Bản án số 727/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 727/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 727/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 727/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu bà Dương Thị Lý L trả lại diện tích 2.148,4m². Sau khi đo đạc thực tế, ông bổ sung yêu cầu, buộc bà L trả diện tích 2.231,9m² thuộc thửa đất số 1156, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 727/2026/DS-PT Bản án số 727/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 727/2026/DS-PT Bản án số 727/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 727/2026/DS-PT
Ngày: 22 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Cẩm Thúy
Ông Nguyễn Thành Lập
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 546/2026/TLPT-DS ngày 26 tháng 8 năm
2026 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2026/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 730/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Sơn N, sinh ngày: 01/01/1958 (có mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 10/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Số A, khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Dương Thị Lý L, sinh ngày 06/07/1983 (có mặt).
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 14/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Số A, khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền bà Dương Thị Lý L: Ông Dương L1, sinh ngày
27/4/1973; Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 30/06/2023; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cư trú tại: Số A, khóm C,
phường V, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21/10/2025) (có mặt).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lý P, sinh năm 1953 (vắng mặt).
2. Bà Lâm Thị Kim L2, sinh năm 1956 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
3. Bà Dương Thị L3, sinh ngày 16/6/1960; Cư trú tại: Số A, khóm C,
phường V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
4. Bà Dương Thị L4, sinh ngày 01/01/1963; Cư trú tại: Khóm C, phường V,
tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
5. Ông Dương Đa L5, sinh ngày 01/01/1966; Cư trú tại: Ấp Đ, xã H, tỉnh Cà
Mau (vắng mặt).
6. Ông Dương L6, sinh ngày 01/01/1968; Cư trú tại: Số A, khóm C, phường
V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
7. Bà Dương Thị Mai L7, sinh ngày 01/01/1971; Cư trú tại: Khóm C,
phường V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
8. Ông Dương L1, sinh ngày 27/4/1973; Cư trú tại: Số A, khóm C, phường
V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
9. Ông Dương L8, sinh ngày 01/01/1979; Cư trú tại: Khóm K, phường V,
tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
10. Bà Lâm Thị Chanh Đa R, sinh năm 1983 (vắng mặt).
11. Anh Thạch Hoàng P1, sinh năm 2003 (vắng mặt).
12. Chị Thạch Thị Hồng L9, sinh năm 2008 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Số A, khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
13. Ông Lâm Thanh T, sinh ngày 01/01/1974; Cư trú tại: Số A, khóm C,
phường V, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
Ông Sơn N là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Sơn N
trình bày:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Sơn N1, sau đó ông Sơn N1 cho
lại ông Lý P. Khoảng năm 1977, ông Lý P và vợ là bà Lâm Thị Kim L2 chuyển
nhượng phần đất này cho cha mẹ vợ ông Sơn N là ông Dương B và bà Thị P2. Khi
nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông Sơn N còn sống chung với ông B, bà P2 nên
cùng canh tác. Đến năm 1982, vợ chồng ông ra riêng thì được ông B, bà P2 tặng
cho phần đất này.
Năm 1997, ông B và bà P2 đồng ý để ông S Nê kê khai, đăng ký quyền sử
dụng đất theo giấy chứng nhận đăng ký sử dụng đất đai số 2172/ĐKĐĐ ngày
3
18/4/1997, tổng diện tích 11.000m², trong đó có phần đất tranh chấp. Vợ chồng
ông trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ năm 1982 đến năm 2021. Do cha mẹ lớn tuổi,
ông giao phần đất này cho bà Dương Thị Lý L canh tác để có điều kiện chăm sóc
cha mẹ. Sau khi ông B và bà P2 chết, ông yêu cầu bà L trả đất nhưng bà không
đồng ý.
Ông Sơn N khởi kiện yêu cầu bà Dương Thị Lý L trả lại diện tích
2.148,4m². Sau khi đo đạc thực tế, ông bổ sung yêu cầu, buộc bà L trả diện tích
2.231,9m² thuộc thửa đất số 1156, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại khóm C, phường V,
tỉnh Cà Mau.
Bị đơn bà Dương Thị Lý L và người đại diện theo ủy quyền là ông Dương
L1 trình bày:
Phần đất tranh chấp do ông Dương B và bà Thị P2 nhận chuyển nhượng của
ông Lý P, bà Lâm Thị Kim L2 vào khoảng năm 1977. Sau khi nhận chuyển
nhượng, ông B và bà P2 trực tiếp quản lý, sử dụng; không có việc tặng cho phần
đất này cho ông Sơn N.
Khi ông B và bà P2 lớn tuổi, hai người giao đất cho bà L quản lý, canh tác.
Năm 2017, Nhà nước đào kênh, đất được đưa lên phần đất của gia đình nên bà L
san lấp, cải tạo mặt bằng. Từ năm 2019, bà trồng hoa màu; khoảng tháng 10/2020,
bà cho ông Lâm Thanh T thuê đất canh tác. Ông Sơn N không trực tiếp quản lý, sử
dụng và cũng không cho bà mượn đất. Vì vậy, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Dương Thị L3 là vợ ông Sơn N trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Ông Lý P trình bày: Ông xác định nguồn gốc đất của cha vợ ông là ông Sơn
N1 cho vợ chồng ông; khoảng năm 1977, vợ chồng ông chuyển nhượng lại cho
ông Dương B và bà Thị P2. Khi chuyển nhượng, các bên chỉ thỏa thuận bằng lời
nói, không lập giấy tờ. Sau đó ông không trực tiếp quản lý, sử dụng và không có
tranh chấp đối với phần đất này.
Những người con còn lại của ông Dương B và bà Thị P2 gồm bà Dương Thị
L4, ông Dương Đa L5, ông Dương L1, bà Dương Thị Mai L7 và ông Dương L8
xác định đất do cha mẹ nhận chuyển nhượng, trực tiếp quản lý, sử dụng, sau đó
giao cho bà L canh tác; không có việc cha mẹ tặng cho ông Sơn N. Sau khi cha mẹ
chết, các thành viên trong gia đình thống nhất giao phần đất này cho bà L tiếp tục
quản lý, sử dụng. Bà Dương Thị L4, ông Dương Đa L5 và ông Dương L8 không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Sơn N. Những người liên quan còn lại không có
yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Ông Lâm Thanh T trình bày: ngày 10/10/2020 ông thuê của bà L khoảng
2.600m² đất để canh tác, thời hạn 05 năm, giá thuê 3.000.000 đồng/năm. Trường
4
hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Sơn N thì ông đồng ý trả đất sau khi thu
hoạch xong; tranh chấp hợp đồng thuê đất giữa ông với bà L, các bên tự giải quyết,
không yêu cầu xem xét trong vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2026/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn N về việc yêu cầu bà
Dương Thị L10 Lil trả lại phần đất 2.231,9m
2
, thuộc thửa đất số 1156, tờ bản đồ
03, đất tọa lạc tại Khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí
và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 04 tháng 8 năm 2026 ông Sơn N là nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Sơn N là nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Cha
mẹ vợ cho tôi phần đất hiện tôi đang đòi lại. Bà Lý L khi đó còn nhỏ nên không thể
nuôi cha mẹ như lời trình bày của bị đơn. Tôi đã có Giấy CNQSDĐ, có nộp thuế
đất. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc bà Lý L trả lại phần đất đang tranh chấp.
Ông Dương L1 là đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Cha mẹ đã
chia đất cho các anh chị em đầy đủ, chỉ còn bà Lý L là con út nên ở chung với cha
mẹ và chưa được cho đất. Phần đất tranh chấp cha mẹ đã cho bà Lý L từ khi cha
mẹ còn khỏe. Các anh chị em còn lại đều xác định đất tranh chấp là của cha mẹ
cho bà Lý Lil . Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Sơn
N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của ông Sơn N, giữ nguyên bản án dân sự
sơ thẩm số: 88/2026/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 6 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Sơn N là nguyên đơn nộp trong thời hạn quy
định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm
quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy định
pháp luật.
5
[2] Ông Sơn N kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận
yêu cầu buộc bà Dương Thị Lý L trả lại phần đất có diện tích 2.231,9m² thuộc thửa
đất số 1156, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
[3] Các đương sự thống nhất xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc do
ông Dương B và bà Thị P2 nhận chuyển nhượng của ông Lý P và bà Lâm Thị Kim
L2 vào khoảng năm 1977. Ông Sơn N cho rằng sau khi vợ chồng ông ra riêng, ông
B và bà P2 đã tặng cho ông phần đất này; đến năm 1997, ông được đứng tên đăng
ký quyền sử dụng đất. Bà Lý L và những người con của ông B, bà P2 không thừa
nhận việc tặng cho.
[4] Chứng cứ ông S Nê cung cấp là bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký sử
dụng đất số 2172/ĐKĐĐ ngày 18/4/1997 (giấy tạm), thể hiện tổng diện tích
11.000m² và lời khai của một số người làm chứng. Tuy nhiên, giấy đăng ký này
không thể hiện số thửa, tờ bản đồ, vị trí và ranh giới đất; loại đất đăng ký là đất
trồng lúa, trong khi phần đất tranh chấp trước đây là đất trồng lá, sau khi san lấp
được sử dụng trồng rẫy. UBND phường V cũng xác định không có thông tin về số
thửa, tờ bản đồ nên không thể xác định vị trí đất ông Sơn N đã kê khai. Vì vậy,
chưa đủ căn cứ xác định phần đất tranh chấp nằm trong diện tích 11.000m² thể hiện
tại giấy đăng ký nêu trên.
[5] Mặt khác, theo sổ mục kê năm 1996, thửa đất số 567 do ông Dương B kê
khai; hồ sơ địa chính năm 2016 thể hiện thửa đất số 1156, tờ bản đồ số 03 do hộ
ông Dương B kê khai, quản lý, sử dụng diện tích 5.159,9m². Kết quả xác minh tại
địa phương xác định việc ghi tên “Lâm Bon” trên sổ mục kê là nhầm lẫn, người kê
khai thực tế là ông Dương Bom .1
[6] Ông Sơn N không cung cấp được giấy tặng cho, giấy giao đất hoặc tài
liệu địa chính thể hiện ông B, bà P2 đã tặng cho ông phần đất tranh chấp. Những
người làm chứng do ông Sơn N cung cấp không trực tiếp chứng kiến việc tặng cho,
chủ yếu nghe ông trình bày lại và cũng không xác định được cụ thể vị trí, ranh giới
đất. Quá trình giải quyết vụ án, ông Sơn N không cung cấp được tài liệu chứng
minh việc mình trực tiếp kê khai, quản lý, sử dụng ổn định, liên tục đối với phần
đất 2.231,9m².
[7] Trong khi đó, lời khai của những người làm chứng do bà Lý L cung cấp
phù hợp với tài liệu địa chính, thể hiện trước đây ông Dương B và bà Thị P2 trực
tiếp quản lý, sử dụng đất; khi tuổi cao thì giao lại cho bà Lý L quản lý, canh tác.
Từ năm 2017, bà Lý L san lấp, cải tạo mặt bằng và sử dụng trồng hoa màu; năm
2020 cho ông Lâm Thanh T thuê đất. Những người sinh sống gần đất không thấy
ông Sơn N trực tiếp sử dụng hoặc cải tạo phần đất tranh chấp. Những người con
của ông Dương B, bà Thị P2 cũng không thừa nhận việc cha mẹ đã tặng cho đất
ông Sơn N (ngoại trừ bà L3 là vợ ông Sơ N2).
[8] Việc bà Lý L quản lý, sử dụng đất trong thời gian dài không phải là căn
cứ duy nhất xác lập quyền sử dụng đất, nhưng phù hợp với hồ sơ địa chính và các
6
chứng cứ khác, thể hiện ông Dương B, bà Thị P2 là người quản lý đất, sau đó giao
lại cho bà Lý L tiếp tục sử dụng. Ông Sơn N cho rằng chỉ cho bà Lý L mượn đất
nhưng không có giấy tờ hoặc chứng cứ chứng minh việc cho mượn.
[9] Do ông Sơn N không chứng minh được ông Dương B, bà Thị P2 đã tặng
cho ông phần đất tranh chấp; cũng không chứng minh được diện tích 2.231,9m²
thuộc phạm vi đất đã đăng ký theo giấy số 2172/ĐKĐĐ ngày 18/4/1997. Tòa án
cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn N là có căn cứ.
[10] Từ những căn cứ và phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của ông Sơn N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[11] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[12] Án phí dân sự:
Án phí phúc thẩm: Ông Sơn N được miễn do là người cao tuổi và có đơn xin
miễn (đã được miễn dự nộp).
[13] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Sơn N.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2026/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn N về việc yêu cầu bà
Dương Thị L10 Lil trả lại phần đất 2.231,9m
2
, thuộc thửa đất số 1156, tờ bản đồ
03, đất tọa lạc tại Khóm C, phường V, tỉnh Cà Mau.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản
tranh chấp tổng cộng 8.781.000 đồng. Ông Sơn N phải chịu toàn bộ (ông Sơn N đã
nộp xong).
3. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Ông Sơn N là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền án
phí nên được miễn.
- Án phí phúc thẩm: Ông Sơn N được miễn.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Giang Thị Cẩm Thúy Nguyễn Thành Lập
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
8
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 6 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Giang Thị Cẩm Thúy Nguyễn Thành Lập
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 6 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 727/2026/DS-PT Bản án số 727/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 727/2026/DS-PT Bản án số 727/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất