Bản án số 024/2026/HS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 024/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 024/2026/HS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 024/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 024/2026/HS-PT Bản án số 024/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 024/2026/HS-PT Bản án số 024/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 24/2026/HSCTN-PT
Ngày 22/9/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thu.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà
Ông Trần Văn Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông
Tạ Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 28/2026/TLPT-HS-
CTN ngày 08 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Hoàng Lê Gia H do có kháng cáo
của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2026/HS-ST ngày 03 tháng 8
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Lê Gia H, sinh ngày 02/01/2007, tại tỉnh Gia Lai; số CCCD:
************; nơi cư trú: Tổ dân phố C (nay là thôn C), xã Đ, tỉnh Gia Lai;
ngh nghip: Lao động tự do; trnh độ văn ha: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tnh:
Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vit Nam; con ông Hoàng Văn L, sinh năm
1976 và bà Lê Thị T, sinh năm 1983; bị cáo chưa c vợ, con; tin án, tin sự:
Không. Bị cáo bị áp dụng bin pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày
04/4/2025 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có 07 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo,
kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 05/02/2025, Đặng Lê V và Hoàng Văn N uống
cà phê tại quán cà phê “Bon” thuộc tổ dân phố F (nay là thôn C), xã Đ, tỉnh Gia
Lai thì gặp Trương Xuân T1 cũng đang uống cà phê tại đây. Đến khoảng 21 giờ
2
cùng ngày, V rủ N đến quán “Làng " thuộc tổ dân phố G (nay là thôn C), xã Đ
để nhậu. Khi đến quán V không muốn nhậu nên đã ni Nguyên quay v quán
“Bon” uống nước. Cả hai quay ra chỗ để xe của quán thì bất ngờ bị hai thanh
niên (không xác định được nhân thân, lai lịch) từ trong quán chạy ra đánh V.
Sau đ, N và V v quán cà phê “Bon”. Trên đường v N gọi đin thoại cho
Trương Xuân T1 nói V bị đánh, V nói N gọi đin thoại cho Bùi Tiến S rủ đi
đánh nhau và lấy 02 con dao mang đến cho V. Nghe xong, S đồng ý. Đến quán
cà phê, N đổi xe máy của V, V chở N chạy v hướng xã I (nay là xã I, tỉnh Gia
Lai) mục đch đến nhà S lấy dao. Còn Bùi Tiến S sau khi nghe đin thoại của
Hoàng Văn N xong thì rủ thêm Trần Hữu D đi cùng để đánh lại người đã đánh
V, D đồng ý. D nhặt hai vỏ chai bia bỏ vào túi quần rồi điu khiển xe mô tô biển
kiểm soát (BKS): 81P7-3005 chở S cầm theo 02 con dao đến khu vực xã I thì
gặp N và V đang trên đường đi. Tại đây, S đưa cho N 02 con dao và tất cả 04
người cùng điu khiển 02 xe mô tô đi tm người đã đánh V. D chở S theo hướng
v quán “Làng ẩm thực” còn N chở V theo hướng ra đường Q lên hướng Cửa
khẩu Quốc tế L2. Khi D và S đến quán cà phê “Bon” thuộc tổ dân phố F (nay là
thôn C), xã Đ gặp Trương Xuân T1, T1 hỏi S: “Đi đâu đấy”, S trả lời: “Đi tm
thằng đánh V” rồi tiếp tục điu khiển xe đi tm người đánh V. Trên đường đi, S
và D gặp Trương Văn D1 điu khiển xe mô tô BKS: 81U1-127.17 chở Đặng
Anh T2 chạy pha trước. D điu khiển xe vượt qua xe của D1 và T2. Thấy vậy,
T2 cho rằng D và S điu khiển xe nẹt pô và tạt đầu xe mình nên T2 nói D1 đuổi
theo vượt lên hỏi: “Chúng mày đánh nhau với tao không” và ném lon nước 7Up
vào xe của S, S lấy chai bia từ trong túi áo của D ra ném lại nhưng không trúng
rồi bỏ chạy, D1 và T2 đuổi theo. Trên đường bỏ chạy S gọi đin thoại cho
Trương Xuân T1 nói mang hàng (tức là hung khí) xuống quán “Làng ẩm thực”
và gọi cho V ni đã tm được người đánh V. Khi nghe S gọi, do T1 mở loa ngoài
nên Trần Thị H1 ngồi sau nghe rõ nội dung và xin đi cùng. T1 điu khiển xe mô
tô BKS: 81AT-050.58 chở theo H1 chạy lấy 01 dao tự chế làm bằng kim loại,
phần cán dài 63cm hình trụ tròn, hàn lin với lưỡi dao dài 37cm. Lưỡi dao sắc
bén mũi dao vát nhọn, thân dao có dấu hiu rỉ sét và 01 ống tuýp sắt đưa cho H1
kẹp ở bên hông xe rồi điu khiển xe lên quán “Làng ẩm thực” đợi S. V phía N
và V, sau khi nghe đin thoại của S xong điu khiển xe quay lại quán “Làng ẩm
thực”.
Đối với D và S, lúc này vẫn đang bị T2 và D1 đuổi đánh. Quá trnh bỏ
chạy D chở S chạy đến cổng hội trường tổ dân phố 7 (nay là thôn C), xã Đ thì
thấy bạn của S là Lê Viết Q nên S hô to: “N rượt tao ka, n rượt tao ka” nhằm
mục đch rủ Q giúp S đánh lại nhóm T2 và D1. Khi D và S bỏ chạy đến đoạn
đường vào quán “Làng ẩm thực”, th Trương Xuân T1 chở theo Trần Thị H1
đến. S hỏi:“Dao đâu”, H1 đưa cho S 01 con dao. S cầm dao cùng với D, T1 và
H1 quay lại đánh nhau với T2. T2 cầm theo cây gỗ (loại gỗ cao su) đập trúng
đầu xe của D, S cầm dao nhảy xuống xe bị T2 đánh thêm 01 (một) cái làm vỡ
mũ bảo hiểm và gậy gỗ T2 bị gãy. S dùng dao vừa tiến vừa chém v pha trước
gây thương tích cho T2 ở mắt và đùi trái. T2 lùi sát vào lan can đường, S tiếp tục
chém trúng lan can làm cong dao. Khi S và T2 đang đánh nhau, D1 bước xuống
3
xe, thấy D1 xuống xe T1 cũng xuống và cầm tuýp sắt chỉ v phía D1 ni “Mày
thích chết th vào đây”, D1 sợ bỏ chạy lên đường. Khi T1 xông lại thì bị T2 cầm
gậy đang đánh nhau với S nên đánh trúng vào người T1, T1 đẩy S ra và dùng
tuýp sắt đánh trúng vào vùng vai sau T2 02 cái. Bị S và T1 đánh T2 bỏ chạy
theo D1 lên đường Quang T3. Thấy T2 bỏ chạy S bẻ dao thẳng lại rồi chạy bộ
đuổi theo, T3 cầm tuýp sắt chở H1 cùng đuổi theo. Riêng D đuổi được một đoạn
mt không đuổi tiếp mà quay lại dùng phần gậy gãy của T2 đập vào xe mô tô
của D1 làm hư hỏng phần đầu xe, vỡ phần ốp nhựa bảo v biển số. Đối với Lê
Viết Q khi nghe rủ đi đánh T2 và D1 thì bảo Hoàng Lê Gia H lấy xe của H đuổi
theo nhóm của D và S. Khi đi được một đoạn thì Q bảo H dừng xe nhặt một cột
cờ bên đường mang theo.
Khi đuổi đến ngã tư giao nhau giữa đường vào quán “Làng " và đường
Q, S thấy H chở Q đang cầm cột cờ đi tới. S chỉ theo hướng chạy của T2 và D1
chạy rồi ni “n kia, n kia”. Nghe xong, H chở Q đuổi theo. Khi đuổi kịp, Q
ngồi trên xe dùng cột cờ đánh 01 cái sượt qua ngực của D1 nhưng không gây
thương tch. Q nhảy xuống xe tiếp tục đánh D1 thêm 01 cái nhưng không trúng.
Bị đánh D1 lin bỏ chạy vào nhà dân. Lúc này T3 đến túm cổ áo T2 dùng tuýp
sắt đánh 01 cái trúng hàng rào và 01 cái trúng vai T2. Sau đ, T3 đi ra và nói:
“mày ra đây, đúng sai g th ra đây”, vừa nói xong, Q dùng cột cờ đánh trúng vai
T2. Bị đánh, T2 giật cột cờ của Q khua trước mặt nhưng không trúng ai. Lúc
này, N điu khiển xe chở V đến dùng tay phải gạt cột cờ của T2 và chém T2 01
nhát. Bị chém, T2 vứt cột cờ rồi bỏ chạy, trong lúc chạy T2 bị V chặn đường
dùng dao chém thêm 01 nhát vào lưng, T2 tiếp tục bỏ chạy thì ngã. Phát hin ra
nhầm người nên cả nhóm của S bỏ đi, T2 được đưa đến cấp cứu tại Trung tâm Y
tế huyn Đ sau đ chuyển đi cấp cứu tại Bnh vin Đa khoa tỉnh G. Sau khi
đánh nhau xong các đối tượng v nhà ngủ. Sau đ, các đối tượng bị cơ quan
Công an triu tập làm vic và đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với Lê Viết Q, sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị truy nã đến ngày 11/9/2025
thì bị bắt.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số:
75/KLTTCT-TTPY ngày 14/3/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh G, kết luận:
- Các kết quả chính: 01 sẹo vết thương phần mm bờ dưới mi mắt mắt
phải: 3%; 01 sẹo vết thương phần mm nằm xiên vùng gò má phải: 3%; 01 sẹo
vết thương phần mm nằm ngang đầu trong bờ trên mi mắt phải: 3%; 01 sẹo vết
thương phần mm nằm ngang bờ dưới xương bả vai phải ở khoảng liên sườn 6-
7: 2%; 01 sẹo vết thương phần mm mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải: 2%; 01 sẹo
vết thương phần mm nằm xiên bờ trước ngoài 1/3 giữa đùi trái: 2%; Vết
thương lưng phải gây đứt gãy cung sau xương sườn số 8 bên phải, cal xấu:
2,5%; Vết thương lưng phải gây gãy cung bên xương sườn số 7 bên phải, cal tốt:
2%.
- Kết luận:
+ Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy
định tỷ l phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám
4
định pháp y tâm thần, xác định tỷ l phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Anh
T2 tại thời điểm giám định là: 18% (mười tám phần trăm), áp dụng phương pháp
cộng tại Thông tư.
+ Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.
Đối với vật gây thương tch cho Đặng Anh T2:
- Vết thương bờ dưới xương bả vai phải phù hợp với sự tác động của vật
có cạnh sắc bén. Vì vậy, vật được trưng cầu là 01 (một) con dao có cán bằng
kim loại, lưỡi dao sắc và c mũi nhọn là vật phù hợp có thể gây ra vết thương
nêu trên.
- Các thương tch ở hốc mắt phải, cẳng tay phải và 1/3 giữa đùi trái phù
hợp với sự tác động trực tiếp của vật có cạnh sắc. Vì vậy, các vật được trưng cầu
gồm 01 (một) con dao tự chế, 01 (một) con dao qua hình ảnh cung cấp và 01
(một) con dao rựa qua hình ảnh cung cấp là các vật đu có thể gây ra các thương
tích nêu trên.
- Còn các vật: Tuýp sắt tròn, thanh sắt vuông treo cờ và các khúc cây gỗ
qua hình ảnh cung cấp là vật không phù hợp để gây ra các thương tch nêu trên.
- Các thương tch trên cơ thể của Đặng Anh T2: Tại thời điểm giám định
các thương tch đã lin sẹo, vì vậy chỉ định hướng vật phù hợp có thể gây ra các
thương tch nêu trên.
Ngày 09/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điu tra Công an tỉnh G trưng cầu
giám định mẫu máu thu được trên cột cờ do Lê Viết Q sử dụng để đánh anh
Đặng Anh T2. Tại Kết luận giám định số 543/LK-KTHS ngày 15/4/2025 của
Phân vin khoa học Hình sự tại Đà Nẵng, kết luận: Vết màu nâu đỏ dính trên
thanh kim loại là máu của Đặng Anh T2.
Ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điu tra Công an tỉnh G ra quyết định
trưng cầu giám định dao c tnh sát thương cao đối với 01 (một) con dao tự chế
làm bằng kim loại tổng chiu dài dao là 93,9cm làm bằng kim loại, đã qua sử
dụng bị rỉ sét, phần cán dao có hình trụ tròn rỗng ruột làm bằng kim loại có
đường kính 2,7cm, chiu dài 60cm, phần lưỡi dao c mũi dao vát nhọn, khổ
rộng lưỡi dao 4cm; chiu dài lưỡi dao tính từ mũi nhọn của dao đến phần giao
với cán dao là 33,9cm. Tại kết luận giám định số 119/KL-GĐ ngày 08/8/2025
của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận: Con dao c đặc điểm nêu trên gửi giám
định là dao tự chế thuộc Phụ lục 5 "Danh mục dao c tnh sát thương cao" theo
Thông tư 75/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HDĐGTS ngày 26/2/2025 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyn Đ (cũ), kết luận:
- Giá trị thit hại 01 (một) xe mô tô, nhãn hiu AirBlade, số loại Honda,
màu đỏ + đen, xe đã qua sử dụng (mua cũ vào tháng 10/2020 với giá 17.000.000
đồng). Bị hư hỏng 01 ốp đầu, 01 đồng hồ km, 01 pha bên trái, 01 khung nhựa ốp
biển số, do cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra ngày 05/02/2025 tại tổ dân phố G, thị
trấn C, huyn Đ, tỉnh Gia Lai là 1.500.000đ (một triu năm trăm nghn đồng).
5
- Giá trị thit hại 01 (một) xe mô tô, nhãn hiu BALMY, kiểu dáng Dream
Trung Quốc, màu đen, xe đã qua sử dụng (mua cũ vào tháng 12/2018 với giá
4.000.000 đồng). Bị hư hỏng 01 ốp đầu, 01 pha đèn, 01 xi nhan bên phải, 01 xi
nhan bên trái, do cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra ngày 05/02/2025 tại tổ dân phố
G, thị trấn C, huyn Đ, tỉnh Gia Lai là 900.000đ (chn trăm nghn đồng).
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2026/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điu 134; các Điu 17, 38, 50, 58; các điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điu 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các
năm 2017 và 2025.
V tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Lê Gia H phạm tội “Cố ý gây
thương tch”.
V hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Lê Gia H 02 (hai) năm tù. Thời hạn
tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyn kháng cáo.
3. Nội dung kháng cáo
Ngày 17/8/2026, bị cáo Hoàng Lê Gia H kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt và xin được hưởng án treo.
4. Tranh luận tại phiên toà
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Vin kiểm sát v vic giải quyết
vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Lê Gia H; giữ nguyên bản
án sơ thẩm số 70/2026/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 8 – Gia Lai.
- Bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội, không oan sai
nhưng xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] V hành vi phạm tội của bị cáo
L1 khai của bị cáo Hoàng Lê Gia H tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với
lời khai của các bị cáo tại cơ quan điu tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với
các chứng cứ, tài liu có tại hồ sơ vụ án, c căn cứ xác định:
Vào khoảng 21 giờ ngày 05/02/2025, Đặng Lê V và Hoàng Văn N đi đến
quán nhậu “Làng nướng”, tại tổ dân phố G, thị trấn C, huyn Đ, tỉnh Gia Lai
(nay là thôn C, xã Đ, tỉnh Gia Lai) thì bị hai thanh niên (không xác định được
nhân thân, lai lịch) từ trong quán chạy ra đánh V. Sau đ, V và N đã rủ rê Bùi
Tiến S, Trần Hữu D, Trương Xuân T1, Hoàng Lê Gia H, Lê Viết Q và Trần Thị
H1 đến dùng dao, tuýp sắt, mã tấu, cột cờ đánh, chém gây thương tch cho Đặng
Anh T2. Riêng Bùi Tiến S dùng dao c tnh sát thương cao chém gây thương
6
tích cho anh Đặng Anh T2. Hậu quả làm anh T2 bị thương tch với tỷ l phần
trăm tổn thương cơ thể là 18%, 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Do đ, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Hoàng Lê Gia H phạm tội “Cố
ý gây thương tch” theo điểm đ khoản 2 Điu 134 của Bộ luật Hình sự là c căn
cứ, đúng tội.
[2] V kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án
treo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Hoàng Lê Gia H thực hin tội phạm với vai trò là người giúp sức,
đã dùng xe mô tô chở bị cáo Q đuổi theo anh T2 để bị cáo Q dùng cột cờ đánh
anh T2, tích cực trong vic giúp Q đuổi theo và thực hin hành vi gây thương
tích cho anh T2. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa c tin án, tin sự, không có tình
tiết tăng năng trách nhim hình sự; v tình tiết giảm nhẹ trách nhim hình sự:
quá trnh điu tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải v hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo cùng với các
những người khác đã tự nguyn bồi thường thit hại cho bị hại với số tin
95.000.000đ. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách
nhim hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điu 51 của Bộ luật Hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2025.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo bổ sung tài liu v vic ông ngoại của bị cáo
được thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba thuộc tình tiết giảm nhẹ
trách nhim hình sự quy định tại khoản 2 Điu 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy
nhiên, cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã cân nhắc tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ
trách nhim hình sự của bị cáo (đã áp dụng khoản 2 Điu 51 của Bộ luật Hình sự
để lượng hình, quyết định hình phạt cho bị cáo) và so sánh vai trò của bị cáo với
các bị cáo khác nên đã xử phạt bị cáo hai năm tù là c căn cứ pháp luật. Vic
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không đảm bảo công bằng với các bị cáo khác.
Do đ, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không c căn cứ để chấp nhận kháng cáo
bị cáo v vic xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] V án ph: Căn cứ khoản 2 Điu 135, khoản 2 Điu 136 Bộ luật Tố
tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, l phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ án ph hnh sự phúc
thẩm do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điu 355, Điu 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Lê Gia H. Giữ nguyên
7
bản án hình sự sơ thẩm số 70/2026/HS-ST ngày 03 tháng 8 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 8 – Gia Lai.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điu 134; các Điu 17, 38, 50, 58; các điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điu 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các
năm 2017 và 2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Lê Gia H 02 (hai) năm tù v tội “Cố ý gây thương
tch”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ khi bị bắt đi thi hành án.
2. V án phí: Áp dụng khoản 2 Điu 135, khoản 2 Điu 136 Bộ luật Tố
tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, l phí tòa án.
Bị cáo Hoàng Lê Gia H phải chịu 200.000 (hai trăm nghn) đồng án phí
hình sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điu 2
Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyn thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyn
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 8 và
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiu thi hành án được thực hin theo quy định
tại Điu 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã c hiu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Phòng HSNV - CA tỉnh Gia Lai;
- THADS tỉnh Gia Lai;
- VKSND khu vực 8 – Gia Lai;
- TAND khu vực 8 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 8 – Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu VT, THS, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
Võ Thị Hồng Thu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 024/2026/HS-PT Bản án số 024/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 024/2026/HS-PT Bản án số 024/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất