản đối việc ông T, bà H xây dựng nhà, các công
trình kiến trúc, cũng như việc ông T, bà H sử dụng đất như đã phân chia nên có
căn cứ xác định hiện trạng sử dụng đất là phù hợp với sự ý chí, thỏa thuận của các
bên trong quá trình sử dụng đất nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông C, bà N về việc buộc ông T, bà H trả lại phần đất lấn chiếm.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa
đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ thu thập, bản chất của sự việc, ý chí của
các đương sự, cũng như nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất của các bên. Do đó,
có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H,
sửa bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí
12
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Công T và bà Tô
Thị Hồng H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 35 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng Dân sự; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người chưa thành niên;
Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025;
Căn cứ vào Điều 26, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều
95, Điều 96, Điều 97, Điều 99, Điều 101, Điều 104, Điều 106, Điều 108, Điều
143, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227,
Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 26, Điều 166, Điều 170, Điều 202 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 158, Điều 163, Điều 166, khoản 1 Điều 175, Điều 176, Điều
357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T3 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H.
2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 11 tháng 12 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 – Gia Lai, giữa nguyên đơn ông Lê Công
C, bà Huỳnh Thị Kim N và bị đơn ông Lê Công T, bà Tô Thị Hồng H về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tuyên xử:
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Công C và
bà Huỳnh Thị Kim N về việc buộc bị đơn ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H
phải trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 438,9m
2
, tại thôn A, xã K, tỉnh Gia
Lai.
4. Về chi phí tố tụng:
Ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N phải chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Ông C và bà N đã
nộp đủ.
5. Về án phí:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Công C và bà Huỳnh Thị Kim N phải chịu 3.643.875 (ba triệu sáu
trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm,
13
được trừ vào 10.000.000 (mười triệu) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002381 ngày
30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 – Gia Lai). Trả lại cho ông Lê Công C và
bà Huỳnh Thị Kim N số tiền 6.356.125 (sáu triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn
một trăm hai mươi lăm) đồng.
5.2. Về án phí dân sự phúc thẩm
Trả lại cho ông Lê Công T và bà Tô Thị Hồng H số tiền 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0007032 ngày 25/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 14 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 14 – Gia Lai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 289/2026/DS-PT Bản án số 289/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 289/2026/DS-PT Bản án số 289/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất