Bản án số 288/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 288/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 288/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 288/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 288/2026/DS-PTNgày 23/9/2026“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 288/2026/DS-PT Bản án số 288/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 288/2026/DS-PT
Ngày 23/9/2026
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất và yêu cầu hủy hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công và bà Võ Thị Hồng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vỹ, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly –
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 23 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2026
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 348/2026/DS-ST ngày 02 ngày 7 tháng 2026
của Toà án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 384/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh ngày 05/12/1964; căn cước
công dân số ************ cấp ngày 06/11/2022; quê quán: Phường T, tỉnh Gia
Lai; địa chỉ: Khu phố H, phường T, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T: Ông Trần Huy T1, sinh ngày
14/10/1974; căn cước công dân số ************ cấp ngày 27/4/2022; địa chỉ:
Số D N, thôn B, xã E, tỉnh Đắc Lắc. (Văn bản ủy quyền ngày 13/11/2023).
Tạm trú tại: Số E H, phường Q, tỉnh Gia Lai.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh ngày 01/01/1948; căn cước công dân số
************ cấp ngày 28/9/2021; quê quán: Xã H, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Khu
phố H, phường T, tỉnh Gia Lai.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2
3.1. Ông Hồ Văn C1, sinh ngày 18/12/1978; căn cước công dân số
************ cấp ngày 10/02/2022; quê quán: Phường T, tỉnh Gia Lai; địa chỉ:
Khu phố H, phường T, tỉnh Gia Lai.
3.2. Bà Trần Thị C2, sinh ngày 20/10/1981; căn cước công dân số
************ cấp ngày 01/4/2021; quê quán: Phường H, tỉnh Gia Lai; địa chỉ:
Khu phố H, phường T, tỉnh Gia Lai.
3.3. Bà Hồ Thị N, sinh ngày 01/02/1979; căn cước công dân số
************ cấp ngày 27/7/2022; quê quán: Phường T, tỉnh Gia Lai; địa chỉ:
Số G L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.4. Bà Hồ Thị Kim N1, sinh ngày 05/9/1981; căn cước công dân số
************ cấp ngày 20/7/2022; quê quán: Phường T, tỉnh Gia Lai; địa chỉ:
Thôn N, xã B, tỉnh Gia Lai.
3.5. Bà Hồ Thị Kim B, sinh ngày 02/9/1984; căn cước số ************
cấp ngày 18/10/2024; quê quán: Phường T, tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Tổ dân phố T,
phường B, tỉnh Lâm Đồng.
3.6. Bà Hồ Thị Kim L, sinh ngày 20/12/1987; căn cước công dân số
************ cấp ngày 27/7/2022; quê quán: Phường T, tỉnh Gia Lai; địa chỉ:
Khu phố T, phường H, tỉnh Gia Lai.
3.7. Văn phòng C5.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Dương S - Trưởng Văn phòng,
địa chỉ: I L, phường P, TP ..
(Ông T, ông T1, ông C1, bà C2 có mặt; bà C, bà N, bà N1, bà B, bà L, ông
S vắng mặt tại phiên tòa).
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:
Thửa đất số 934, tờ bản đồ số 01 (bản đồ năm 1997), diện tích 1.681m
2
nay
là thửa đất số 173, tờ bản đồ số 09, diện tích 1.660,9m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất
ở và 1.160,9m
2
đất trồng cây lâu năm) tại khu phố H, phường T, tỉnh Gia Lai, có
nguồn gốc của ông Nguyễn T2 và bà Võ Thị D (là ông bà nội của ông T). Từ trước
năm 1975 cho gia đình bà C sử dụng một phần để ở, theo đo đạc phần đất này có
diện tích 826,6m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất ở và 326,6m
2
đất trồng cây lâu năm).
Phần còn lại từ năm 1976 giao cho ông T sử dụng nay thuộc quyền sử dụng của
ông T, theo đo đạc gồm Khu A có diện tích 363,3m
2
và Khu B có diện tích
447,5m
2
, diện tích tổng cộng là 810,8m
2
đất trồng cây lâu năm. Nhưng hộ bà C
đã chiếm sử dụng toàn bộ thửa đất và ký hợp đồng tặng cho ông C1. Nay ông T
3
khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Công nhận quyền sử dụng phần đất có diện
tích tổng cộng là 810,8m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 173 nói trên là
của ông T; hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 10/11/2014 giữa hộ bà C và ông C1 và buộc hộ bà C phải giao trả lại một
phần thửa đất có diện tích 810,8m
2
nói trên cho ông T sử dụng.
Tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Trần Huy
T1 trình bày bổ sung: Yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số: H03314 ngày 01/11/2007 cho hộ bà Trần Thị C và ông Hồ Văn C3;
công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích tổng cộng 810,8m
2
đất
trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 173 là của ông T; tuyên vô hiệu một phần
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/11/2014
giữa hộ bà C và ông C1; buộc hộ bà C phải giao trả lại phần đất tranh chấp cho
ông T sử dụng và đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập, bổ sung thêm tài liệu
chứng cứ.
- Bị đơn: Bà Trần Thị C vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết
vụ án bà C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời
khai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hồ Văn C1 trình bày: Thửa đất số 934, tờ bản đồ số 01 (bản đồ năm
1997), diện tích 1.681m
2
(Trong đó có: 200m
2
đất ở và 1.481m
2
đất vườn) tại khu
phố H, phường T, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện H (cũ) cân đối
giao quyền và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01323-QSDĐ/A6 ngày
24/7/1997 cho hộ bà Trần Thị C. Hộ có 08 nhân khẩu là bà Trần Thị C, ông Hồ
Văn C3, ông Hồ Văn C1, bà Hồ Thị N, bà Hồ Thị Kim N1, bà Hồ Thị Kim B, bà
Hồ Thị Kim L, bà Hồ Thị Kim C4. Nay thửa đất số 934, được đo đạc chỉnh lý
thành thửa đất số 173, tờ bản đồ số 09 (bản đồ VN 2000), diện tích 1.660,9m
2
(Trong đó có: 200m
2
đất ở và 1.460,9m
2
đất trồng cây lâu năm) đã được Ủy ban
nhân dân huyện H cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H03314 ngày
01/11/2007 cho hộ bà Trần Thị C và ông Hồ Văn C3. Sau đó hộ bà C làm thủ tục
chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 300m
2
nên thửa đất
số 173 có diện tích 1.660,9m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất ở và 1.160,9m
2
đất trồng
cây lâu năm). Năm 2014 ông C1 được hộ bà C đã ký hợp đồng tặng cho toàn bộ
quyền sử dụng thửa đất số 173 và đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
huyện H xác nhận đăng ký biến động ngày 18/12/2014. Năm 2016 ông C1 sáp
nhập quyền sử dụng thửa đất số 173 vào tài sản chung của vợ chồng và đã được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CS02532 ngày 28/6/2016
cho ông Hồ Văn C1 và bà Trần Thị C2, nên nay quyền sử dụng thửa đất số 173 là
của vợ chồng ông C1 bà C2. Ông C1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
+ Bà Trần Thị C2 trình bày: Đồng ý như trình bày trên của ông C1 và không
có ý kiến bổ sung gì thêm.
4
+ Bà Hồ Thị N, bà Hồ Thị Kim N1, bà Hồ Thị Kim B, bà Hồ Thị Kim L
vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án bà N, bà N1, bà B, bà L
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
Theo ông Công trình B1, bà N, bà N1, bà B, bà L từ bỏ không tham gia tố tụng,
vì quyền sử dụng thửa đất số 173 đã tặng cho ông C1 nay các bà không còn liên
quan gì.
+ Ông Phạm Dương S (Trưởng văn phòng C5) vắng mặt tại phiên tòa nhưng
có văn bản gửi Tòa án nội dung như sau: Văn phòng có chứng nhận hợp đồng,
công chứng số 00011108 ngày 10/11/2014 về trình tự, thủ tục và quy trình chứng
nhận được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Văn phòng không có yêu
cầu gì và việc vắng mặt không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên xin vắng mặt
trong quá trình tố tụng.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án số 348/2026/DS-ST, Ngày 02 - 7 – 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 6 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 và 9 Điều 26, Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 259 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 17 Luật đất đai năm 2024, các Điều 158, 163, 164, 166, 221, 613,
điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1
Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Công nhận thửa đất số 173, tờ bản đồ số 09 (bản đồ VN 2000), có diện
tích thực tế 1.637,4m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất ở và 1.137,4m
2
đất trồng cây lâu
năm) tại khu phố H, phường T, tỉnh Gia Lai thuộc quyền sử dụng của ông Hồ Văn
C1 và bà Trần Thị C2.
Giới cận: Đông giáp đường đất dài 27,97m. Tây giáp thửa đất số 172 dài
20,50m. Nam giáp các thửa đất số 385; 437; 209; 527; 210; 529 dài 8,56m;
0,25m; 0,82m; 11,73m; 3,38m; 9,99m; 4,82m; 0,93m; 7,17m; 2,17m; 6,75m;
5,14m; 16,51m. Bắc giáp đường đất dài 16,08m; 4,93m; 10,48m; 0,51m; 22,26m;
0,85m. (Có sơ đồ kèm theo).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Về việc yêu cầu Tòa án
giải quyết: Công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích tổng cộng
là 810,8m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 173 là của ông Nguyễn Thành
T; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày
10/11/2014 giữa hộ bà Trần Thị C và ông Hồ Văn C1 và buộc hộ bà Trần Thị C
phải giao trả lại một phần thửa đất số 173 có diện tích tổng cộng 810,8m
2
đất
trồng cây lâu năm cho ông Nguyễn Thành T sử dụng.
- Giao cho ông Hồ Văn C1 được quyền sở hữu 02 cây dừa ta của ông
Nguyễn Thành T có trên thửa đất số 173 nói trên và buộc ông Hồ Văn C1 phải
5
thối trả cho ông Nguyễn Thành T 2.042.000đ (Hai triệu không trăm bốn mươi hai
ngàn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành T là người cao tuổi nên
được miễn phải chịu.
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thành T 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003098 ngày
09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (nay là Thi hành án
dân sự tỉnh Gia Lai).
4. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thành T phải chịu, ông T đã nộp đủ và
chi phí xong.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả; quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo
Ngày 14/7/2026, Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T kháng cáo bản án dân
sự sơ thẩm số 348/2026/DS-ST, ngày 02 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 6 – Gia Lai, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
- Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đưa ra các luận cứ để yêu cầu
hủy bản án sơ thẩm. Phía Nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm đã quyết định vược
quá yêu cầu khởi kiện khi công nhận quyền sử dụng đất đang có tranh chấp cho
bị đơn. Đồng thời xác định tranh chấp về diện tích đất tranh chấp giữa nguyên
đơn và bị đơn xảy ra từ năm 2014 chứ không phải thời gian gần đây.
- Bị đơn không đồng ý với ý kiến của nguyên đơn.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
6
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn ông Nguyễn Thành T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T đảm bảo thời hạn
kháng cáo, được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại các
điều 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
các đương sự này theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T về việc yêu cầu
hủy bản án sơ thẩm, thấy rằng:
[2.1] Đối với nguồn gốc thửa đất, thấy:
Theo hồ sơ địa chính thửa đất số 934, tờ bản đồ số 01 (bản đồ năm 1997),
diện tích 1.681m
2
(Trong đó có: 200m
2
đất ở và 1.481m
2
đất vườn) là do bà Trần
Thị C đứng tên kê khai chủ sử dụng đất.
Ông T cho rằng phần đất này có nguồn gốc của ông Nguyễn T2 và bà Võ
Thị D (là ông bà nội của ông T). Từ trước năm 1975 cho gia đình bà C sử dụng
một phần để ở, theo đo đạc phần đất này có diện tích 826,6m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất ở và 326,6m
2
đất trồng cây lâu năm). Phần còn lại từ năm 1976 giao cho ông
T sử dụng nay thuộc quyền sử dụng của ông T, theo đo đạc gồm Khu A có diện
tích 363,3m
2
và Khu B có diện tích 447,5m
2
, diện tích tổng cộng là 810,8m
2
đất
trồng cây lâu năm. Nhưng hộ bà C đã chiếm sử dụng toàn bộ thửa đất và ký hợp
đồng tặng cho ông C1.
Tuy nhiên các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
- Từ thời điểm cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cân đối để giao đất cho
hộ bà C thì ông T đã có đơn kiến nghị và được UBND xã T,huyện H trả lời (vào
ngày 23/8/1014) “Thửa đất 173 tờ bản đồ số 09... năm 1993 đã được nhà nước
giao quyền cho hộ ông Hồ Văn C3 và bà Trần Thị C thường trú tại khối H, thị
trấn T diện tích 1681,0m
2
để ông sử dụng” (BL 231).
Thửa đất số 934, tờ bản đồ số 01 (bản đồ năm 1997), diện tích 1.681m
2
(Trong đó có: 200m
2
đất ở và 1.481m
2
đất vườn) tại khu phố H, phường T, tỉnh
Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện H (cũ) cân đối giao quyền và cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01323-QSDĐ/A6 ngày 24/7/1997 cho hộ bà
Trần Thị C. Hộ có 08 nhân khẩu là bà Trần Thị C, ông Hồ Văn C3, ông Hồ Văn
C1, bà Hồ Thị N, bà Hồ Thị Kim N1, bà Hồ Thị Kim B, bà Hồ Thị Kim L, bà Hồ
7
Thị Kim C4. Nay thửa đất số 934, được đo đạc chỉnh lý thành thửa đất số 173, tờ
bản đồ số 09 (bản đồ VN 2000), diện tích 1.660,9m
2
(Trong đó có: 200m
2
đất ở
và 1.460,9m
2
đất trồng cây lâu năm) đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp lại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H03314 ngày 01/11/2007 cho hộ bà Trần
Thị C và ông Hồ Văn C3. Sau đó hộ bà C làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng
từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở 300m
2
nên thửa đất số 173 có diện tích
1.660,9m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất ở và 1.160,9m
2
đất trồng cây lâu năm). Năm
2014 ông C1 được hộ bà C đã ký hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng thửa
đất số 173 và đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H xác nhận
đăng ký biến động ngày 18/12/2014. Năm 2016 ông C1 sáp nhập quyền sử dụng
thửa đất số 173 vào tài sản chung của vợ chồng và đã được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số: CS02532 ngày 28/6/2016 cho ông Hồ Văn C1 và
bà Trần Thị C2.
Như vậy, phần đất đang có tranh chấp đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền cấp giấy chứng nhận và đăng ký biến động nhiều lần.
Trong toàn bộ quá trình này, ông T không có ý kiến gì.
Theo quy định tại Điều 17 Luật Đất đai năm 2024: Nhà nước không thừa
nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử
dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền N Việt Nam và Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất, thấy:
Đối với phần diện tích đất trên, hộ gia đình bà C và hiện tại là gia đình ông
T đã sử dụng ổn định từ năm 1997, được cấp đổi và chuyển quyền sử dụng nhiều
lần; không có căn cứ để xác định nguyên đơn là người sử dụng toàn phần diện
tích đất có tranh chấp.
[2.3] Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thấy:
Năm 2014 bà C (và cũng là người đại diện cho các bà N, bà N1, bà bay, bà
L) và ông C1 ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất,
chứng nhận tại Văn phòng C5, thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/11/202014. Tài
sản tặng cho ông Công quyền sử dụng thửa đất số 173 và đã được Văn phòng
Đăng ký quyền sử dụng đất huyện H đăng ký biến động ngày 18/12/2014.
Năm 2016 ông C1 sáp nhập quyền sử dụng thửa đất số 173 vào tài sản
chung của vợ chồng và đã được của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp lại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số: CS02532 ngày 28/6/2016 cho ông Hồ Văn C1 và vợ là bà Trần Thị
C2. Như vậy quá trình cơ quan Nhà nước cấp Giấy CNQSDĐ; tặng cho và sáp
nhập đối với người có quyền như nêu trên là không trái quy định của pháp luật.
Do vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ; yêu
cầu hủy hợp đồng như yêu cầu của nguyên đơn.
8
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông T là người cao tuổi nên
được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 3 và 9 Điều 26, Điều 35, điểm a và c khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân
sự;
Căn cứ Điều 17 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ các điều 158, 163, 164, 166, 221, 613, điểm a khoản 1 Điều 651
Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 348/2026/DS-ST ngày 02 tháng
7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai, giữa nguyên đơn ông
Nguyễn Thành T và bị đơn bà Trần Thị C, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Tuyên xử:
3. Công nhận thửa đất số 173, tờ bản đồ số 09 (bản đồ VN 2000), có diện
tích thực tế 1.637,4m
2
(Trong đó có: 500m
2
đất ở và 1.137,4m
2
đất trồng cây lâu
năm) tại khu phố H, phường T, tỉnh Gia Lai thuộc quyền sử dụng của ông Hồ Văn
C1 và bà Trần Thị C2.
Giới cận: Đông giáp đường đất dài 27,97m. Tây giáp thửa đất số 172 dài
20,50m. Nam giáp các thửa đất số 385; 437; 209; 527; 210; 529 dài 8,56m;
0,25m; 0,82m; 11,73m; 3,38m; 9,99m; 4,82m; 0,93m; 7,17m; 2,17m; 6,75m;
5,14m; 16,51m. Bắc giáp đường đất dài 16,08m; 4,93m; 10,48m; 0,51m; 22,26m;
0,85m. (Có sơ đồ kèm theo).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Về việc yêu cầu Tòa án
giải quyết: Công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích tổng cộng
là 810,8m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 173 là của ông Nguyễn Thành
T; Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày
10/11/2014 giữa hộ bà Trần Thị C và ông Hồ Văn C1 và buộc hộ bà Trần Thị C
phải giao trả lại một phần thửa đất số 173 có diện tích tổng cộng 810,8m
2
đất
trồng cây lâu năm cho ông Nguyễn Thành T sử dụng.
9
- Giao cho ông Hồ Văn C1 được quyền sở hữu 02 cây dừa ta của ông
Nguyễn Thành T có trên thửa đất số 173 nói trên và buộc ông Hồ Văn C1 phải
thối trả cho ông Nguyễn Thành T 2.042.000đ (Hai triệu không trăm bốn mươi hai
ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành T được
miễn nộp tiền án phí.
Trả lại cho ông Nguyễn Thành T 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003098
ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn (nay là Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 6 – Gia Lai).
6. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thành T phải chịu, ông T đã nộp đủ và
chi phí xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và 36 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 6 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 6 – Gia Lai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 288/2026/DS-PT Bản án số 288/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất