Bản án số 030/2026/HS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 030/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 030/2026/HS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 030/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 030/2026/HS-PT Bản án số 030/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 030/2026/HS-PT Bản án số 030/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Quách Lý Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2026/TLPT-HS ngày 08/9/2026 đối với
bị cáo Bùi Văn Đ và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo Đ và bị cáo Lư Thành
H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2026/HS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Bùi Văn Đ (tên gọi khác là Đệ N), sinh ngày 26/3/2003 tại Cà Mau; số CCCD:
***********; nơi cư trú: Ấp D, xã K, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học
vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Bùi Văn B và bà Châu Thị Hồng Ấ; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân
thân: Ngày 28/10/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định
khởi tố bị can về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” xảy ra ngày 08/3/2025 tại ấp T, xã
T, tỉnh Cà Mau; Toà án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau xử phạt bị cáo 04 tháng tù vào
ngày 26/8/2026. Bị cáo tại ngoại có mặt.
2. Lư Thành H, sinh ngày 30/7/2007 tại Cà Mau (tính đến ngày thực hiện hành
vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 06 ngày); số CCCD: ************, cấp ngày
08/3/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C1; nơi cư trú: Ấp F, xã U,
tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lư Văn H1 và bà Lữ Thị C;
chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: (1) Tại Quyết định số 1617/QĐ-
UBND ngày 01/12/2025, Chủ tịch UBND xã U áp dụng biện pháp quản lý người sử
dụng trái phép chất ma tuý thời hạn 01 năm kể từ ngày 01/12/2025, (2) Tại Quyết
định số 92/QĐ-XPHC ngày 04/12/2025, Trưởng Công an xã U xử phạt vi phạm hành
chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo tại
ngoại có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 30/2026/HS-PT
Ngày: 29-9-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ông Nguyễn Trọng Quế
Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Phan Thanh Hải
2
- Bị hại trong vụ “Cố ý gây thương tích” (không được Toà án triệu tập): Anh
Lê Lâm T, sinh ngày 22/4/2008.
- Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị
(không được Toà án triệu tập): Phạm Nhựt T1, Trần Minh K, Bùi Quốc A, Mã Trung
N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/5/2025, Nguyễn Duy K1, Lư Thành H, Bùi Quốc
A, Trần Minh K tập trung nhậu tại quán “Cô T2” do bà Võ Thanh T2 làm chủ, thuộc
ấp C, xã K, tỉnh Cà Mau. Cả nhóm nhậu khoảng 30 phút thì Lý Khánh T3, Thái Lê Song
H2 đi đến cùng nhậu. Trong lúc nhậu K1 nói “Buồn quá, kiếm gì vui vui đi”, nghe
vậy T3 đề xuất tìm người đánh thì cả nhóm đồng ý. Hal gợi ý đánh Nguyễn Trọng P
do xác định “P nhỏ mà láo” thì cả nhóm đồng ý. Kiện điện thoại rủ Phạm Nhựt T1, H
điện thoại rủ Bùi Văn Đ đến quán để cùng đi đánh P. Sau đó, H, K1, T3 thay phiên
nhắn tin chửi, đe dọa và hẹn P đánh nhau, P đồng ý và hẹn đánh nhau vào lúc 23 giờ
30 phút cùng ngày tại khu vực cống Giáo Bảy. Lúc này K1 chở H đến nhà hoang gần
nhà của K1 lấy 02 dao tự chế bao gồm 01 dao dài 169cm và 01 dao lưỡi kim loại cán
quấn khăn màu đỏ, T3 chở K về nhà của K lấy 02 dao tự chế bao gồm 01 dao mèo
cán gỗ màu nâu, 01 dao dạng rựa và 01 ống sắt dài 01 mét. Đến khoảng hơn 22 giờ
00 phút cùng ngày, cả nhóm xuất phát đi đến nơi đã hẹn. Cả nhóm đi 04 xe mô tô,
cụ thể: Xe thứ nhất K1 chở H cầm theo 02 cây dao bao gồm 01 dao lưỡi kim loại cán
quấn khăn màu đỏ và 01 dao dạng rựa; xe thứ hai Quốc A chở K cầm theo 01 ống sắt
dài 01 mét; xe thứ ba Đ chở T1 cầm theo 02 cây dao bao gồm 01 dao dài 169cm và
01 dao mèo cán gỗ màu nâu; xe thứ tư H2 chở T3 cầm theo nhiều vỏ chai nước ngọt.
Trên đường đến nơi hẹn, xe của K1 nhìn thấy một xe mô tô chở ba người chạy
ngược chiều, K1 dừng xe, bước xuống tay cầm 01 dao lưỡi kim loại cán quấn khăn
màu đỏ ném về phía xe chở ba người đang chạy nhưng không trúng người, dao rơi
vào bụi cây, K1 đến tìm nhưng không thấy do trời tối nên lên xe chở H cầm 01 dao
dạng rựa đuổi theo. Xe của Đ nhìn thấy 01 xe mô tô chạy ngược chiều nên áp sát, T1
ngồi phía sau dùng dao mèo cán gỗ màu nâu chém vào chân của người ngồi trên xe
thì xe bỏ chạy nên Đ chở T1 đuổi theo. Cả nhóm đuổi theo đến khu vực Cầu Đ, rồi
đến cống Sào L nhưng không gặp nhóm của P nữa nên cả nhóm quay về quán “Cô
T2” thì thấy dao mèo cán gỗ màu nâu có dính máu và được biết người bị T1 gây
thương tích là Lê Lâm T. Cả nhóm giao lại hung khí bao gồm 03 cây dao của K1, K
mang theo và 03 cây chĩa nhặt của Mã Trung N1 bỏ lại cho K1 và K rồi ra về.
Sau khi sự việc xảy ra, Lê Lâm T được đưa đến Bệnh viện Đ1 để điều trị. Ngày
07/5/2025, ông Lê Thanh L1 là cha ruột của T đến Công an xã K (nay là Công an xã
Đ) trình báo vụ việc.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 224/KLTTCT-
TTPY ngày 12/9/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh C đối với Lê Lâm T, kết luận: Căn
cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm
3
tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác
định: 01 vết sẹo mặt trước ngoài gối phải, kích thước 10cm x 0,4cm, tỷ lệ 2%, do
vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; Gãy vỏ (mẻ) xương mâm chày ngoài phải, tỷ lệ
2%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; Đứt bán phần gân bánh chè phải đã khâu
nối, hiện tại vận động gối phải bình thường, tỷ lệ 8%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn
gây ra. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Lâm T tại thời điểm giám định
là 12% (mười hai phần trăm). Kết luận khác: Thương tích do vật sắc hoặc vật sắc
nhọn tác động lên bề mặt cơ thể làm tổn thương da, gân cơ, xương, sau khi điều trị
để lại thương tích như trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2026/HS-ST ngày 22/7/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Cà Mau đã quyết định:
(1) Đối với bị cáo Bùi Văn Đ:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ 02 năm 03 tháng tù
về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của các tội, buộc bị cáo
phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù;
(2) Đối với bị cáo Lư Thành H:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 304; điểm b, s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 119, khoản 1 Điều
121 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo H 01 năm 04 tháng tù về
tội “Cố ý gây thương tích” và 08 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái
phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của các tội, buộc bị cáo phải chấp hành
hình phạt chung là 02 năm tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo còn lại,
xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/8/2026, các bị cáo Bùi Văn Đ và Lư Thành H kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Đ chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo H vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản
1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo
của các bị cáo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 84/2026/HS-ST ngày 22/7/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau về phần hình phạt.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ
hình phạt, bị cáo H xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Văn Đ và Lư Thành H tiếp tục thừa
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo là hoàn toàn
4
tự nguyện, phù hợp với lời khai của các bị cáo còn lại và của bị hại trong vụ án; phù
hợp với Kết luận giám định thương tích của bị hại, Kết luận giám định vũ khí gây
án, các vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ
án. Quá trình thu thập chứng cứ đảm bảo tính hợp pháp, khách quan. Qua đó, có đủ
cơ sở để kết luận:
[1.1] Ngày 06/5/2025, tại ấp M, xã Đ, tỉnh Cà Mau, Phạm Nhựt T1, Trần Minh K,
Bùi Văn Đ, Lư Thành H, Bùi Quốc A, Nguyễn Duy K1, Lý Khánh T3, Thái Lê Song H2
sử dụng dao tự chế dài 50cm (dao mèo) gây thương tích cho bị hại Lê Lâm T với tỷ
lệ tổn thương cơ thể là 12%. Mã Trung N1 đã có hành vi chế tạo 03 cây chĩa, tàng trữ
và ngày 06/5/2025, vận chuyển đến khu vực ấp M, xã Đ, tỉnh Cà Mau để sử dụng vào
mục đích đánh nhau nhưng chưa sử dụng.
[1.2] Ngoài ra, trừ bị cáo N1, các bị cáo còn lại tàng trữ, vận chuyển và sử dụng
trái phép 01 dao tự chế dài 77cm (dạng dao rựa), 01 dao tự chế bằng kim loại dài
169cm. Kết luận giám định số 206/KL-KTHS ngày 27/9/2026 của Phòng K2 Công
an tỉnh C, xác định: (1) Một cây dao tự chế dài 50cm, có cạnh sắc, mũi nhọn là mã
tấu thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày
15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; (2) Một cây dao dài 77cm (dạng dao rựa) là dao
sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA
ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng
vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; (3) Một cây dao tự chế dài 169cm, có cạnh sắc,
mũi nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA
ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng
vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; (4) Ba đoạn kim loại, trên đầu mỗi đoạn được
gắn hai mũi nhọn (dạng cây chĩa) là dao hoán cải thuộc Phụ lục 5 “Danh mục vũ khí
thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết
một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
[1.3] Với các hành vi nói trên, Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau đã xét xử
các bị cáo Phạm Nhựt T1, Trần Minh K, Lư Thành H, Bùi Văn Đ, Bùi Quốc A về tội
“Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự
và tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản
1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Mã Trung N1 về tội “Chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình
sự là có căn cứ. Đối với Nguyễn Duy K1, Lý Khánh T3 đã được cơ quan Cảnh sát
điều tra tách ra và đã được xét xử ở vụ án khác. Đối với Thái Lê Song H2, sinh ngày
12/12/2010 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
[2] Trước khi phạm tội, các bị cáo có bàn bạc, nhưng thể hiện sự bộc phát, nhất
thời, không có sự phân công vai trò, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.
Trong đó, bị cáo bị cáo K1 và bị cáo T3 là người đề xuất, khởi xướng và cùng các bị
cáo còn lại thực hiện hành vi phạm tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến
sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của
nhà nước đối với vũ khí quân dụng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn
xã hội ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân,
5
cũng như chính quyền địa phương. Vào thời điểm phạm tội, các bị cáo ở độ tuổi còn
trẻ, nhưng lại có xu hướng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, manh động và liều
lĩnh, thể hiện tính hung hăng, sẵn sàng sử dụng hung khí có tính sát thương cao giải
quyết mâu thuẫn. Nguyên nhân phạm tội có một phần do thiếu sự quan tâm giáo dục
từ gia đình, các bị cáo bỏ học sớm, theo lối sống tiêu cực, có suy nghĩ lệnh lạc, tụ
tập giao lưu với các đối tượng không tốt.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn Đ và Lư Thành H:
Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho các bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; Đã tự nguyện bồi
thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các
bị cáo. Ở thời điểm phạm tội, bị cáo H chưa đủ 18 tuổi. Các bị cáo Đ và H có nhân
thân không tốt, trong đó, bị cáo H bị chính quyền địa phương áp dụng biện pháp
quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Vào ngày 28/10/2025, bị cáo Đ bị Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Cố ý làm hư
hỏng tài sản” xảy ra ngày 08/3/2025 tại ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau và bị Toà án nhân
dân khu vực 2 - Cà Mau xử phạt 04 tháng tù. Từ đó, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị
cáo Đ 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm 03 tháng tù về
tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Xử phạt bị cáo H
01 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 08 tháng tù về tội “Tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, là tương xứng.
Các bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về 02 tội thuộc tội phạm nghiêm trọng
không đủ điều kiện để được hưởng án treo, trong đó, bị cáo Đ không cung cấp được
tình tiết giảm nhẹ nào mới, riêng bị cáo H có cung cấp thêm tài liệu thể hiện bị cáo
có ông ngoại Lữ Minh D được tặng Huân chương chiến sĩ hạng Ba, Huy hiệu nghĩa
vụ quốc tế, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, tuy nhiên cũng không làm thay đổi mức
hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo.
Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “Đã tự nguyện bồi thường, khắc phục một
phần hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm
nhẹ cho các bị cáo ở cả 02 tội là không phù hợp, cần được rút kinh nghiệm.
Đối với bị cáo Đ, hồ sơ không có tài liệu thể hiện bản án sơ thẩm mà Toà án
nhân dân khu vực 2 - Cà Mau xử phạt 04 tháng tù đối với bị cáo có hiệu lực pháp
luật, nên Toà án cấp phúc thẩm không có cơ sở để tổng hợp hình phạt của các bản
án.
[5] Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát được chấp nhận.
[6] Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
[7] Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã
có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn Đ và Lư Thành H, giữ nguyên
Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2026/HS-ST ngày 22/7/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 3 - Cà Mau về phần hình phạt.
2. Về trách nhiệm hình sự:
2.1. Đối với bị cáo Bùi Văn Đ:
(1) Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về
tội “Cố ý gây thương tích”;
(2) Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”;
(3) Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình
phạt của các tội, buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba)
năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2.2. Đối với bị cáo Lư Thành H:
(1) Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 119 và khoản 1 Điều 121 của Luật Tư pháp
người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Lư Thành H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù
về tội “Cố ý gây thương tích”;
(2) Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự; Khoản 1 Điều 119 và khoản 1 Điều 121 của Luật Tư pháp người chưa
thành niên, xử phạt bị cáo Lư Thành H 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”;
(3) Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình
phạt của các tội, buộc bị cáo Lư Thành H phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai)
năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án: Các bị cáo Đ và H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/bị cáo án phí
hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Công an tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 3-CM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-CM;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-CM;
- Công an xã Khánh Lâm, U Minh, tỉnh CM;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Quế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 030/2026/HS-PT Bản án số 030/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 030/2026/HS-PT Bản án số 030/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất