Bản án số 257/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 257/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 257/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 257/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 257/2026/DS-PT Bản án số 257/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 257/2026/DS-PT Bản án số 257/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 257/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thu
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà
Ông Trần Văn Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 187/2026/TLPT-DS ngày 04 tháng 8
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 327/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2
Địa chỉ: Số B T, phường T, TP . Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Mộng V - chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế V1, sinh năm: 1985; Địa
chỉ: Số E H, phường Q, tỉnh Gia Lai (Văn bản ủy quyền ngày 10/8/2026); có
mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm: 1997; địa chỉ: Số C N, phường
A, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn K, sinh năm 1969; địa chỉ: Số
A N, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2026); có đơn yêu
cầu xét xử vắng mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Kinh K1 -
Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV Hãng Luật Lê Gia thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Đ; Địa chỉ: Số A L, phường B, tỉnh Gia Lai; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm:
1977; Địa chỉ: Số C N, phường A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Tiến H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Thế V1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
trình bày:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2 (sau đây gọi là Công ty) và anh Nguyễn
Tiến H có thỏa thuận về việc xây dựng nhà ở theo Hợp đồng số
0511/2024/HĐGK-VP ngày 10/11/2024. Theo Hợp đồng, Công ty thực hiện
công việc cung ứng dịch vụ thiết kế và thi công nhà ở tại số C N, phường A, tỉnh
Gia Lai còn anh H thanh toán tiền dịch vụ cho Công ty. Công ty thực hiện công
việc thiết kế và thi công nhà ở cho anh H trong thời gian 60 ngày kể từ ngày giao
kết Hợp đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty đã hoàn thành việc thiết kế và thi
công nhà ở cho anh H và đã bàn giao cho anh H theo Biên bản nghiệm thu hoàn
thành công trình đưa vào sử dụng ngày 06/3/2025. Chỉ có hạng mục lan can, cầu
thang chưa hoàn thành do anh H vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tổng số tiền thiết kế và thi công nhà ở là 1.022.000.000 đồng. Sau nhiều
lần thanh toán tiền, anh H thanh toán được 500.000.000 đồng, các bên chốt số nợ
522.000.000 đồng theo Biên bản làm việc về việc xác nhận nợ và cam kết thanh
toán ngày 06/3/2025. Sau khi chốt nợ, ngày 14/3/2025, anh H có chuyển khoản
cho Công ty 100.000.000 đồng, còn nợ 422.000.000 đồng.
Sau nhiều lần đòi nợ, ông Nguyễn Tiến T là cha ruột của anh H cam kết
nếu anh H không có khả năng thanh toán nợ thì ông T sẽ bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thay cho anh H.
Công ty yêu cầu anh H phải thanh toán 422.000.000 đồng và yêu cầu trả
tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền với mức lãi suất 20%/năm kể từ ngày
14/7/2025. Trường hợp anh H không có khả năng thanh toán nợ thì yêu cầu Tòa
án buộc ông T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho anh H.
Ông Lê Văn K là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Anh H và Công ty có thỏa thuận về việc xây dựng nhà ở theo Hợp đồng số
0511/2024/HĐGK-VP ngày 10/11/2024. Theo Hợp đồng, Công ty thực hiện
công việc cung ứng dịch vụ thiết kế và thi công nhà ở tại số C N, phường A, tỉnh
Gia Lai còn anh H thanh toán tiền dịch vụ cho Công ty. Công ty thực hiện công
việc thiết kế và thi công nhà ở cho anh H trong thời gian 60 ngày kể từ ngày giao
kết Hợp đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty chưa hoàn thành việc thiết kế và
thi công nhà ở cho anh H và chưa bàn giao nhà ở cho anh H. Đối với Biên bản
3
nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng ngày 06/3/2025 thì anh H có
ký tên. Ngoài hạng mục lan can, cầu thang chưa hoàn thành được thể hiện trong
biên bản thì còn nhiều hạng mục khác như ban công, nội thất nhà vệ sinh chưa
hoàn thành, phần nhà xây không đúng thiết kế nên anh H tạm ngừng việc thanh
toán.
Anh H thừa nhận tổng số tiền thiết kế và thi công nhà ở là 1.022.000.000
đồng. Sau nhiều lần thanh toán tiền, anh H đã thanh toán được 500.000.000
đồng, các bên chốt số nợ 522.000.000 đồng theo Biên bản làm việc về việc xác
nhận nợ và cam kết thanh toán ngày 06/3/2025. Sau khi chốt nợ, ngày 14/3/2025,
anh H có chuyển khoản cho Công ty 100.000.000 đồng, còn giữ lại 422.000.000
đồng.
Anh H xác định chưa thanh toán cho Công ty vì Công ty đã có nhiều vi
phạm theo Hợp đồng như: chưa hoàn thành các hạng mục của ngôi nhà, chất
lượng vật liệu xây dựng không bảo đảm. Ngôi nhà hiện nay đã xuất hiện nhiều
vết nứt, chất lượng công trình không bảo đảm như trong Hợp đồng.
Công ty yêu cầu anh H phải thanh toán 422.000.000 đồng và yêu cầu trả
tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định của pháp luật thì anh H
không đồng ý. Anh H chỉ đồng ý thanh toán số tiền 422.000.000 đồng nếu Công
ty khắc phục các vết nứt của công trình, hoàn thành toàn bộ các hạng mục còn lại
theo Hợp đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
Công ty.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tiến T trình bày:
Ông là cha ruột của anh Nguyễn Tiến H. Ông không giao kết hợp đồng với
Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2. Ông thừa nhận có ký vào Biên bản làm việc
ngày 02/4/2025 nhưng ông không đọc rõ nội dung và do ông V1 ép buộc ông
phải ký vào văn bản.
Công ty yêu cầu ông phải trả nợ thay cho anh H trong trường hợp anh H
không trả tiền cho Công ty thì ông đồng ý. Ngoài ra ông không có ý kiến nào
khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2.
2. Buộc anh Nguyễn Tiến H phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu
hạn K2 tổng số tiền 493.219.726 đồng (Bốn trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười
chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng). Trong đó tiền dịch vụ là 422.000.000 đồng
và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 71.219.726 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 18/5/2026), anh Nguyễn Tiến
H còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền với mức lãi suất
20%/năm trên số tiền dịch vụ chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Trường hợp anh Nguyễn Tiến H không trả hoặc trả không đầy đủ tiền
cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2 thì ông Nguyễn Tiến T có nghĩa vụ trả
toàn bộ số nợ thay cho anh Nguyễn Tiến H.
4
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí dân sự sơ thẩm,
quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, bị đơn ông Nguyễn Tiến H kháng cáo Bản án
dân sự số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực
2 - Gia Lai, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật
tố tụng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Các đương sự thống nhất hạng mục
lang cang, cầu thang trị giá 27.018.000đ. Buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn
số tiền còn lại 422.000.000đ - 27.018.000đ = 394.982.000đ và điều chỉnh lại mức
lãi suất của số tiền 394.982.000đ. Đề nghị Sửa Bản án dân sự số 37/2026/DS-ST
ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Tiến H đề nghị xem xét lại Bản
án dân sự số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 2 - Gia Lai. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1.1] Ngày 10/11/2024 ông Nguyễn Tiến H (bên A) với Cty TNHH Kiến
trúc và xây dựng V2 (bên B) ký Hợp đồng giao khoán số 0511/2024/HĐGK-VP
về việc thi công công trình xây dựng nhà ở.
Điều 2: Giá trị hợp đồng và hình thức thanh toán
2.1. Giá trị hợp đồng 949.000.000đ.
2.2. Phương thức thanh toán chia làm 3 đợt:
Đợt 1: Bên A thanh toán cho bên A 20% giá trị hợp đồng tương đương
189.800.000đ khi hai bên ký kết hợp đồng, thời hạn thanh toán trong 5 ngày làm
việc;
Đợt 2: Sau khi bên B thi công hoàn thành xong phần thô 50% khối lượng
công việc tại Điều 1 và hai bên xác nhận nghiệm thu, bên A thanh toán 50% giá
trị hợp đồng tương đương 474.500.000đ cho bên B trong vòng 5 ngày làm việc;
Đợt 3: Sau khi bên B thi công hoàn thành 100% khối lượng công việc tại
Điều 1 và hai bên xác nhận nghiệm thu, bên A thanh toán cho bên B 30% giá trị
còn lại của hợp đồng tương đương 284.700.000đ theo bảng nghiệm thu quyết
toán, thời hạn 5 ngày làm việc sau khi bên A nhận đủ biên bản nghiệm thu công
trình và giấy đề nghị thanh toán.
…
5
- Nếu bên B thi công chưa đạt yêu cầu kỹ thuật thì phải sửa lại ngay sau
khi có ý kiến của bên A. Sau khi chỉnh sửa xong, bên B phải báo lại cho bên A
để kiểm tra lại trước khi chấp thuận bằng biên bản nghiệm thu cho thực hiện
công việc tiếp theo.
Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của bên A
5.2. Nghĩa vụ của bên A: Thanh toán chi phí dịch vụ cho bên B theo đúng
tiến độ thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng.
[1.2] 18h ngày 06/3/2025 hai bên ký Biên bản làm việc xác nhận nợ và
cam kết thanh toán.
Tại mục 2 căn cứ xác nhận nợ “ Bên B cam kết sau khi nghiệm thu và bàn
giao công trình cho bên A và bên A không còn vướng mắc gì về vấn đề thi công
tại công trình số C N, A. Nay bên A xác nhận còn nợ lại bên B số tiền
522.000.000đ”.
Tại mục 3 bên A cam kết thanh toán khoản nợ 522.000đ theo từng tháng,
cụ thể: Ngày 14/3/2025 thanh toán 100.000.000đ; ngày 14/4/2025 thanh toán
100.000.000đ; ngày 14/5/2025 thanh toán 100.000.000đ; ngày 14/6/2025 thanh
toán 100.000.000đ; ngày 14/7/2025 thanh toán 122.000.000đ.
Ngày 14/3/2025, bên A đã chuyển khoản cho bên B 100.000.000đ. Số tiền
bên A còn phải thanh toán 422.000.000đ.
[1.3.] Ngày 06/3/2025 hai bên ký xác nhận vào Biên bản nghiệm thu hoàn
thành công trình đưa vào sử dụng, thời gian tiến hành nghiệm thu từ 18 giờ đến
19 giờ ngày 06/3/2025. Bên A ký biên bản và ghi lang cang, cầu thang chưa
hoàn thành.
[1.3.1] Tại mục 2 của Biên bản xác nhận nợ có nội dung, căn cứ xác nhận
nợ “Bên B cam kết sau khi nghiệm thu và bàn giao công trình cho bên A và bên
A không còn vướng mắc gì về vấn đề thi công tại công trình số 39 N, A”. Như
vậy, căn cứ để xác nhận số tiền bên A phải thanh toán bên B 522.000.000đ là sau
khi nghiệm thu và bàn giao công trình cho bên A và bên A không còn vướng
mắc gì về vấn đề thi công tại công trình. Tuy nhiên, Biên bản nghiệm thu hoàn
thành công trình được tiến hành nghiệm thu từ 18 giờ đến 19 giờ ngày
06/3/2025, bên A ký biên bản và ghi Lang cang, cầu thang chưa hoàn thành. Và
bên B thừa nhận chưa hoàn thành lang cang, cầu thang. Sau khi ký biên bản
nghiệm thu bên B vẫn chưa hoàn thành hạng mục lang cang, cầu thang và bên A
chỉ thanh toán bên B 100.000.000đ bằng hình thức chuyển khoản ngày
14/3/2025, còn phải thanh toán 422.000.000đ .
[1.3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất hạng mục lang
cang, cầu thang trị giá 27.018.000đ và thống nhất bên A còn phải thanh toán cho
bên B số tiền còn lại 422.000.000đ - 27.018.000đ = 394.982.000đ.
[1.4] Tại phiên tòa phúc thẩm bên A yêu cầu không tính lãi suất do chậm
thanh toán đối với số tiền 394.982.000đ nhưng không được bên B chấp nhận và
không phù hợp thỏa thuận tại Biên bản làm việc về việc xác nhận nợ và cam kết
thanh toán ngày 06/3/2025 các bên thỏa thuận mức lãi suất do chậm thực hiện
6
nghĩa vụ trả tiền là 0,2%/ngày (tương đương 73%/năm). Tuy nhiên, thỏa thuận
các bên vượt quá lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự nên cấp sơ thẩm điều chỉnh lãi suất từ ngày 14/7/2025 đến ngày xét xử (ngày
18/5/2026) là 308 ngày, cụ thể: (422.000.000đ x 20% x 308ngày)/365 ngày =
71.219.726đ
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bên B chỉ yêu cầu tính lãi suất trên số
tiền 394.982.000đ là phù hợp và có lợi cho bên A nên được chấp nhận, lãi suất
được điều chỉnh như sau: (394.982.000đ x 20% x 308ngày)/365 ngày =
66.659.975đ.
Do đó, anh Nguyễn Tiến H (bên A) có nghĩa vụ thanh toán cho Cty TNHH
Kiến trúc và xây dựng V2 (bên B) số tiền 394.982.000đ + 66.659.975đ =
461.641.975đ
[1.5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo của anh H.
[2] Về án phí.
[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội khóa XIV, anh Nguyễn Tiến H phải chịu 22.465.679đ.
[2.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội khóa XIV, anh Nguyễn Tiến H không phải chịu án phí DSPT.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Sửa Bản án dân
sự số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2
- Gia Lai, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn lại 422.000.000đ -
27.018.000đ = 394.982.000đ và điều chỉnh lại mức lãi suất của số tiền
394.982.000đ là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 3, điểm b khoản 1 Điều 117, Điều 357, khoản 1 Điều
402, Điều 468, khoản 3 Điều 518, khoản 1 Điều 519 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Tiến H đề nghị xem xét
lại Bản án dân sự số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 2 - Gia Lai.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai
7
2. Buộc anh Nguyễn Tiến H phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu
hạn K2 số tiền 461.641.975đ (Bốn trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi
mốt nghìn chín trăm bảy mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/5/2026), anh
Nguyễn Tiến H còn phải chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền với
mức lãi suất 20%/năm trên số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Trường hợp anh Nguyễn Tiến H không trả hoặc trả không đầy đủ tiền
cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2 thì ông Nguyễn Tiến T có nghĩa vụ trả
thay cho anh Nguyễn Tiến H.
4. Về án phí:
4.1. Án phí DSST:
Anh Nguyễn Tiến H phải chịu 22.465.679đ. (Hai mươi hai triệu bốn trăm
sáu mươi lăm nghìn sáu trăm bảy mươi chín đồng).
H1 lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2 10.580.667đ (Mười triệu năm
trăm tám mươi nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000949 ngày 21/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
4.2. Án phí DSPT:
Hoàn lại anh Nguyễn Tiến H 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai số 0006654 ngày 18/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Gia Lai.
5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 8 và 36 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 2 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 2, tỉnh Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Võ Thị Hồng Thu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 257/2026/DS-PT Bản án số 257/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 257/2026/DS-PT Bản án số 257/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất