Bản án số 267/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 267/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 267/2026/DS-PT ngày 16/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 267/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 267/2026/DS-PT Bản án số 267/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 267/2026/DS-PT
Ngày 16 tháng 9 năm 2026
“V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Vĩnh Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đường Thái Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 16 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ cơ sở 2, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
302/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số
42/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú
Thọ bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
01/2026/QĐ-DS ngày 10 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Ánh P, sinh năm 1973; CCCD số: ************;
địa chỉ: Khu F, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Bà Tạ Thị L, sinh năm 1983;
CCCD số: ************; địa chỉ: P908 K, KĐT V, phường V, thành phố Hà
Nội theo văn bản ủy quyền ngày 30/3/2026 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Vũ Trọng L1, sinh năm 1982; CCCD số: ************;
nơi cư trú: Số B, phố P, TDP T, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông L1: Bà Nguyễn Thị Bạch Y, sinh
2
năm 1963; CCCD số: ************; địa chỉ: TDP Đ, phường V, tỉnh Phú Thọ
theo văn bản ủy quyền ngày 12/11/2020 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L1 bao gồm:
- Ông Nguyễn Minh Đ; CCCD số: ************ là Luật sư Công ty L6
(có mặt).
- Ông Khương Ngọc Q; CCCD số: ************ là Luật sư văn phòng
L7 (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lăng Thị Đ1, sinh năm 1986; CCCD số ************; địa chỉ: Số
B, phố P, TDP T, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lăng Thị Đ1: Bà Nguyễn Thị Bạch
Y, sinh năm 1963; CCCD số ************; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường V,
tỉnh Phú Thọ theo văn bản ủy quyền ngày 12/11/2020 (có mặt).
+ Ông Phùng Văn Đ2, sinh năm 1963; CCCD số ************ và bà Vũ
Thị Anh V, sinh năm 1971; CCCD số ************ đều có địa chỉ tại tổ dân
phố V, phường V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
+ Bà Phùng Thị T, sinh năm 1965 (có đơn đề nghị vắng mặt).
+ Ông Phùng Văn D, sinh năm 1968 (có đơn đề nghị vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1971 (có đơn đề nghị vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (có đơn đề nghị vắng mặt).
Cùng địa chỉ: TDP V, phường V, tỉnh Phú Thọ.
+ Bà Đỗ Thị Hồng N, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà B, đường T, phường
V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
+ Bà Khổng Thị Thu C, sinh năm 1976 và ông Bùi Văn L2, sinh năm
1971; CCCD số ************; cùng địa chỉ: Số nhà F; Đường N, phường V,
tỉnh Phú Thọ (ông L2 có mặt, bà C vắng mặt).
+ Văn phòng C2; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện
theo pháp luật: Bà Phùng Ánh T2 - Trưởng Văn phòng (vắng mặt).
+ Công chứng viên Phùng Ánh T2; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ.
+ Văn phòng C2; địa chỉ: Số A, khu Đô thị C, phường V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Điều L3 - Trưởng Văn
phòng, vắng mặt (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú
3
Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2020 và các lời khai tiếp theo nguyên
đơn trình bày:
Bà Vũ Ánh P là chủ sử dụng thửa đất số 519, tờ bản đồ số 30, diện tích
100m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh V cấp ngày 09/12/2015, mang tên Vũ Ánh P (gọi tắt thửa đất
519). Nguồn gốc thửa đất nêu trên do bà P nhận chuyển nhượng của các thành
viên trong gia đình ông Phùng Văn Đ2. Việc chuyển nhượng hoàn toàn hợp
pháp, có lập hợp đồng tại Văn phòng C2 làm thủ tục sang tên GCN tại Văn
phòng đăng ký đất đai.
Sau khi nhận chuyển nhượng và được cấp GCN, do chưa có nhu cầu xây
dựng nhà ở nên bà P để thửa đất trống. Đến khi bà có nhu cầu xây dựng nhà ở
thì được biết vợ chồng ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 đã tự ý xây nhà ở 03
tầng trên thửa đất bà đã được Nhà nước cấp GCN. Bà P đã có đơn đề nghị
UBND phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là phường V, tỉnh Phú Thọ
giải quyết vụ việc. Lần 1: UBND phường K mời vợ chồng ông Vũ Trọng L1, bà
Lăng Thị Đ1 đến UBND phường để giải quyết nhưng ông L1, bà Đ1 không hợp
tác, không đến làm việc, UBND phường đã lập biên bản không hoà giải được;
Lần 2, UBND phường K tiếp tục tổ chức hoà giải, bà P yêu cầu ông L1, bà Đ1
phải tháo dỡ công trình và trả lại thửa đất thì ông L1 cho rằng thửa đất của bà P
được ông L1 đặt cọc tiền cho ông Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C để thoả
thuận chuyển nhượng, hai bên chưa làm thủ tục sang tên nên ông L1, bà Đ1
không đồng ý trả lại đất cho bà P nên hoà giải không thành.
Nhận thấy, việc ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 xây dựng công nhà ở
trái phép trên thửa đất và sử dụng thửa đất của bà P đã được cấp GCN là xâm
phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P.
Vì vậy, bà P khởi kiện ông Vũ Trọng L1 đề nghị Toà án giải quyết buộc
ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái
phép và trả lại quyền sử dụng thửa đất số 519 cho bà P. Bà tự xác định giá trị đất
tại vị trí tranh chấp là 5.000.000đ/m
2
. Đối với yêu cầu phản tố của ông Vũ Trọng
L1 về việc tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với các
thành viên trong gia đình ông Phùng Văn Đ2 vô hiệu, bà đề nghị giải quyết theo
4
quy định của pháp luật và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô
hiệu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà tự nguyện hỗ trợ cho
vợ chồng ông L1, bà Đ1 số tiền 1.000.000.000đ là giá trị ngôi nhà do ông L1, bà
Đ1 xây dựng nhà trên đất.
Về chi phí tố tụng, bà P tự chịu không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án
phí dân sự sơ thẩm, bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Vũ Trọng L1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà
Lăng Thị Đ1 do người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Bạch Y trình
bày:
Ngày 31/3/2014, ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 có nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của ông Bùi Văn L2 và bà Khổng Thị Thu C diện
tích 100m
2
đất ở thửa đất số 519, tờ bản đồ số 30 có địa chỉ thửa đất ở khu dân
cư tự xây đứng tên ông Phùng Văn Đ2 nay là số nhà B đường P, phường V, tỉnh
Phú Thọ. Nguồn gốc diện tích đất này 519 này là do ông Bùi Văn L2, bà Khổng
Thị Thu C nhận chuyển nhượng của ông Phùng Văn Đ2 với giá là
765.000.000đ, việc này được lập thành văn bản có chữ ký của ông L2, bà C và
có xác nhận của UBND phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc trước đây nay
là UBND phường V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, ông L1, bà Đ1 có đặt cọc cho ông L2, bà C số tiền là 600.000.000đ
và có lập hợp đồng đặt cọc tại Phòng C3. Số tiền còn lại 165.000.000đ thì hai
bên thỏa thuận 01 tháng sau ông L1, bà Đ1 sẽ thanh toán nốt cho ông L2, bà C.
Về trách nhiệm làm thủ tục sang tên, ông L2 và bà C phải có trách nhiệm làm
thủ tục sang tên thửa đất nêu trên cho ông L1, bà Đ1.
Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên, ông L1, bà Đ1 đã xây nhà
03 tầng trên đất vào năm 2015 và sử dụng ổn định từ năm 2016 đến nay. Ông
L1, bà Đ1 đã trả nốt số tiền 165.000.000đ cho ông L2, bà C để ông L2, bà C làm
thủ tục chuyển nhượng như đã thỏa thuận. Khoảng đến giữa năm 2018, bà C cho
ông L1, bà Đ1 biết GCN đứng tên ông Phùng Văn Đ2 đang do bà C giữ để làm
thủ tục sang tên cho ông L1, bà Đ1 đang bị bà Đỗ Thị Hồng N giữ để đòi nợ ông
L2, bà C. Ông L2, bà C đang thương lượng với bà N để lấy lại GCN nêu trên.
Do chờ mãi không thấy ông L2, bà C trả lời nên đến tháng 8/2020 ông L1, bà
Đ1 đến Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V tìm hiểu thì được biết thửa đất
nêu trên đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh V cấp GCN cho bà Vũ Ánh P
vào ngày 09/12/2015. Nay bà P khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L1, bà Đ1 phá
5
dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất để trả lại thửa đất nêu trên cho bà P thì
ông L1, bà Đ1 không đồng ý với lý do sau đây:
Thứ nhất: Ông L1, bà Đ1 đã mua đất từ tháng 3/2014 và đã xây tường bao
loan thửa đất này.
Thứ hai: Thời gian bà P nhận chuyển nhượng thửa đất số 519 từ ông Đ2
thì vợ chồng ông L1, bà Đ1 đang xây nhà trên đất. Thời điểm nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của bà Khổng Thị Thu C và ông Bùi Văn L2 thì thửa
đất chưa được cấp GCN đứng tên ông Đ2 (đại diện cho một số hộ dân), việc ông
Đ2 có được chính quyền địa phương giao đất hay không thì chưa rõ. Ông Đ2 đã
giao đất cho ông L2, bà C. Sau đó ông L2, bà C giao đất tại thực địa cho vợ
chồng ông L1, bà Đ1 nhưng hai bên không lập biên bản về việc giao đất. Sau khi
được giao đất tại thực địa, ông L1 và bà Đ1 xây nhà trên thửa đất nhận chuyển
nhượng chứ không xin giấy phép xây dựng gì.
Đồng thời, ông L1 có yêu cầu phản tố đề nghị tuyên bố “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D,
bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với bà Vũ Ánh P được
công chứng tại Văn phòng C2 số: 1254/2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-
SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015 vô hiệu và yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu”.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Hồng N trình
bày:
Năm 2011, vợ chồng ông Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C có quan hệ
quen biết làm ăn kinh doanh với bà N. Quá trình làm ăn kinh doanh ông L2, bà
C với bà N có nhiều lần vay mượn tiền qua lại. Vợ chồng ông L2, bà C có nợ bà
N số tiền khoảng hơn 900.000.000đ. Bà N được biết, bà C có thoả thuận đặt cọc
để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Đ2 và bà C đã trả ông Đ2 số
tiền 550.000.000đ, số tiền còn lại là 120.000.000đ chưa thanh toán và các bên
chỉ làm thủ tục đặt cọc, chưa thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định
của pháp luật. Để vay tiền của bà N thì bà C có tự nguyện giao GCN đứng tên
của anh chị em gia đình ông Đ2 cho bà N giữ để làm tin. Với mục đích thu hồi
khoản nợ của bà C thì bà N liên hệ với ông Đ2 để thoả thuận thống nhất với ông
Đ2 tìm người mua đất để hai bên có thể lấy được tiền do bà C nợ. Theo đó, năm
2015, bà N có giới thiệu bà Vũ Ánh P đến thoả thuận mua bán chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với gia đình ông Phùng Văn Đ2 (gồm có: ông Phùng Văn Đ2,
6
Phùng Văn D, Phùng Thị T, Nguyễn Mạnh H, Nguyễn Thị T1) vì đây là tài sản
chung, quyền sử dụng của gia đình ông Đ2 là 01 thửa đất dịch vụ có diện tích
100m
2
; địa chỉ: Khu D và khu đất dịch vụ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Phúc.
Bà P là người trực tiếp thoả thuận việc chuyển nhượng thửa đất số 519 với
anh em gia đình ông Đ2 và ông Đ2 là người trực tiếp đưa bà N, bà P đến xem,
chỉ rõ vị trí thửa đất. Bà N biết khi đó hai bên thoả thuận giá chuyển nhượng là
670.000.000đ và khi đi xem đất thì bà N thấy đất trống, chưa có xây dựng công
trình gì trên đất. Việc giao nhận tiền và ký kết hợp đồng chuyển nhượng do các
bên tự thoả thuận và thống nhất; bà N không có tham gia. Khi thoả thuận chuyển
nhượng đất với bà P thì bà N thấy ông Đ2 có liên hệ với bà C, ông L2 để thông
báo sự việc và vợ chồng bà C, ông L2 không có bất kỳ ý kiến gì. Hai bên hoàn
tất các thủ tục chuyển nhượng đất và bà P tiến hành thủ tục cấp GCN mang tên
mình.
Sau khi bà P giao số tiền chuyển nhượng đất là 670.000.000đ cho anh em
ông Đ2 thì bà N đề nghị nhận lại số tiền 550.000.000đ mà trước đó bà C, ông L2
đã thanh toán cho gia đình ông Đ2. Khi nhận lại số tiền này bà N có viết giấy
biên nhận cho gia đình ông Đ2 nội dung bà N chịu trách nhiệm với ông Đ2 về số
tiền đã nhận của bà C, ông L2 để trừ vào khoản tiền mà bà C nợ bà trước đó, kể
từ ngày 02/10/2015, ông Đ2 không phải trả số tiền trên cho bà C, ông L2 nữa.
Bà N xác định việc chuyển nhượng đất giữa bà P với gia đình ông Đ2 là
hoàn toàn tự nguyện thoả thuận thống nhất, trên đất không có bất kỳ công trình
nào. Tất cả anh chị em gia đình ông Đ2 là đồng chủ sử dụng đất đều đồng ý nhất
trí tự nguyện ký kết hợp đồng và là người trực tiếp nhận tiền chuyển nhượng đất
của bà P. Quan điểm của bà N đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
bà Vũ Ánh P.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phùng Văn Đ2 trình
bày:
Ông Phùng Văn Đ2 có lô đất dịch vụ (đứng đại diện cho mọi người trong
gia đình gồm ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Mạnh H, bà
Nguyễn Thị T1) mang tên Phùng Văn Đ2. Địa chỉ thửa đất tại Khu dân cư tự
xây thuộc TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc diện tích 100m
2
. Do
chưa có nhu cầu sử dụng ông Đ2 có ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng thửa
đất này cho ông Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C vào ngày 29/3/2014. Thoả
7
thuận giá chuyển nhượng là 6.700.000đ/m
2
. Tổng giá trị chuyển nhượng là
663.300.000đ, ông L2, bà C trả trước 30.000.000đ. Số tiền còn lại hẹn đến ngày
29/5/2014 để thanh toán hết. Đồng thời cũng cam kết khi thửa đất được cấp
GCN đứng tên gia đình ông Đ2, gia đình ông Đ2 sẽ có trách nhiệm ký hợp đồng
chuyển nhượng sang tên cho ông L2, bà C; còn mọi thủ tục cũng như nghĩa vụ
tài chính ông L2, bà C phải chịu. Bà C tự đi làm thủ tục cấp GCN cho gia đình
ông Đ2. Sau đó bà C tự giữ bìa đỏ, gia đình ông Đ2 không được biết. Tuy nhiên
ông L2, bà C còn nợ gia đình ông Đ2 số tiền 113.300.000đ chưa thanh toán. Vào
khoảng tháng 10/2015, bà Vũ Ánh P cùng một nguời tên là N, họ tên cụ thể ông
Đ2 không nhớ có đến nhà ông Đ2 mang theo GCN thửa đất nêu trên mà ông Đ2
đã cam kết chuyển nhượng cho bà C, ông L2 và đề nghị ông Đ2 ký hợp đồng
chuyển nhượng đất sang tên bà P. Ông Đ2 có thắc mắc vì sao bà P lại có bìa đỏ
của gia đình ông Đ2 thì bà P cho biết vì bà C nợ tiền bà P nên khi thấy bìa đỏ
này ở trên xe của bà C thì bà P đã lấy để trừ vào số tiền bà C còn nợ. Đồng thời
cũng cho ông Đ2 biết việc này bà C cũng biết và đồng ý. Ông Đ2 có nói bà C
còn nợ ông hơn 100.000.000đ thì bà P có nói sẽ đứng ra thanh toán số tiền trên
cho ông Đ2, nếu ông Đ2 và các đồng sở hữu ký hợp đồng chuyển nhượng cho
bà P. Do tin tưởng việc bà P nói là thật nên ông Đ2 tập hợp anh em cùng đứng
tên trong GCN tại nhà ông Đ2 rồi cùng nhau lên phòng C4 để ký hợp đồng
chuyển nhượng. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì bà P thanh toán cho
ông Đ2 số tiền bà C, ông L2 chưa thanh toán cho ông Đ2 là 120.000.000đ. Tuy
nhiên, tại biên bản giao tiền ngày 02/10/2015 bà P lại ghi giao cho gia đình ông
Đ2 tổng số tiền là 670.000.000đ là không chính xác. Thực tế gia đình ông Đ2
chỉ nhận từ bà P 120.000.000đ.
Đối với yêu cầu của ông L1 đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà P với ông thì quan điểm của ông là đồng ý và sẽ trả
lại số tiền 120.000.000đ cho bà P đồng thời yêu cầu bà P trả lại GCN cho ông để
ông ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L2, bà C như thỏa
thuận ban đầu.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị Vân A là vợ ông
Đ2 có lời khai giống như ông Phùng Văn Đ2 và thể hiện quan điểm như sau:
Bà Vân A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà P vì thực tế thửa đất
này vợ chồng bà và các đồng sử dụng bán cho bà C, ông L2 chứ không hề có ý
định bán cho bà P; việc ký hợp đồng cho bà P là do bà P nói dối đã có sự đồng ý
8
của vợ chồng C, L2. Bà Vân A đã nhận được các thông báo thụ lý, các giấy triệu
tập của Toà án, thông báo Hoà giải tuy nhiên do công việc rất bận nên bà Vân A
đề nghị Toà án không triệu tập bà Vân A lên làm việc nữa. Bà Vân A giữ
nguyên quan điểm là không có gì liên quan, không biết gì về vụ việc này, không
có đề nghị gì nên bà xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra
bà không có yêu cầu gì khác.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn L2 và
bà Khổng Thị Thu C đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nội dung
trình bày thống nhất như sau:
Ông Phùng Văn Đ2 có lô đất dịch vụ số 519 (đứng đại diện cho các anh
em trong gia đình gồm ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Mạnh
H, bà Nguyễn Thị T1) mang tên Phùng Văn Đ2. Do chưa có nhu cầu sử dụng
ông Đ2 ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng thửa đất này cho vợ chồng ông Bùi
Văn L2, bà Khổng Thị Thu C vào ngày 29/3/2014; giá chuyển nhượng hai bên
thỏa thuận là 6.700.000đ/m
2
, tổng giá trị chuyển nhượng 663.300.000đ; vợ
chồng bà C, ông L2 đặt cọc 30.000.000đ. Số tiền còn lại hẹn đến ngày
29/5/2014 để thanh toán nốt. Khi bà C, ông L2 đặt cọc tiền xong, ông Đ2 đã đưa
quyết định giao đất cho vợ chồng bà C, ông L2 làm thủ tục cấp GCN thửa đất
trên; Hai bên thỏa thuận mọi thủ tục và nghĩa vụ tài chính đều do phía vợ chồng
bà C, ông L2 chịu trách nhiệm. Quá trình làm thủ tục cấp GCN, bà C, ông L2 đã
trả thêm cho ông Đ2 520.000.000đ. Do vậy, tổng số tiền vợ chồng ông bà Lục
C1 đã trả cho ông Đ2 là 550.000.000đ, còn nợ lại 113.300.000đ.
Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 519 nêu trên từ ông Đ2
thì đến ngày 31/3/2014 vợ chồng bà C1, ông L2 đã chuyển nhượng thửa đất này
cho vợ chồng ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 với giá 765.000.000đ (ông L1
đã trả 600.000.000đ và sau một thời gian ông L1 trả số tiền còn lại là
165.000.000đ). Do vậy, vợ chồng ông L1, bà Đ1 trả đủ vợ chồng bà C1, ông L2
số tiền 765.000.000đ. Sau khi nhận đủ tiền từ ông L1 thì bà C1, ông L2 đã mời
cán bộ địa chính phường K ra đo đạc, cắm mốc giới và bàn giao đất cho ông L1.
Đến tháng 9/2014 khi thửa đất được cấp GCN, bà C1 để GCN này trên xe ô tô
thì sáng ngày hôm sau bà Đỗ Thị Hồng N đi cùng xe ô tô của bà C1 nhìn thấy
GCN này trên xe nên đã tự ý giữ mặc dù bà C1, ông L2 không đồng ý. Bà C1
đòi lại nhưng bà N không trả GCN với lý do bà N bảo bà C1 còn nợ tiền bà N
(tiền nợ vay lãi ngày từ 2,5% đến 5%/triệu/ngày) nên bà N cầm bìa đỏ này để
9
làm tin, khi nào bà C1 trả hết nợ cho bà N thì bà N mới trả GCN cho bà C1; Bà
C1 nhiều lần gặp bà N để đòi lại bìa đỏ nhưng bà N bảo bà N đã đưa bìa đỏ này
cho bà Vũ Ánh P vì lúc đó bà N nợ tiền bà P. Sau khi biết bà P cầm bìa đỏ, bà
C1 lại tiếp tục gặp bà P để đòi lại bìa nhưng bà P không đồng ý. Bà P bảo bà P
đã trả nốt số tiền nợ cho ông Đ2 tổng là 130.000.000đ và đã ký hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất này sang cho bà P rồi. Bà C1 nhiều lần nói với bà N và
bà P việc bìa đỏ này không liên quan tới nợ nần, bà C1 sẽ có trách nhiệm hoàn
trả cho bà P số tiền do bà P đã trả cho ông Đ2 là 130.000.000đ và 70.000.000đ
tiền lãi để lấy bìa đỏ về trả cho ông L1 vì bà C1, ông L2 đã bán thửa đất này cho
ông L1 nhưng bà P vẫn không trả lại bìa đỏ cho bà C1. Bà C1, ông L2 thấy việc
ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ2 với bà Vũ Ánh
P thì vợ chồng ông bà Lục C1 không biết. Sau khi bà P thông báo thửa đất đó
ông Đ2 đã sang tên cho bà P thì bà C1, ông L2 mới biết.
Nay bà Vũ Ánh P khởi kiện ông Vũ Trọng L1 yêu cầu ông L1 phải tháo
dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên thửa đất số 519 thì quan điểm của
bà C1, ông L2 là: Không đồng ý với yêu cầu của bà P vì thực tế thửa đất này
ông Đ2 đã chuyển nhượng cho bà C1, ông L2 và vợ chồng bà C1, ông L2 đã
chuyển nhượng lại cho ông Vũ Trọng L1; còn việc bà P trả nốt tiền cho ông Đ2
cụ thể bao nhiêu tiền và ký kết hợp đồng chuyển nhượng thời gian nào vợ chồng
bà C1, ông L2 không biết. Việc ký kết hợp đồng này do bà P và bà N cấu kết lừa
ông Đ2. Bà C1, ông L2 đề nghị bà N phải có trách nhiệm trả lại bìa đỏ đã lấy
cho vợ chồng ông bà để ông bà hoàn thiện thủ tục sang tên cho ông Vũ Trọng
L1.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị T,
Phùng Văn D, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Mạnh H trình bày:
Những người liên quan nêu trên và ông Phùng Văn Đ2 cùng sở hữu một
thửa đất dịch vụ số 519 đã thống nhất để cho ông Phùng Văn Đ2 đại diện đứng
tên. Tuy là sở hữu chung nhưng tất cả việc mua bán chuyển nhượng thửa đất này
những người liên quan đều không nắm rõ vì tin tưởng ông Đ2 và đã giao toàn
quyền quyết định cho ông Đ2. Những người liên quan cũng nghe nói ông Đ2
bán thửa đất đó cho vợ chồng bà C1, ông L2 nhưng cụ thể bán thời gian nào, giá
cả bao nhiêu những người liên quan không nắm được. Khi ông Đ2 bán đất cho
vợ chồng bà C1, ông L2 thì ông Đ2 có đưa tiền cho những người này nhưng thời
gian đã lâu nên không nhớ lúc đó ông Đ2 đưa cho bao nhiêu tiền. Do đã nhận
10
tiền nên những người liên quan cho rằng họ không còn phần sở hữu chung trong
thửa đất đó và những người liên quan không còn liên quan gì nên việc ông Đ2
mua bán với ai họ cũng không liên quan. Việc ông Đ2 ký kết hợp đồng chuyển
nhượng thửa đất này cho bà Vũ Ánh P thì những người liên quan thừa nhận chữ
ký trong hợp đồng là chữ ký của họ, còn nội dung hợp đồng là gì những người
liên quan không biết vì họ không hề đọc. Ông Đ2 bảo người liên quan ký thì họ
ký vào đó. Việc mua bán thửa đất này giữa bà C1, ông L2 với ông Vũ Trọng L1
những người liên quan không nắm được và không liên quan gì.
Nay bà Vũ Ánh P khởi kiện ông Vũ Trọng L1 yêu cầu ông L1 phải tháo
dỡ công trình xây dựng trên thửa đất có tranh chấp, quan điểm của những người
liên quan là họ không biết gì và không liên quan gì tới vụ việc này. Những
người liên quan đã nhận được các thông báo thụ lý, các giấy triệu tập của Toà
án, thông báo Hoà giải tuy nhiên do công việc rất bận nên những người liên
quan đề nghị Toà án không triệu tập họ lên làm việc nữa. Những người liên quan
vẫn giữ nguyên quan điểm là họ không có liên quan gì, không biết gì về vụ việc
này, không có đề nghị gì nên những người liên quan xin phép vắng mặt trong
toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Ánh T2 trình bày:
Ngày 09/10/2015, Văn phòng C2 trước đây là Văn phòng C2 nhận được
yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Bên
chuyển nhượng là ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông
Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng là bà Vũ Ánh
P. Bà T2 là người trực tiếp thụ lý giải quyết hồ sơ. Sau khi kiểm tra hồ sơ pháp
lý, năng lực hành vi dân sự của các bên thấy các tài liệu do các bên cung cấp là
đầy đủ, các bên đều có năng lực hành vi dân sự đã tiến hành công chứng Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Bên chuyển nhượng gồm: ông
Phùng Văn Đ2, Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn
Thị T1 với Bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P là có căn cứ và hợp pháp,
không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, bà T2 đã cho
tiến hành soạn thảo văn bản để công chứng theo yêu cầu của các đương sự.
Sau khi soạn thảo xong các Văn bản, Hợp đồng nêu trên, bà T2 đã yêu cầu
các bên tự đọc lại bản cam kết, hợp đồng, đồng thời giải thích rõ quyền, nghĩa
vụ, hậu quả pháp lý của việc giao kết Hợp đồng cho các bên nghe. Các bên đã tự
đọc, đồng ý toàn bộ nội dung của bản cam kết và hợp đồng, khi được hỏi, các
11
bên xác nhận đã hiểu rõ những nội dung công chứng viên đã giải thích, ông Trần
Quang H2 và bà Vũ Ánh P đã ký tên vào từng trang của Văn bản cam kết về tài
sản riêng; ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn
Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 và bà Vũ Ánh P đã ký tên vào từng trang của Hợp
đồng, đồng thời điểm chỉ vào Hợp đồng trước sự chứng kiến của bà T2. Sau đó,
thực hiện trách nhiệm của mình phạm vi quyền hạn theo quy định của pháp luật,
bà T2 đã công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số:
1254.2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-SCC/HĐGD. Và công chứng Văn bản
cam kết về tài sản riêng số: 1255/2015/VBTT; Quyển số: 02-TP/CC-
SCC/HĐGD.
Như vậy, việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
văn bản thoả thuận về tài sản riêng nêu trên được thực hiện theo đúng quy định
của Luật Công chứng về trình tự, thủ tục, nội dung công chứng.
Bà Vũ Ánh P khởi kiện yêu cầu “ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1
phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên thửa đất số: 519 và trả
lại quyền sử dụng thửa đất số: 519, tờ bản đồ số 30, diện tích 100m
2
, địa chỉ:
KDC tự xây và khu đất dịch vụ phường K, thành phố V cho bà P” thì không
thuộc trách nhiệm của Công chứng viên, bà T2 đề nghị Toà án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Ông Vũ Trọng L1 yêu cầu “tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông
Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với bà Vũ Ánh P được công chứng tại Văn
phòng C2 số: 1254/2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày
09/10/2015 vô hiệu” là không có căn cứ, vì việc giao kết Hợp đồng đúng quy
định, bà T2 đề nghị Toà án bác bỏ toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Người làm chứng trong vụ án ông Đỗ Minh L4 là hàng xóm với gia
đình ông L1, bà Đ1 trình bày:
Đầu năm 2015, vợ chồng ông bà Liền Đ3 xây nhà ở tại phố P, tổ dân phố
T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện ông bà Liền Đ3 đang ở số nhà
B, phố P, tổ dân phố T I, Phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 24
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đã quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều
40, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 688 Bộ luật Dân sự năm
12
2015; Điều 166, Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều
188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 79 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính Phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đai;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án. Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P:
1.1 Buộc ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1 phải trả lại thửa đất số 519,
tờ bản đồ số 30, diện tích: 100m
2
; địa chỉ: K tự xây và khu đất dịch vụ phường
K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là số nhà B, đường P, phường V, tỉnh Phú
Thọ theo GCN số CB 613815 số vào sổ GCN: CS 03660, do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh V nay là Sở Nông Nghiệp và Môi trường tỉnh P cấp ngày
09/12/2015, đứng tên chủ sử dụng đất bà Vũ Ánh P cho bà Vũ Ánh P.
1.2 Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Ánh P thanh toán cho ông Vũ Trọng
L1 và bà Lăng Thị Đ1 1.000.000.000 đồng tiền xây dựng căn nhà 03 tầng xây
trên thửa đất số 519, tờ bản đồ số 30, diện tích 100m
2
; địa chỉ: KCD tự xây và
khu đất dịch vụ phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là số nhà B, đường
P, phường V, tỉnh Phú Thọ. Bà Vũ Ánh P có quyền sở hữu căn nhà nêu trên sau
khi thanh toán số tiền 1.000.000.000 đồng cho ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị
Đ1.
1.3 Kể từ ngày có đơn thi hành án, bà Vũ Ánh P phải thanh toán
1.000.000.000 đồng cho ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1 tiền xây dựng căn
nhà 03 tầng xây trên nếu không sẽ phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
1.4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Vũ Trọng L1 về việc
“Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phùng Văn Đ2,
ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với
bà Vũ Ánh P được công chứng tại Văn phòng C2 số: 1254/2015/HĐCN; Quyển
số: 02-TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015 vô hiệu và yêu cầu giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền
kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2025, ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị
Đ1 kháng cáo nội dung đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
13
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P về việc buộc ông L1, bà Đ1 trả lại thửa
đất và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông L1 tuyên bố Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà
Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với bà Vũ Ánh P được
công chứng tại Văn phòng C2 số: 1254/2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-
SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015 là vô hiệu; ngày 09/10/2025 Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 9- Phú Thọ kháng nghị phúc thẩm đề nghị sửa bản án dân sự
sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P và
chấp nhận yêu cầu phán tố của ông Vũ Trọng L1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà
Vũ Ánh P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Vũ Trọng L1 vẫn giữ nguyên
nội dung kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên nội
dung kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo nội dung kháng cáo và
kháng nghị.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp
nhận kháng cáo của ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 và chấp nhận kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ; sửa Bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P về việc buộc ông
L1, bà Đ1 trả lại thửa đất số 519 và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Vũ
Trọng L1 tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà
Nguyễn Thị T1 với bà Vũ Ánh P được công chứng tại Văn phòng C2 số:
1254/2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015 là
vô hiệu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1
và Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú
Thọ trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét,
giải quyết.
[2]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các đương
14
sự đến tham dự phiên tòa và các đương sự đã nhận được văn bản của Tòa án hợp
lệ. Tuy nhiên một số đương sự vắng mặt tại phiên tòa đã ủy quyền cho người
khác tham gia tố tụng hoặc yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án đưa vụ án
ra xét xử vắng mặt là phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Vũ Ánh P (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Vũ Trọng L1
(bị đơn), bà Lăng Thị Đ1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) phải tháo dỡ
toàn bộ công trình xây dựng trên thửa đất 519 để trả lại thửa đất cho bà P với lý
do thửa đất 519 này đã được nhà nước cấp GCN đứng tên bà P, có nguồn gốc bà
P đã nhận chuyển nhượng hợp pháp thông qua Hợp đồng ngày 09/10/2015 giữa
bà P với gia đình ông Phùng Văn Đ2; còn ông Vũ Trọng L1 (bị đơn) và bà Lăng
Thị Đ1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có quan điểm không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của bà P với lý do thửa đất 519 gia đình ông L1, bà Đ1 nhận
chuyển nhượng của ông L2, bà C1 và xây dựng công trình nhà ở trước khi ông
Đ2 chuyển nhượng cho bà P vào ngày 09/10/2015. Vì vậy, việc ông Đ2 ký Hợp
đồng chuyển nhượng thửa đất 519 cho bà P vào ngày 09/10/2015 là không đúng
pháp luật nên ông L1, bà Đ1 đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa gia đình ông Phùng Văn Đ2 với bà Vũ Ánh P đối với
thửa đất số 519 vào ngày 09/10/2015 là vô hiệu.
Hiện nay thửa đất số 519 đang tranh chấp và ông Vũ Trong L5 (bị đơn)
đều có địa chỉ tại phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là phường V, tỉnh
Phú Thọ. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản
1 Điều 38; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ. Sau khi xét
xử sơ thẩm bị đơn ông Vũ Trọng L1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà
Lăng Thị Đ1 và Viện Kiểm sát nhân dân khu vực I- Phú Thọ kháng nghị nên
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là
đúng về thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Bà Vũ Ánh P mặc dù được nhà nước cấp GCN thửa đất số 519 thông qua
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với gia đình ông Phùng Văn Đ2
vào ngày 09/10/2015; tuy nhiên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà P với gia đình ông Phùng Văn Đ2 ngày 09/10/2015 hiện nay ông L1 (bị
đơn), bà Đ1 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đề nghị Tòa án tuyên bố là
vô hiệu đang được Tòa án xem xét, giải quyết. Khi giải quyết tranh chấp, trường
15
hợp Tòa án xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
09/10/2015 giữa gia đình ông Phùng Văn Đ2 với bà Vũ Ánh P có hiệu lực pháp
luật thì bà P mới có quyền sử dụng thửa đất số 519 nói trên; còn trường hợp Tòa
án xác định Hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
09/10/2015 giữa gia đình ông Phùng Văn Đ2 với bà Vũ Ánh P vô hiệu theo yêu
cầu của ông L1, bà Đ1 thì bà P không có quyền sử dụng thửa đất số 519 này. Do
vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp
quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vô hiệu” là chưa đúng nên cấp phúc thẩm điều chỉnh cho phù hợp quy
định của pháp luật.
Về phạm vi và giới hạn xét xử trong vụ án: Bà Vũ Ánh P cho rằng thửa
đất số 519 bà P nhận chuyển nhượng hợp pháp từ gia đình ông Đ2 đã được nhà
nước cấp GCN đứng tên bà P nên đó là tài sản của bà P, do hiện nay ông L1, bà
Đ1 đang chiếm giữ thửa đất này bằng việc xây dựng công trình nhà ở trên đất
nên bà P đòi lại thửa đất mà không đề nghị Tòa án xem xét Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P với gia đình ông Đ2 ngày 09/10/2015 nữa;
tuy nhiên phía ông L1 (nguyên đơn) có yêu cầu độc lập đề nghị tuyên bố Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/10/2015 là vô hiệu; còn bà Đ1,
ông Đ2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) có quan điểm không công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P với gia đình ông Đ2 nên
đề nghị Tòa án xem xét đến tính hợp pháp của Hợp đồng ngày 09/10/2015 này
đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Cụ thể: Quá trình xét xử sơ
thẩm các đương có quan điểm với yêu cầu của ông L1 về việc tuyên bố Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P với gia đình ông Đ2 vô hiệu
thì bà P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Tại phiên tòa
phúc thẩm, trong phần xét hỏi người đại diện theo ủy quyền của bà P có quan
điểm: Mặc dù quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm phía bà P là nguyên đơn
không đề nghị công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
09/10/2015 giữa bà P với gia đình ông Đ2 có hiệu lực pháp luật nhưng do phía
ông L1, ông Đ2 đề nghị tuyên bố Hợp đồng này vô hiệu nên bà P đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm: Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà P với gia đình ông Đ2 ngày 09/10/2015 có hiệu lực pháp luật để buộc
ông L1, bà Đ1 trả lại thửa đất 519 cho bà P; còn phía ông Phùng Văn Đ2 là
16
người ký hợp đồng chuyển nhượng đất với bà P đề nghị hủy Hợp đồng giữa ông
Đ2 với bà P ngày 09/10/2015 và đồng ý trả lại bà P số tiền đã nhận là
120.000.000đ. Do vậy, mặc dù bà P (là nguyên đơn) quá trình giải quyết vụ án
tại cấp sơ thẩm không đề nghị công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa bà P với ông Đ2 nhưng các đương sự (ông L1 là bị đơn, bà Đ1,
ông Đ2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đề nghị xem xét) và tại
phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà P có đề nghị xem xét
tính hợp pháp của hợp đồng này nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét để
công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Vũ Ánh P với
gia đình ông Phùng Văn Đ2 ngày 09/10/2015 là không vượt quá yêu cầu giải
quyết vụ án và phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P và nội dung kháng cáo của
ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[4.1]. Về Nội dung vụ án:
Tại Quyết định số 2806/QĐ-UBND ngày 13/8/2013 của UBND thành phố
V đã giao thửa đất 519 cho hộ gia đình ông Phùng Văn Đ2 gồm các thành viên:
(1) ông Phùng Văn Đ2, (2) ông Phùng Văn D, (3) bà Phùng Thị T, (4) ông
Nguyễn Mạnh H, (5) bà Phùng Thị T3. Sau khi có quyết định giao đất, ngày
29/3/2014 ông Phùng Văn Đ2 đã ký Hợp đồng cam kết chuyển nhượng đất
dịch vụ thửa đất 519 này với bà Khổng Thị Thu C, ông Bùi Văn L2 thỏa thuận
giá chuyển nhượng là 663.000.000 đồng. Ông L2, bà C đã đặt cọc số tiền
30.000.000 đồng, số còn lại hẹn đến ngày 29/5/2014 thanh toán hết. Sau khi ký
hợp đồng thỏa thuận, ông Đ2 đưa quyết định giao đất cho ông L2, bà C để ông
L2, bà C làm thủ tục cấp GCN thửa đất 519 trên, hai bên thỏa thuận mọi thủ tục
và nghĩa vụ tài chính còn lại đối với thửa đất thì ông L2, bà C phải chịu toàn bộ.
Quá trình làm thủ tục cấp GCN thửa đất 519 thì phía ông L2, bà C đã trả thêm
cho ông Đ2 được 520.000.000 đồng nên còn nợ lại 113.000.000 đồng.
Sau khi ký hợp đồng cam kết nhận chuyển nhượng đất dịch vụ số 519 của
ông Phùng Văn Đ2 thì ngày 31/3/2014 ông L2, bà C ký Hợp đồng đặt cọc với
ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 về việc chuyển nhượng thửa đất 519 trên giá
chuyển nhượng do hai bên thỏa thuận là 765.000.000 đồng; phía gia đình ông
L1, bà Đ1 đã trả ông L2, bà C 600.000.000 đồng, số tiền còn lại hai bên thỏa
thuận khi nào thửa đất có đủ điều kiện chuyển nhượng trả sẽ nốt cho bên chuyển
nhượng. Đến ngày 09/9/2014, ông Phùng Văn Đ2 và các đồng sử dụng đất là
17
ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Mạnh H, bà Phùng Thị N1
được nhà nước cấp GCN. Ngày 09/10/2015, ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị
T, ông Phùng Văn D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1 ký Hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất 519 cho bà Vũ Ánh P được công chứng tại Văn phòng
C2 với giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 350.000.000 đồng. Tuy nhiên,
trên thực tế hai bên chuyển nhượng thửa đất 519 này với giá chuyển nhượng là
670.000.000 đồng, thể hiện bằng Giấy biên nhận tiền ngày 02/10/2015 giữa bên
chuyển nhượng là ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông
Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng là bà Vũ Ánh
P về nội dung hai bên đã thanh toán cho nhau đủ số tiền 670.000.000 đồng. Sau
khi hoàn thiện các thủ tục theo quy định của pháp luật, ngày 09/12/2015 bà Vũ
Ánh P được nhà nước cấp GCN đối với thửa đất này. Hiện nay thửa đất số 519
này vợ chồng ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 đã xây dựng ngôi nhà 03 tầng
trên đất; theo phía nguyên đơn Vũ Ánh P thì sau khi ký Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất 519 thì bà P đã được ông Phùng Văn Đ2 đưa
đến bàn giao đất trên thực địa và tại thời điểm bàn giao này thửa đất vẫn là đất
trống chưa có công trình xây dựng gì trên đất; còn phía ông Phùng Văn Đ2 trình
bày là bản thân không biết cụ thể vị trí thửa đất 519 ở đâu và không có việc bàn
giao đất trên thực địa; phía bị đơn Vũ Trọng L1 và người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan Lăng Thị Đ1, Khổng Thị Thu C trình bày thì thời điểm gia đình ông
L1, bà Đ1 xây dựng ngôi nhà trước thời điểm gia đình ông Đ2 ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Vũ Ánh P vào ngày 09/10/2015.
Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ
Ánh P, buộc ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 phải trả lại thửa đất số 519 cho
bà Vũ Ánh P; ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Ánh P về việc thanh toán cho
ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 giá trị ngôi nhà ba tầng trên thửa đất 519 số
tiền 1.000.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Trọng L1 về
việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển
nhượng ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông Nguyễn
Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P là vô
hiệu. Do không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, ông Vũ Trọng
L1, bà Lăng Thị Đ1 kháng cáo nội dung đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn; ngày 09/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-
18
Phú Thọ kháng nghị phúc thẩm bản án của Tòa án nhân dân khu vực 9- Phú Thọ
nội dung đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông
Vũ Trọng L1.
[4.2]. Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/10/2015
giữa bên chuyển nhượng ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn
D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng bà Vũ
Ánh P; thấy rằng:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 519 được lập thành văn
bản hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật; đó là; Hợp đồng được công
chứng tại Văn phòng C2 nay là Văn phòng C2 số: 1254/2015/HĐCN; Quyển số:
02-TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015, được các bên lập thành văn bản
được công chứng tại Văn phòng C2 theo đúng quy định pháp luật.
Tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên tham gia ký hợp đồng có năng
lực pháp luật và năng lực hành vi đầy đủ, khi tham gia ký kết các bên hoàn toàn
tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối; các bên tham gia ký kết hợp đồng trực tiếp
ký trước mặt công chứng viên; thửa đất 519 tại thời điểm ký hợp đồng chuyển
nhượng cho bà Vũ Ánh P vào ngày 09/10/2015 thì các đồng sử dụng là ông
Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông Nguyễn Mạnh H, bà
Nguyễn Thị T1 chưa chuyển giao quyền sử dụng cho bất kỳ cá nhân tổ chức
nào; còn việc trước đó ông Phùng Văn Đ2 tự ý cam kết chuyển nhượng cho ông
Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C như thế nào thì cá nhân ông Đ2 phải chịu
trách nhiệm với họ vì đây không phải là căn cứ dùng làm cơ sở xác định tính
hợp pháp của việc chuyển nhượng này.
Đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng là thửa đất 519 có đủ điều kiện
chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 về điều kiện
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người sử dụng đất đó là: (1) thửa đất đã
Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (GCN số BS 778496 cấp ngày
09/9/2014); (2) Đất không có tranh chấp; (3) Quyền sử dụng đất không bị kê
biên để bảo đảm thi hành án; (4) Trong thời hạn sử dụng đất.
Về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 519 được thực
hiện đầy đủ, theo đúng quy định tại Điều 79 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính Phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất
đai, như: (1) Nộp đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; (2) Tờ
19
khai lệ phí trước bạ; (3) Tờ khai thuế thu nhập cá nhân; (4) Tờ khai thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp; (5) Tờ khai đăng ký thuế; sơ đồ vị trí nhà đất.
Sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng và nộp thuế, lệ phí trước bạ
cho C5, Văn phòng Đ – Chi nhánh V1 đã thực hiện thủ tục cấp GCN theo quy
định của Bộ T4.
Sau khi thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 519
giữa các bên thì bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P đã trả đủ số tiền theo
thỏa thuận là 670.000.000 đồng cho bên chuyển nhượng là ông Phùng Văn Đ2,
bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1
điều này thể hiện tại giấy biên nhận tiền ngày 02/10/2015 có đầy đủ chữ ký của
chủ sử dụng thửa đất 519 có nội dung bà P đã trả đủ số tiền 670.000.000 đồng
cho bên chuyển nhượng là gia đình ông Phùng Văn Đ2. Do đó, toàn bộ việc thỏa
thuận và các nội dung về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 519 giữa
các bên đã thực hiện xong, đến ngày 09/12/2015 bà Vũ Ánh P được nhà nước
cấp GCN đối với thửa đất này.
Quá trình giải quyết vụ án, phía gia đình ông Phùng Văn Đ2, bà C, ông L2
khai việc ký kết hợp đồng ngày 09/10/2015 chuyển nhượng thửa đất 519 cho bà
P là không tự nguyện vì bị lừa dối và gia đình ông Phùng Văn Đ2 không nhận
đủ số tiền 670.000.000 đồng thấy rằng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án dù còn
mâu thuẫn về số tiền thực tế ông Đ2 nhận từ bà P; cụ thể: Lời khai của bà N1 có
nội dung bà C nợ tiền bà N1 không trả, bà N1 biết được trước đó bà C đã nhận
chuyển nhượng thửa đất số 519 của ông Đ2 nên bà C đã mang GCN đứng tên
ông Đ2 thế chấp cho bà N1 để làm tin. Vì vậy, bà N1 đến nhà ông Đ2 thỏa thuận
với ông Đ2 tìm người mua đất để ông Đ2 và bà N1 đều thu được số tiền bà C
còn nợ (cụ thể: Bà N1 thu được số nợ của bà C là 550.000.000 đồng, ông Đ2 thu
được của bà C số tiền 120.000.000 đồng); Sau đó, bà N1 giới thiệu bà P đến
mua đất để cả ông Đ2, bà N1 đều thu được nợ từ phía bà C và trước khi ký hợp
đồng chuyển nhượng thửa đất cho bà P thì phía ông Đ2 đã thông báo cho bà C
biết rõ việc này. Sau khi bà P trả ông Đ2 số tiền 670.000.000 đồng thì ông Đ2
đưa lại bà N1 số tiền 550.000.000 đồng thể hiện tại giấy biên nhận ngày
02/10/2015 về nội dung bà N1 chịu trách nhiệm về số tiền trước đó ông Đ2 nhận
của bà C; còn bà C khai không được bà N1 đối trừ số tiền 550.000.000 đồng từ
phía ông Đ2 và việc gia đình ông Đ2 ký Hợp đồng ngày 09/10/2015 chuyển
nhượng thửa đất 519 cho bà P xuất phát từ việc bà P chiếm đoạt GCN đứng tên
20
ông Đ2 từ bà C rồi mang GCN đến lừa dối ông Đ2. Tuy nhiên, lời khai của bà
N1, ông Đ2, bà C về nội dung như trên chỉ là lời khai từ một phía, chưa có tài
liệu, chứng cứ gì chứng minh việc khai nhận này có đúng sự thực hay không.
Trường hợp nếu có sự thỏa thuận giữa ông Đ2, bà C, bà N1 về việc bà N1 giới
thiệu bà P đến mua thửa đất 519 của ông Đ2 để cả ông Đ2, bà N1 đều thu được
nợ từ bà C thì việc bà C vừa thỏa thuận đối trừ số nợ của bà N1 mà trước đó đã
ký Hợp đồng đặt cọc thửa đất này cho ông L1, bà Đ1 thì việc chuyển nhượng
thửa đất số 519 giữa gia đình ông Đ2 với bà P ngày 09/10/2015 vẫn hợp pháp
không liên quan gì đến việc bà C ký Hợp đồng đặt cọc cho ông L1, bà Đ1. Vì:
Việc ông L2, bà C ký Hợp đồng đặt cọc ngày 31/3/2014 nội dung chuyển
nhượng thửa đất số 519 cho ông L1, bà Đ1 là trách nhiệm riêng của bà C, ông
L2 với ông L1, bà Đ1 không liên quan gì đến việc chuyển nhượng thửa đất giữa
gia đình ông Đ2 với bà P; còn việc ông Đ2 cho rằng không nhận đủ số tiền
670.000.000 đồng từ phía bà P mà thực chất chỉ được bà P trả số tiền
120.000.0000 đồng nhưng không có tài liệu gì chứng minh.
Như vậy, giao dịch dân sự về chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày
09/10/2015 giữa Bên chuyển nhượng ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà
Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với Bên nhận chuyển
nhượng bà Vũ Ánh P được công chứng tại Văn phòng C2 nay là Văn phòng C2
số: 1254/2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015
đối với thửa đất số 519, tờ bản đồ 30; Diện tích: 100m
2
; Địa chỉ: K tự xây và
khu đất dịch vụ phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là số nhà B, đường
P, phường V, tỉnh Phú Thọ) có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã không
chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Trọng L1 về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/10/2015 giữa Bên chuyển nhượng ông
Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông Nguyễn Văn H1, bà
Nguyễn Thị T1 với Bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P vô hiệu là có căn cứ.
[4.3]. Xét giao dịch giữa ông Phùng Văn Đ2 với bà Khổng Thị Thu C,
ông Bùi Văn L2 ngày 29/3/2014 thấy rằng: Thỏa thuận giữa ông Phùng Văn Đ2
với bà Khổng Thị Thu C, ông Bùi Văn L2 về việc chuyển nhượng thửa đất 519
thông qua “Hợp đồng cam kết chuyển nhượng đất dịch vụ” về nội dung và hình
thức không phù hợp quy định của pháp luật. Cụ thể: Tại thời điểm ký hợp đồng
cam kết chuyển nhượng đất dịch vụ thì thửa đất chưa được nhà nước cấp GCN
nên chưa đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai
21
năm 2013; thửa đất 519 là tài sản chung được nhà nước giao cho các thành viên
bao gồm: (1) ông Phùng Văn Đ2, (2) bà Phùng Thị T, (3) ông Phùng Văn D, (4)
ông Nguyễn Mạnh H, (5) bà Nguyễn Thị T1 nhưng tại thời điểm ký hợp đồng
cam kết chỉ một mình ông Phùng Văn Đ2 quyết định mà không có tài liệu,
chứng cứ gì thể hiện việc các thành viên còn lại (ông D, bà T, ông H, bà T1)
đồng ý cho ông Đ2 có quyền thỏa thuận định đoạt thửa đất này là không đúng
quy định của pháp luật; nội dung thỏa thuận ngày 29/3/2014 này mới chỉ là việc
cam kết chuyển nhượng thửa đất phù hợp với chính lời thừa nhận của ông Đ2 và
các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án là đến nay ngoài việc ký Hợp đồng
ngày 09/10/2015 cho bà P thì gia đình ông Đ2 vẫn chưa ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất này với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Do vậy thỏa
thuận ngày 29/3/2014 không phù hợp pháp luật và thửa đất số 519 đã được gia
đình ông Đ2 chuyển nhượng cho bà Vũ Ánh P thông qua Hợp đồng chuyển
nhượng ngày 09/10/2015 có hiệu lực pháp luật nên ông Đ2 không còn đất để
tiếp tục thực hiện cam kết chuyển nhượng cho ông L2, bà C nữa. Vì vậy cam kết
giữa ông Phùng Văn Đ2 với bà Khổng Thị Thu C, ông Bùi Văn L2 ngày
29/3/2014 về việc chuyển nhượng thửa đất số 519 là vô hiệu. Việc ông Đ2 trước
đó tự ý ký cam kết chuyển nhượng thửa đất số 519 này cho ông L2, bà C thì cá
nhân ông Đ2 phải chịu trách nhiệm với quyết định của mình, không liên quan
đến việc xác định tính hợp pháp, tính có căn cứ của Hợp đồng chuyển nhượng
ngày 09/10/2015 cho bà P. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự tham gia ký
kết Hợp đồng cam kết ngày 29/3/2014 không có tranh chấp và không yêu cầu
giải quyết hậu quả của Hợp đồng này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét,
giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật. Trường hợp các bên có tranh chấp
và yêu cầu giải quyết hậu quả thì được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi
có yêu cầu.
[4.4]. Xét về giao dịch dân sự giữa ông Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C
với ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1; thấy rằng: Ngày 31/3/2014, ông Vũ
Trọng L1 ký Hợp đồng đặt cọc với ông Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C về nội
dung thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất dịch vụ có nguồn gốc do ông L2, bà C
trước đó đã ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng từ ông Phùng Văn Đ2. Mặc dù
hợp đồng này được công chứng tại Văn phòng C2 nhưng đây là hợp đồng đặt
cọc mới chỉ phát sinh ở giai đoạn thỏa thuận sơ bộ mục đích chỉ là sự đảm bảo
để tiến tới chính thức ký kết Hợp đồng chuyển nhượng; Về nội dung thỏa thuận
22
trong hợp đồng là ông L1, bà Đ1 đặt cọc số tiền 600.000.000 đồng cho ông L2,
bà C để chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất mà tại thời điểm thỏa thuận
chuyển nhượng thì thửa đất chưa được nhà nước cấp GCN nên chưa đủ điều
kiện chuyển nhượng theo quy định của Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Vì
vậy, mọi thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc này mục đích để hướng tới ký kết
Hợp đồng chuyển nhượng chính thức nên không có hiệu lực pháp luật về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Do đây chỉ là
hợp đồng đặt cọc và hiện nay thửa đất số 519 ông L2, bà C ký hợp đồng đặt cọc
đã được gia đình ông Đ2 chuyển nhượng cho bà Vũ Ánh P thông qua Hợp đồng
chuyển nhượng ngày 09/10/2015 có hiệu lực pháp luật nên ông L2, bà C không
còn đất để tiếp tục thực hiện chuyển nhượng cho ông L1, bà Đ1 nữa. Vì vậy hợp
đồng đặt cọc ngày 31/3/2014 giữa bà Khổng Thị Thu C, ông Bùi Văn L2 với
ông Vũ Trọng L1, bà Lang Thị Đ4 về việc chuyển nhượng thửa đất số 519 là vô
hiệu. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự tham gia ký kết Hợp đồng đặt cọc
ngày 31/3/2014 không có tranh chấp và không yêu cầu giải quyết hậu quả của
Hợp đồng này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết là phù hợp quy
định của pháp luật. Trường hợp các bên có tranh chấp và yêu cầu giải quyết hậu
quả thì được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[5]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Phú Thọ; Hội
đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[5.1] Về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 09/10/2015 giữa gia đình ông Phùng Văn Đ2 với bà Vũ Ánh P: Như đã
viện dẫn, phân tích ở mục [4.2] tại thời điểm ký kết hợp đồng các đồng sử dụng
thửa đất 519 là Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm ông Phùng Văn
Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị
T1 đã trực tiếp ký vào Hợp đồng với Bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P
được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C2. Do vậy, về chủ thể tham gia ký
kết hợp đồng hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và tại thời điểm ký kết
hợp đồng ngày 09/10/2015 thì các đồng sử dụng là ông Đ2, bà T, ông D, ông H,
bà T1 chưa định đoạt hoặc chuyển giao thửa đất 519 này cho bất kỳ cá nhân hay
tổ chức nào; còn đối với Hợp đồng cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất
dịch vụ ngày 29/3/2014 giữa ông Phùng Văn Đ2 với bà Khổng Thị Thu C, ông
Bùi Văn L2 thì do quyền sử dụng thửa đất 519 này là của chung các đồng sử
dụng như đã phân tích, viện dẫn trên mà tại thời điểm ký cam kết chỉ có mình
23
ông Đ2 ký kết là chưa đảm bảo về chủ thể theo quy định của pháp luật. Vì: Thửa
đất số 519 thuộc quyền sử dụng chung của ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T,
ông Phùng Văn D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1 mà tại thời điểm ký
kết ngày 29/3/2014 khi ông Đ2 ký hợp đồng cam kết chuyển nhượng cho bà C,
ông L2 chưa có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện có sự đồng ý hoặc các đồng sử
dụng thửa đất ủy quyền cho ông Đ2 được quyền định đoạt thửa đất này; còn việc
trước đó ông Đ2 tự ý thỏa thuận rồi nhận tiền của ông L2, bà C thì cá nhân ông
Đ2 phải chịu trách nhiệm riêng đối với bà C, ông L2; Do đó hợp đồng cam kết
chuyển nhượng đất dịch vụ ngày 29/3/2014 giữa ông Đ2 với ông L2, bà C
không liên quan và không phải là cơ sở, là căn cứ có giá trị để xác định tính hợp
pháp, tính có căn cứ của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Bên
chuyển nhượng ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông
Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị P1 với Bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P
ký kết ngày 09/10/2015 có hiệu lực pháp luật hay không có hiệu lực pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, chính ông Phùng Văn Đ2 cũng thừa nhận trong biên
bản đối chất có sự tham gia của bà P (nguyên đơn), bà Y (người đại diện theo ủy
quyền của ông L1) và bà C là “Tôi có thông báo cho cô C biết bà N1, bà P đến
trả tôi nốt số tiền 120.000.000 đồng, còn việc bà N1, bà P, bà C bàn nhau như
thế nào tôi không biết”. (BL 85 BB đối chất giữa bà P, bà C và ông Đ2 ngày
07/7/2021). Do thửa đất số 519 được nhà nước giao chung cho ông Phùng Văn
Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị
T1 và khi ký Hợp đồng chuyển nhượng với bà Vũ Ánh P thì có đầy đủ chữ ký
của tất cả những người này mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ cho
rằng chủ thể tham gia ký kết này không được công nhận do không tự nguyện mà
lại công nhận văn bản cam kết ngày 29/3/2014 do ông Đ2 tự ý định đoạt là
không phù hợp.
[5.2]. Về nội dung bên chuyển nhượng không tự nguyện:
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Bên chuyển nhượng gồm: (1) ông
Phùng Văn Đ2, (2) bà Phùng Thị T, (3) ông Phùng Văn D, (4) ông Nguyễn
Mạnh H, (5) bà Nguyễn Thị T1 với Bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P được
công chứng tại Văn phòng C2 ký kết ngày 09/10/2015 thì các bên tham gia ký
kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi đầy đủ; việc ký
hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối như đã phân tích,
24
viện dẫn tại mục [4.2] trên.
Quá trình giải quyết vụ án, các đồng chủ sử dụng thửa đất 519 của gia
đình ông Phùng Văn Đ2 đều thừa nhận trực tiếp ký vào Hợp đồng chuyển quyền
sử dụng đất ngày 09/10/2015 cho bên nhận chuyển nhượng Vũ Ánh P tại Văn
phòng C2 và khi ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc; Việc ký
hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên được thực hiện tại Văn phòng Công
chứng trước mặt công chứng viên và điều này hoàn toàn phù hợp với lời trình
bày của đại diện Văn phòng C2 trong quá trình giải quyết vụ án; còn việc ông
Phùng Văn Đ2 luôn cho rằng cơ sở ký hợp đồng chuyển nhượng ngày
09/10/2015 thửa đất 519 cho bà P là do bà P, bà N1 cầm GCN đến và nói với
ông việc bà C nợ tiền bà N1 nên bà C đồng ý để ông Đ2 thực hiện thủ tục
chuyển nhượng thửa đất cho bà P nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng
minh mà đây chỉ là lời khai từ phía ông Đ2. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án và qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa chưa có căn cứ gì xác định việc
khấu trừ số nợ tiền giữa bà C, ông L2 với bà N1 đối với số tiền 550.000.000
đồng bà C, ông L2 nợ bà N1 cũng như không có tài liệu, chứng cứ gì xác định
có sự cấu kết giữa bà N1 với bà P về việc bắt nợ bà C bằng GCN như bà C trình
bày; còn giấy biên nhận ngày 02/10/2015 giữa bà N1 với ông Đ2 có nội dung:
ông Đ2 cầm của bà C số tiền 550.000.000 đồng, vì vậy số tiền trên của ông Đ2
đã nhận của cô C nay tôi (bà N1) viết giấy biện nhận này .. .. hoàn toàn chịu
trách nhiệm với cô C .. thì đây chỉ là cam kết giữa bà N1 với ông Đ2, không
được bà C xác nhận để khấu trừ số tiền này; không liên quan gì đến việc bà P
với ông Đ2 về việc trả tiền chuyển nhượng thửa đất số 519 giữa hai bên. Từ đó
chưa có căn cứ xác định số tiền 550.000.000 đồng phía bà N1 lấy từ ông Đ2
được trừ vào số tiền bà C nợ bà N1 như lời trình bày của ông Đ2, bà C.
Quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng như giai
đoạn xét xử phúc thẩm, phía gia đình ông Đ2 cũng như các đương sự không có
tài liệu, chứng cứ gì chứng minh khi ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 09/10/2015 bên chuyển nhượng là gia đình ông Đ2 bị ép buộc,
lừa dối hoặc không tự nguyện khi ký vào hợp đồng này.
Vì vậy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Phú Thọ về nội
dung khi ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/10/2015
thì Bên chuyển nhượng là ông Phùng Văn Đ2, bà Phùng Thị T, ông Phùng Văn
D, ông Nguyễn Mạnh H, bà Nguyễn Thị T1 không tự nguyện là không có cơ sở
25
nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5.3] Về nội dung các bên không có việc chuyển nhượng thực tế:
- Về thanh toán số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 519
giữa các bên: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Vũ Thị P2 là người
nhận chuyển nhượng trình bày đã trả đủ tiền 670.000.000 đồng cho gia đình ông
Đ2 theo biên bản nhận tiền ngày 02/10/2015, tuy nhiên ông Đ2 là người chuyển
nhượng trình bày thực tế chỉ được nhận số tiền 120.000.000 đồng do bà P2 đưa,
số tiền còn lại 550.000.000 đồng được trừ vào số tiền trước đó bà C đã trả cho
ông Đ2; còn bà C khai không được bà N1 trừ nợ số tiền 550.000.000 đồng này
vào tổng số nợ của bà C với bà N1; còn phía bà N1 khai mặc dù có lấy số tiền
550.000.000 đồng xuất phát từ việc chuyển nhượng thửa đất số 519 của ông Đ2
đối với bà P2 nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì xác định bà C đồng ý đối trừ
số tiền này vào tổng số nợ của bà N1; còn đối với giấy biên nhận ngày
02/10/2015 giữa bà N1 với ông Đ2 có nội dung: “Hiện nay ông Đ2 …có cầm
của bà C …số tiền là 550 triệu. Vì vậy số tiền trên của ông Đ2 đã nhận của cô C
nay tôi (N1) viết giấy biên nhận này với số tiền trên tôi sẽ hoàn toàn chịu trách
nhiệm với cô C vì hiện nay cô C vẫn còn đang nợ tiền của tôi kể từ ngày
02/10/2015, ông Đ2 sẽ không phải trả số tiền trên cho cô C vì từ ngày hôm nay
tôi sẽ nhận số tiền trên để trừ vào số tiền hiện nay cô C đang nợ tôi”, có chữ kí
của bà N1 (người viết), ông Đ2 (người giao giấy), còn bà P2 kí là người làm
chứng thì đây chỉ là việc cam kết của bà N1 về việc bà N1 chịu trách nhiệm với
ông Đ2 về số tiền 550.000.000 đồng không có nội dung nào thể hiện bà P2 chỉ
trả cho gia đình ông Đ2 số tiền 120.000.000 đồng như ông Đ2 trình bày; việc bà
P2 là bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ số tiền cho gia đình ông Đ2 là bên
chuyển nhượng thửa đất 519 theo thỏa thuận 670.000.000 đồng thể hiện rõ tại
Giấy biên nhận ngày 02/10/2015 được các thành viên gia đình ông Đ2 thừa nhận
và ký vào biên bản này. Quá trình giải quyết vụ án ông Đ2 khai thực chất chỉ
nhận từ bà P2 số tiền 120.000.000 đồng và không có việc giao nhận tiền giữa bà
P2 với gia đình ông Đ2 vào ngày 02/10/2015 nhưng không có tài liệu, căn cứ gì
chứng minh. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án chỉ có căn cứ xác định giữa bà P2 với
bà N1 chỉ là chỗ quen biết, không có chứng cứ gì liên quan đến nợ nần cá nhân,
đối trừ số nợ của nhau cũng như hợp tác với nhau đến lừa ông Đ2 chuyển
nhượng thửa đất số 519. Từ đó có đủ căn cứ xác định bà P2 là bên nhận chuyển
nhượng thửa đất 519 đã trả đủ số tiền 670.000.000 đồng cho bên chuyển nhượng
26
gia đình ông Đ2 là đúng sự thật.
- Về việc bàn giao thửa đất số 519 trên thực địa: Bà P2, bà N1 đều trình
bày trước khi nhận chuyển nhượng, ông Đ2 là người trực tiếp dẫn các bà đi xem
thực địa thửa đất, tại thời điểm này không có công trình xây dựng của gia đình
ông L1, bà Đ4 trên đất; còn phía ông Đ2 là người ký hợp đồng chuyển nhượng
trình bày ông không biết vị trí thửa đất ở đâu nên không có việc ông dẫn bà P2
và bà N1 xem thực địa; phía bà C, ông L2 khai sau khi ký hợp đồng đặt cọc cho
ông L1, bà Đ4 thì đã giao đất cho ông L1, bà Đ4 sử dụng và thời điểm gia đình
ông Đ2 ký Hợp đồng chuyển nhượng cho bà P2 ngày 09/10/2015 trên đất đã có
công trình xây dựng của gia đình ông L1, bà Đ4; phía ông L1, bà Đ4 trình bày
sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất của bà C thì đã xây dựng tường bao nổi
trên mặt đất cao 50cm (có xác nhận của hàng xóm xung quanh) và ngày
12/7/2015 đã ký Hợp đồng thi công xây nhà, có lời khai xác nhận của chủ thi
công, sau đó đã sinh sống ổn định đến nay. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp
phúc thẩm, phía ông L1, bà Đ4 khai nhận khi xây dựng nhà có sử dụng nhờ điện
của gia đình ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Nghĩa H3 là hàng xóm và cung
cấp tài liệu chứng cứ là hóa đơn mua vật liệu xây dựng dùng làm cơ sở xác định
tại thời điểm ngày 09/10/2015 khi gia đình ông Đ2 ký hợp đồng chuyển nhượng
thửa đất 519 cho bà P2 thì ông L1, bà Đ4 đã xây dựng nhà trên thửa đất. Về nội
dung này, thấy rằng: Lời khai của bà P2, bà N1 về việc ông Đ2 giao đất trên
thực địa nhưng không có tài liệu gì chứng minh; còn lời khai của bà C, ông L2
về việc giao đất cho ông L1, bà Đ4 cũng giống như lời khai của bà N1, bà P2 chỉ
là lời khai từ một phía mà không có tài liệu gì chứng minh; còn lời khai của ông
L1, bà Đ4 về việc ông L1, bà Đ4 đã xây dựng nhà trên đất tại thời điểm ông Đ2
ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho bà P2 vào ngày 09/10/2015 và nộp các
tài liệu, chứng cứ kèm theo thì có sự mâu thuẫn với nhau. Cụ thể đó là: Biên bản
xem xét thẩm định tại chỗ (BL 62); biên bản định giá tài sản (BL 64) có đầy đủ
chữ ký của các đương sự và các thành phần tham gia làm việc đều xác nhận ngôi
nhà 03 tầng của ông L1, bà Đ4 xây dựng năm 2016; tại đơn xác nhận thời gian
xây dựng của ông Vũ Trọng L1 có nội dung …đến năm 2015 và đầu năm 2016
gia đình tôi có xây nhà trên thửa đất này. Do có các mâu thuẫn như đã viện dẫn
trên nên chưa có căn cứ vững chắc xác định có hay không việc ông Đ2 bàn giao
thửa đất 519 cho bà P2 và tại thời điểm gia đình ông Đ2 ký Hợp đồng chuyển
nhượng thửa đất vào ngày 09/10/2015 cho bà P2 thì trên thửa đất gia đình ông
27
L1, bà Đ4 đã xây nhà như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-
Phú Thọ.
[6]. Về việc gia đình ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 xây dựng nhà trên
thửa đất 519 đã được nhà nước cấp GCN cho bà Vũ Ánh P vào ngày 09/12/2015
thông qua Hợp đồng chuyển nhượng giữa bên chuyển nhượng là gia đình ông
Phùng Văn Đ2 với bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P vào ngày 09/10/2015
thấy rằng: Như đã phân tích, viện dẫn tại phần xét về giao dịch dân sự giữa ông
Bùi Văn L2, bà Khổng Thị Thu C với ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 vào
ngày 31/3/2014 thì đây chỉ là Hợp đồng đặt cọc giữa các bên mới phát sinh ở
giai đoạn thỏa thuận sơ bộ mục đích chỉ là biện pháp đảm bảo để tiến tới chính
thức ký kết Hợp đồng chuyển nhượng; đối tượng thỏa thuận chuyển nhượng tại
thời điểm giao dịch là thửa đất chưa được nhà nước cấp GCN nên chưa đủ điều
kiện chuyển nhượng theo quy định của Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Việc
gia đình ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 xây dựng nhà trên thửa đất khi thửa
đất chưa được nhà nước công nhận trong mọi trường hợp dù trước hay sau ngày
09/10/2015 (thời điểm gia đình ông Đ2 chuyển nhượng thửa đất cho bà P) đều
không đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu
cầu của ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/10/2015 giữa gia đình ông Đ2 với bà P là vô
hiệu để buộc gia đình ông L1, bà Đ1 trả lại thửa đất 519 cho bà Vũ Ánh P; ghi
nhận sự tự nguyện của bà Vũ Ánh P về việc thanh toán số tiền 1.000.000.000
đồng trị giá ngôi nhà cho ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 là có căn cứ, phù
hợp quy định của pháp luật.
Từ những phân tích như trên; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa
án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu
thập khách quan, đúng pháp luật kết hợp với việc xét hỏi, tranh tụng công khai
tại phiên tòa để quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P và
không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Vũ Trọng L1 là có căn cứ, phù hợp
quy định của pháp luật. Do vậy kháng cáo của ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị
Đ1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xử sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà Vũ Ánh P và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Vũ Trọng L1
là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Vũ
28
Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1 và
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ; giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 9 - Phú Thọ.
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều
40, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 688 Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 166, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm
2005; Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 79 Nghị định số: 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Ánh P và không chấp nhận
yêu cầu phản tố của ông Vũ Trọng L1.
1.1 Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên
chuyển nhượng ông Phùng Văn Đ2, ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị T, ông
Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị T1 với bên nhận chuyển nhượng bà Vũ Ánh P
lập ngày 09/10/2015 đối với thửa đất 519 được công chứng tại Văn phòng C2
số: 1254/2015/HĐCN; Quyển số: 02-TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 09/10/2015
có hiệu lực pháp luật.
Buộc ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1 phải trả lại cho bà Vũ Ánh P
thửa đất số 519, tờ bản đồ số 30, diện tích: 100m
2
; địa chỉ: K tự xây và khu đất
dịch vụ phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nay là số nhà B, đường P,
phường V, tỉnh Phú Thọ theo GCN số CB 613815 số vào sổ GCN: CS 03660,
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V nay là Sở Nông Nghiệp và Môi trường
tỉnh P cấp ngày 09/12/2015, đứng tên chủ sử dụng đất Vũ Ánh P.
1.2 Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Ánh P về việc thanh toán số tiền
1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) cho ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1 tiền
giá trị căn nhà 03 tầng xây trên thửa đất số 519, tờ bản đồ số 30, diện tích
29
100m
2
; địa chỉ: KCD tự xây và khu đất dịch vụ phường K, thành phố V, tỉnh
Vĩnh Phúc nay là số nhà B, đường P, phường V, tỉnh Phú Thọ. Bà Vũ Ánh P có
quyền sở hữu căn nhà nêu trên sau khi thanh toán số tiền 1.000.000.000 đồng
cho ông Vũ Trọng L1, bà Lăng Thị Đ1.
1.3 Kể từ ngày ông L1, bà Đ1 có đơn thi hành án, nếu bà Vũ Ánh P không
thanh toán 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) cho ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng
Thị Đ1 tiền xây dựng căn nhà 03 tầng xây trên thì phải chịu tiền lãi theo quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2]. Về án phí dân sự: Ông Vũ Trọng L1 phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí đối với yêu cầu phản tố không được
chấp nhận. Xác nhận ông Vũ Trọng L1 đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng án phí
đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận theo biên lai số 0007269 ngày
04/4/2020 tại Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trả lại cho bà
Vũ Ánh P số tiền 12.000.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai
số 0007202 ngày 03/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Thi hành án dân sự tỉnh P).
Ông Vũ Trọng L1 và bà Lăng Thị Đ1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông Vũ Trọng L1 đã nộp đủ số tiền 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0002788 ngày 09/10/2025 tại Thi
hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; bà Lăng Thị Đ1 đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm theo biên lai 0002789 ngày 06/10/2025 tại Thi hành án
dân sự tỉnh Phú Thọ (ông L1 nộp thay).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 36 và Điều 72 Luật Thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 34 Luật Thi
hành án dân sự năm 2015.
30
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Thu Hiền Nguyễn Vĩnh Thành
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Sơn
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 9 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 267/2026/DS-PT Bản án số 267/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất