Bản án số 285/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 285/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 285/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 285/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 285/2026/DS-PTNgày 22/9/2026V/v Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất trái pháp luật và hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số 285/2026/DS-PT
Ngày 22/9/2026
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản là
quyền sử dụng đất, yêu cầu
chấm dứt hành vi cản trở quyền
sử dụng đất trái pháp luật và
hủy quyết định cá biệt của cơ
quan, tổ chức
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Thu và ông Trần Văn Thưởng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh
– Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2026/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2026
về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành
vi cản trở quyền sử dụng đất trái pháp luật và hủy quyết định cá biệt của cơ quan,
tổ chức”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 341/2026/QĐ-PT ngày
17 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cáp Duy T, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh
Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn:
Bà Võ Thị N, sinh năm 1954, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Ông Lê Thành T1, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai. Có
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai. Có
mặt.
Ông Cáp Duy D, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ D, thôn V, xã T, tỉnh Lâm
Đồng. Vắng mặt.
Bà Cáp Thị Mỹ H, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu dân cư S, Thôn G, xã M,
tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Ông Lê Văn M1, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn M1: Bà Lê Thị Hồng N1,
sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai (theo giấy uỷ quyền ngày
22/5/2025). Có mặt.
Bà Lê Thị H1, sinh năm 1963, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Bà Lê Thị T2, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Ông Lê Văn H2, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Vắng mặt.
Bà Đặng Thị L, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai. Có
mặt.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai, địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh
Gia Lai. Có mặt.
Người kháng cáo: bị đơn ông Lê Thành T1 và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Lê Văn M1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn ông Cáp Duy T trình bày
Hộ gia đình ông Cáp Duy T được Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) huyện
P cân đối giao quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 06 thửa
đất, với tổng diện tích 5.777m
2
, tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày
06/10/1997; trong đó, có thửa đất số 166 (cũ 485), tờ bản đồ 17 (cũ 13).
Tại thời điểm UBND huyện P cân đối giao quyền sử dụng đất và cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 thì hộ gia đình ông Cáp Duy T có 04
thành viên sử dụng đất, gồm: Ông Cáp Duy T, bà Nguyễn Thị M, anh Cáp Duy D
và chị Cáp Thị Mỹ H.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 thì hộ gia
đình ông Cáp Duy T thiếu sự kiểm tra đối với các thửa đất nên không biết được
thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 được UBND huyện P cấp quyền sử dụng, nên hộ
gia đình ông Cáp Duy T không thực hiện việc canh tác, sử dụng. Nguyên nhân
việc này là do cấp có thẩm quyền không giao đất theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất trên thực địa.
Thực hiện chương trình cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự
án VLap thì hộ gia đình ông Cáp Duy T tiến hành kê khai mới phát hiện thửa đất
3
số 485, tờ bản đồ số 13 đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào năm 1997, mẹ con bà N, ông T1 đang canh tác, sử dụng.
Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đổi theo
dự án VLap thì gia đình ông Cáp Duy T yêu cầu mẹ con bà N, ông T1 trả lại thửa
đất số 166 (cũ 485), tờ bản đồ 17 (cũ 13), nhưng mẹ con bà Võ Thị N, anh Lê
Thành T1 không đồng ý trả lại thửa đất. Gia đình ông Cáp Duy T nhiều lần gửi
đơn khiếu nại đến UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định để được giải quyết nhưng
đến năm 2023 thì UBND xã M tổ chức hoà giải nhưng không thành.
Ông Cáp Duy T thống nhất với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập
ngày 22/4/2025, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh
Bình Định (Nay là xã P, tỉnh Gia Lai) và Biên bản định tài sản lập ngày 22/4/2026,
không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Do đó, ông Cáp Duy T yêu cầu bà Võ Thị N và anh Lê Thành T1 thu dọn
toàn bộ tài sản trên thửa đất để trả lại quyền sử dụng thửa đất số 166, tờ bản đồ số
17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định để cho gia đình ông Cáp Duy T canh tác, sử
dụng; đồng thời chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng thửa đất
số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là thôn B, xã P,
tỉnh Gia Lai)
Ông Cáp Duy T không đồng ý yêu cầu của anh Lê Thành T1, ông Lê Văn
M1 về việc: Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của
Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày
06/10/1997, đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M huyện P, tỉnh Bình
Định và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân
dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào
ngày 28/6/2011, vì thửa đất này đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cân
đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64-CP, ngày 27 tháng 9 năm 1993 của
Chính phủ.
1.2. Bị đơn ông Lê Thành T1 trình bày
Ông Lê Thành T1 là con ruột của bà Võ Thị N. Thửa đất số 166 (cũ 485),
tờ bản đồ 17 (cũ 13) tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định có nguồn gốc trước đây là
của bà nội là Lê Thị T3 giao cho gia đình ông T1 canh tác, sử dụng từ năm 1995.
Sau khi được bà Lê Thị T3 giao cho đất thì gia đình ông T1 canh tác sử
dụng ổn định từ năm 1995 đến năm 2011 thì gia đình ông Cáp Duy T có đến yêu
cầu gia đình ông T1 trả lại thửa đất, vì ông Cáp Duy T cho rằng thửa đất đã được
UBND huyện P (cũ) cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Cáp Duy T.
Hiện tại, ông T1 không có giấy tờ gì để chứng minh thửa đất nêu trên là của
bà Lê Thị T3 giao cho gia đình ông T1 và cũng không có giấy tờ gì chứng minh
thửa đất đang tranh chấp với gia đình ông Cáp Duy T là của bà Lê Thị T3 (trừ
giấy xác nhận của một số người dân). Năm 2017, ông T1 biết được thửa đất nêu
trên đã được UBND huyện P cấp quyền sử dụng cho gia đình ông Cáp Duy T
nhưng không có đơn khiếu nại gửi đến cơ quan có thẩm quyền. Năm 2023 (sau
4
khi UBND xã M tổ chức hoà giải), ông T1 có đơn gửi đến UBND huyện P, nhưng
UBND huyện P chuyển đơn đến UBND xã M, huyện P giải quyết, nhưng UBND
xã M không giải quyết, vì họ cho rằng tranh chấp đất đã được hoà giải và vụ kiện
đang được Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (cũ) thụ lý, giải quyết.
Anh Lê Thành T1 xác định từ trước đến nay ông T1 không có khiếu nại gì đến
việc UBND các cấp lấy đất gia đình ông T1 cấp cho người khác.
Ông T1 xác định các tài sản trên thửa đất đang tranh chấp với gia đình ông
Cáp Duy T hiện tại, gồm có: Cỏ voi trồng để chăn nuôi bò, hệ thống ống nước
tưới tiêu là của ông T1 cùng mẹ là bà Võ Thị N; giếng khoan là tài sản của vợ
chồng ông Lê Văn M1, bà Đặng Thị L.
Ông T1 thống nhất đối với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày
22/4/2025, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình
Định (Nay là xã P, tỉnh Gia Lai) và Biên bản định tài sản lập ngày 22/4/2026,
không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Ông T1 không ý trả lại thửa đất số 166, tờ bản đồ 17 nêu trên cho gia đình
ông Cáp Duy T, vì: Thửa đất có nguồn gốc từ ông bà nội cho lại cha mẹ ông T1
canh tác, sử dụng từ năm 1995 (trước thời điểm hộ gia đình ông Cáp Duy T được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997) đến khi xảy ra tranh chấp.
Nếu Toà án đồng ý yêu cầu khởi kiện của gia đình ông Cáp Duy T thì ông
T1 đồng ý tự nguyện thu hoạch cỏ voi, tháo dỡ hệ thống ống nước tưới tiêu trả lại
đất cho gia đình ông Cáp Duy T, nên không có yêu cầu Toà án tiến hành định giá.
Ông T1 yêu cầu huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L
775848 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy
T, vào ngày 06/10/1997, đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện
P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy
ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị
M vào ngày 28/6/2011.
1.3. Bị đơn bà Võ Thị N trình bày
Thửa đất số 166, tờ bản đồ 17 tại xã M, huyện P (N là xã P, tỉnh Gia Lai)
có nguồn gốc trước đây là của cha mẹ chồng là ông Lê Đ (chết năm 1969) và bà
Lê Thị T3 (chết năm 2016) canh tác, sử dụng từ năm 1969. Đến năm 1995 bà Lê
Thị T3 giao lại cho vợ chồng bà N canh tác, sử dụng. Việc bà T3 giao lại cho gia
đình bà N canh tác chỉ bằng miệng, không có giấy tờ gì để cung cấp cho Toà án.
Hiện nay, bà N cũng không có giấy tờ gì liên quan đến thửa đất nêu trên. Năm
2005, chồng bà N là ông Lê Cửu Đinh C và bà N vẫn canh tác thường xuyên, ổn
định trên thửa đất này cho đến nay. Năm 2011, vợ chồng ông T, bà M có sang nhà
nói với bà N thửa đất mà bà Lê Thị T3 giao cho bà N canh tác, sử dụng (thửa đất
đang tranh chấp với vợ chồng ông Cáp Duy T) đã được UBND huyện P cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Cáp Duy T chứ bà N không biết
chính xác việc UBND huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông T hay chưa. Năm 2023, UBND xã M tổ chức hoà giải thì bà N mới biết UBND
5
huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cáp Duy T và bà
Nguyễn Thị M. Quá trình hoà giải tại Ủy ban nhân dân xã H3 bên không thỏa
thuận được việc giải quyết.
Bà N xác định hộ gia đình bà Lê Thị T3 là hộ cá thể nhưng được cơ quan
có thẩm quyền cân đối chốt phương án hộ sử dụng đất và được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997 theo Nghị định 64-CP, ngày 27 tháng 9
năm 1993 của Chính phủ, nhưng thửa đất đang tranh chấp với gia đình ông Cáp
Duy T thì không được cấp quyền sử dụng trong hộ bà Lê Thị T3.
Bà N là xã viên của Hợp tác xã Nông nghiệp và được cân đối giao quyền
sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997,
nhưng không có thửa đất đang tranh chấp với gia đình ông Cáp Duy T.
Hiện tại, bà N không có giấy tờ gì để chứng minh thửa đất nêu trên là của
bà Lê Thị T3 giao lại cho bà N sử dụng và cũng không có giấy tờ gì để chứng
minh thửa đất đang tranh chấp với gia đình ông Cáp Duy T là của vợ chồng bà Lê
Thị T3.
Bà Võ Thị N xác định các tài sản trên thửa đất đang tranh chấp với gia đình
ông Cáp Duy T hiện tại, gồm có: Cỏ voi trồng để chăn nuôi bò, hệ thống ống nước
(ống nhựa) tưới tiêu là của bà N và con trai là Lê Thành T1; giếng khoan là tài
sản của vợ chồng ông Lê Văn M1, bà Đặng Thị L. Nếu Toà án đồng ý yêu cầu
khởi kiện của gia đình ông Cáp Duy T thì bà N đồng ý tự nguyện thu hoạch cỏ
voi, tháo dỡ hệ thống ống nước tưới tiêu trả lại đất cho gia đình ông Cáp Duy T,
nên không có yêu cầu Toà án tiến hành định giá.
Bà Võ Thị N thống nhất với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày
22/4/2025, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình
Định (Nay là xã P, tỉnh Gia Lai) và Biên bản định tài sản lập ngày 22/4/2026,
không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Bà Võ Thị N không ý trả lại thửa đất số 166, tờ bản đồ 17 nêu trên cho gia
đình ông Cáp Duy T, vì: Thửa đất có nguồn gốc từ cha mẹ chồng là ông Lê Đ và
bà Lê Thị T3 cho vợ chồng bà N canh tác, sử dụng từ năm 1995 (trước thời điểm
hộ gia đình ông Cáp Duy T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
1997) đến khi xảy ra tranh chấp.
Bà Võ Thị N thống nhất đối với yêu cầu của ông M1 và của ông T1 về việc:
Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân
dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997,
đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P,
tỉnh Bình Định (cũ) cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày
28/6/2011.
1.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày
6
Bà Nguyễn Thị M là vợ của ông Cáp Duy T. Bà M thống nhất ý kiến trình
bày và yêu cầu của ông Cáp Duy T, không có ý kiến hay yêu cầu bổ sung.
Bà Nguyễn Thị M thống nhất: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày
22/4/2025, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình
Định (Nay là xã P, tỉnh Gia Lai) và Biên bản định tài sản lập ngày 22/4/2026,
không có ý kiến hay khiếu nại gì.
1.5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M2 trình
bày
Về nguồn gốc thửa đất ông M2 và người đại diện hợp pháp của ông M2
thống nhất với ý kiến trình bày của bà Võ Thị N và anh Lê Thành T1. Đối với tài
sản trên thửa đất là 01 (Một) cái giếng khoan sâu 80m là tài sản của ông M2 và
vợ là bà Đặng Thị L đã xây dựng được lâu năm để phục vụ tưới tiêu hoa màu ở
thửa đất đang tranh chấp và các thửa đất khác của gia đình ở xung quanh.
Nay vợ chồng ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M yêu cầu trả lại thửa đất
thì ông M2 và người đại diện hợp pháp của ông M2 không đồng ý, vì đây là đất
của ông, bà sử dụng, canh tác ổn định từ những năm 1969 để lại.
Đồng thời, ông M2 và người đại diện hợp pháp của ông M2 yêu cầu Toà án
xem xét huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của
UBND huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997,
đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của UBND huyện P, tỉnh Bình
Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
1.6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 trình bày
Bà Lê Thị H1 là con ruột của ông Lê Đ và bà Lê Thị T3; là em chồng của
bà Võ Thị N.
Bà H1 xác định gia đình bà Lê Thị T3 là gia đình thuộc diện hộ cá thể tại
địa phương. Tuy nhiên, gia đình bà Lê Thị T3, được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền chốt phương án hộ sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào năm 1997 theo Nghị định 64-CP, ngày 27 tháng 9 năm 1993 của
Chính phủ.
Bà H1 thống nhất ý kiến trình bày về nguồn gốc thửa đất, quá trình sử dụng
thửa đất nêu trên như lời trình bày của bà Võ Thị N, anh Lê Thành T1.
Bà H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của gia đình ông Cáp Duy T, vì đây
là đất của ông, bà sử dụng, canh tác ổn định từ những năm 1969 đến năm 1995 thì
bà T3 giao lại cho bà N, anh T1 tiếp tục canh tác, sử dụng.
Đồng thời, bà H1 thống nhất yêu cầu của ông Lê Văn M1, anh Lê Thành
T1 về việc huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của
UBND huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997,
đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
7
đất số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của UBND huyện P, tỉnh Bình
Định (cũ) cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
1.7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T2 trình bày
Bà Lê Thị T2 là con ruột của ông Lê Đ và bà Lê Thị T3; là em chồng của
bà Võ Thị N.
Bà T2 xác định gia đình bà Lê Thị T3 là gia đình thuộc diện hộ cá thể tại
địa phương. Tuy nhiên, gia đình bà Lê Thị T3, được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền chốt phương án hộ sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào năm 1997 theo Nghị định 64-CP, ngày 27 tháng 9 năm 1993 của
Chính phủ.
Bà T2 thống nhất ý kiến trình bày về nguồn gốc thửa đất, quá trình sử dụng
thửa đất nêu trên như lời trình bày của bà Võ Thị N, anh Lê Thành T1.
Bà T2 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của gia đình ông Cáp Duy T, vì đây
là đất của ông, bà sử dụng, canh tác ổn định từ những năm 1969 đến năm 1995 thì
bà T3 giao lại cho bà N, anh T1 tiếp tục canh tác, sử dụng.
Đồng thời, bà T2 thống nhất yêu cầu của ông Lê Văn M1, anh Lê Thành T1
về việc huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của UBND
huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với
thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số
BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của UBND huyện P, tỉnh Bình Định
cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
Bà Lê Thị T2 thống nhất: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày
22/4/2025, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình
Định (Nay là xã P, tỉnh Gia Lai) và Biên bản định tài sản lập ngày 22/4/2026,
không có ý kiến hay khiếu nại gì.
1.8. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H2 trình bày
Ông Lê Văn H2 là con ruột của ông Lê Đ và bà Lê Thị T3. Ông H2 thống
nhất ý kiến trình bày, yêu cầu của anh Lê Thành T1 và chị Lê Thị Hồng N1, không
có ý kiến hay yêu cầu bổ sung.
1.9. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị L trình bày
Bà Đặng Thị L là vợ của ông Lê Văn M1. Về nguồn gốc thửa đất đang tranh
chấp giữa gia đình ông Cáp Duy T với bà Võ Thị N thì bà L thống nhất với ý kiến
trình bày của bà Võ Thị N và anh Lê Thành T1.
Đối với tài sản trên thửa đất là 01 (Một) cái giếng khoan sâu khoảng 80m là
tài sản của vợ chồng ông M1, bà L đã xây dựng từ năm 2015 để phục vụ tưới tiêu
hoa màu ở thửa đất đang tranh chấp và các thửa đất khác của gia đình ở xung
quanh.
Nay vợ chồng ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M yêu cầu trả lại thửa đất
thì bà L không đồng ý vì đây là đất của ông, bà sử dụng, canh tác ổn định từ những
8
năm 1969 và năm 1995 thì lại cho bà N, anh T1 tiếp tục canh tác, sử dụng.
Đồng thời, bà L thống nhất yêu cầu của ông Lê Văn M1, anh Lê Thành T1
huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của UBND huyện
P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với thửa
đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BD
413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của UBND huyện P, tỉnh Bình Định cấp
cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
Trường hợp Toà án thống nhất yêu cầu khởi kiện của gia đình ông Cáp Duy
T thì bà L đề nghị xem xét, giải quyết cho gia đình bà L được tiếp tục sử dụng cái
giếng khoan để tưới tiêu hoa màu các thửa đất khác của gia đình bên cạnh.
Bà Đặng Thị L thống nhất với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày
22/4/2025, đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình
Định (Nay là xã P, tỉnh Gia Lai) và Biên bản định tài sản lập ngày 22/4/2026,
không có ý kiến hay khiếu nại gì.
1.10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch UBND xã P, tỉnh
Gia Lai trình bày
Về hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất số 485, tờ bản
đồ số 12, diện tích 1.248m
2
, mục đích sử dụng là đất trồng màu (theo bản đồ giải
thửa 299), địa chỉ thửa đất tại thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai, thửa đất này được Nhà
nước cân đối giao quyền cho ông Cáp Duy T theo Nghị Định 64/CP (sổ địa chính
tại quyển số 04, trang số 46), số Giấy chứng nhận L775848, cấp ngày 06/10/1997
và cấp đổi theo dự án VLap là thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.210m
2
,
mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác, số giấy chứng nhận BD 413744,
cấp ngày 28/6/2011. Như vậy, về thủ tục, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Cáp Duy T là đúng diện tích cân đối giao quyền sử dụng đất
theo Nghị định 64/CP;
Về thực tế sử dụng đất: Sau khi cân đối giao quyền sử dụng đất cho hộ ông
Cáp Duy T, việc Ủy ban nhân dân xã M, huyện P (cũ) có trực tiếp giao thửa đất
số 166, tờ bản đồ số 17 ngoài thực địa cho hộ ông Cáp Duy T sử dụng không thì
Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai không xác định được. Tuy nhiên, hộ ông Lê
Văn M1 và ông Lê Thành T1 đã sử dụng thửa đất nêu trên từ khi cân đối giao
quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP và cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Cáp
Duy T. Như vậy, hộ ông Cáp Duy T có cho hộ ông Lê Văn M1 và ông Lê Thành
T1 sử dụng thửa đất này hay không, cũng chưa có căn cứ gì để làm rõ.
Việc ông Lê Văn M1 và ông Nguyễn Thành T4 yêu cầu huỷ một phần Giấy
chứng nhận số L 775848, cấp ngày 06/10/1997 tại thửa đất số 485, tờ bản đồ số
13 (cấp theo NĐ 64/CP) và huỷ giấy chứng nhận số BD 413744, cấp ngày
28/6/2011 tại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 (cấp theo dự án VLap) đã cấp cho
ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy
định của pháp luật.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
9
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
các Điều 147, 157, 158, 165, 166 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 1, Điều 2, Điều 13, Điều 24, Điều 34, Điều 36 và Điều 73 Luật
Đất đai năm 1993 và các Điều 1, 2, 3 ban hành kèm theo Nghị định 64-CP ngày
27/9/1993 của Chính phủ quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình,
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
Căn cứ Điều 144 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ và Điều 52 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Điều 38, Điều 50; Điều 105; Điều 107 Luật Đất đai năm 2003;
khoản 1, 7 Điều 166; Điều 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 2 Điều 17 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cáp Duy T.
Buộc bà Võ Thị N, anh Lê Thành T1 thu hoạch toàn bộ cỏ voi; thu dọn toàn
bộ hệ thống ống nước tưới tiêu trên đất trả lại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17,
diện tích 1.210m
2
(đo đạc thực tế 1.226,9m
2
) tại thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai cho gia
đình ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BD 413744, số vào sổ
cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông
Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011 (có Trích đo địa chính khu
đất thuộc thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình
Định do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 22/4/2025 kèm theo).
Buộc bà Võ Thị N, anh Lê Thành T1 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
quyền sử dụng đất của gia đình ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M đối với thửa
đất số 166, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.210m
2
(đo đạc thực tế 1.226,9m
2
) tại thôn
B, xã P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659
của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà
Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011 (có Trích đo địa chính khu đất thuộc thửa đất
số 166, tờ bản đồ số 17 tại thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định do Công ty Cổ
phần T5 lập ngày 22/4/2025 kèm theo).
- Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng ông Cáp Duy T, Nguyễn Thị M với
bà Đặng Thị L, ông Lê Văn M1 để cho 01 cái giếng nước khoan sâu 80m của vợ
10
chồng ông Lê Văn M1 và Đặng Thị L tồn tại trên thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17
tại thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai của ông Cáp Duy T và Nguyễn Thị M theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất, số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P,
tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
(Tài sản là cái giếng khoan được thể hiện trên Trích đo địa chính khu đất thuộc
thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định do
Công ty Cổ phần T5 lập ngày 22/4/2025)
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Lê Thành T1 về việc: Huỷ một
phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân dân huyện
P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với thửa
đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh
Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Văn M1 về việc: Huỷ một
phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân dân huyện
P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với thửa
đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh
Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
- Không chấp nhận ý kiến của bà Võ Thị N, bà Lê Thị H1, bà Lê Thị T2,
ông Lê Văn H2 và bà Đặng Thị L về việc Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho
hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13
tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 413744, số vào sổ cấp
GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp
Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạt, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản tranh chấp là 8.500.000 (Tám triệu năm trăm nghìn) đồng, ông Cáp Duy T
đã tạm ứng trước số tiền 8.500.000 đồng.
Buộc bà Võ Thị N phải hoàn trả cho ông Cáp Duy T số tiền 2.125.000 (Hai
triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng;
Buộc anh Lê Thành T1 phải hoàn trả cho ông Cáp Duy T số tiền 2.125.000
(Hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng;
Buộc vợ chồng ông Lê Văn M1 và bà Đặng Thị L phải hoàn trả cho ông
Cáp Duy T số tiền 4.250.000 (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
11
Ông Cáp Duy T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 300.000
(Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí cho ông Cáp Duy T đã nộp theo Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0004003 ngày 09 tháng 01 năm 2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay là Thi hành
án dân sự tỉnh Gia Lai).
Bà Võ Thị N là người già, nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Lê Thành T1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân
sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm anh T1 đã nộp
300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004547 ngày
23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay
là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Anh Lê Thành T1 đã nộp xong;
Buộc ông Lê Văn M1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân
sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm ông M1 đã nộp
300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004513 ngày
30/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay
là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Ông Lê Văn M1 đã nộp xong.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo
Ngày 10/7/2026, bị đơn ông Lê Thành T1 kháng cáo bản án 14/2026/DS-
ST ngày 02 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai, yêu cầu
sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Ngày 07/7/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M1
kháng cáo bản án 14/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 3 – Gia Lai, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn, bị đơn bà Võ Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan khác không kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa
- Bị đơn ông Lê Thành T1 trình bày, nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp
do ông bà khai hoang từ trước năm 1975, sau đó để lại cho cha mẹ ông sử dụng,
hiện nay ông và mẹ ông đang trực tiếp quản lý sử dụng, việc sử dụng là ổn định
và có sự xác nhận cuả các chủ sử dụng đất liền kề, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn M1 bà Lê Thị Hồng N1
trình bày về nguồn gốc thửa đất và quá trình sử dụng đất như ý kiến trình bày của
ông Lê Thành T1; việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Cáp Duy T có nhiều sai sót, không có việc bàn giao
12
thửa đát trên thực tế, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Nguyên đơn ông Cáp Duy T trình bày không có việc sau khi cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có quan có thẩm quyền bàn giao thửa đất cho ông
trên thực địa, tuy nhiên thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho hộ của ông đảm bảo theo quy định của pháp luật.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Đảm bảo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy
định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội
đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án
thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê
Thành T1 và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M1, giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm.
Về án phí: Bị đơn ông Lê Thành T1 và gười có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Văn M1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành T1 và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Lê Văn M1 đảm bảo thời hạn kháng cáo, đã nộp tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm theo quy định tại các điều 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành T1 và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Lê Văn M1, thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất số 485, thuộc tờ bản đồ số 13 (nay là thửa đất
số 166, thuộc tờ bản đồ số 17), tại thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là
thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai), thấy:
Nguyên đơn ông Cáp Duy T cho rằng nguồn gốc thửa đất số 166, thuộc tờ
bản đồ số 17 do hộ được Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định
số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
13
Bị đơn ông Lê Thành T1 và bà Võ Thị N cho rằng nguồn gốc thửa đất thửa
đất số 166, thuộc tờ bản đồ số 17 do bà Lê Thị T3 khai hoang, đến năm 1995 bà
T3 giao lại thửa đất bằng lời nói cho bà N và ông T1.
Tại văn bản số 787/UBND-KT ngày 25/12/2025 của UBND xã P (bút lục
số 108) cung cấp: “Về hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.248 m², mục đích sử dụng là đất
trồng màu (theo BĐ 299), địa chỉ thửa đất tại thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai, thửa đất
này được Nhà nước cân đối giao quyền cho ông Cáp Duy T theo Nghị Định 64/CP
(Sổ địa chính tại quyến số 04, trang số 46), số giấy chứng nhận L775848, cấp
ngày 06/10/1997 và cấp đổi theo dự án VLap là thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17,
diện tích 1.210 m², mục đích sử dụng đất là đất trồng cây hằng năm khác, số giấy
chứng nhận số BD 413744, cấp ngày 28/6/2011. Như vậy, về thủ tục, hồ sơ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Cáp Duy T đúng diện tích cân đối
giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP.”.
Tại Biên bản xác minh ngày 08/01/2025 (bút lục số 67 – 68), ông Nguyễn
Thanh D1 (chức vụ: Công chức địa chính xã M) cung cấp:
“Thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 theo bản đồ giải thửa 299 là thửa đất số
485, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.248m
2
, loại đất: Đất màu.
Thửa đất nêu trên có nguồn gốc do ông Lệ Cửu Đ1 (chồng là Võ Thị N)
khai hoang. Hộ gia đình bà Võ Thị N là hộ gia đình không vào hợp tác xã.
Tại thời điểm thực hiện phương án giao quyền sử dụng đất theo Nghị định
64 của Chính phủ thì thửa đất 166 tờ bản đồ 17 (bản đồ Vlap) canh tác không
hiệu quả nên ông Đ1, bà N giao trả lại cho địa phương, nên địa phương cân đối
giao quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho hộ ông Cáp Duy T…”.
Ông T1 và bà N cho rằng nguồn gốc thửa đất do bà T3 khai hoang sau đó
giao lại cho ông T1, bà N nhưng ông bà không có tài liệu, chứng cứ để chứng
minh.
Mặt khác, tại Điều 2 Nghị định số 64-CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của
Chính phủ về việc ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, quy
định như sau:
“Điều 2. Đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp bao gồm đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất
nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, các loại đất
này gồm cả đất làm kinh tế gia đình trước đây hợp tác xã giao, đất vườn, đất xâm
canh, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá được xác định để sản xuất nông
nghiệp.
Đối với những loại đất nông nghiệp không thể giao cho từng hộ gia đình
và cá nhân thì cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê để sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp.”.
14
Như vậy, theo chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, thì kể cả phần đất hoang
hóa cũng thuộc đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp, đồng thời có căn cứ xác định ông Đ1, bà N sau khi sử
dụng đất không hiệu quả đã giao trả lại cho địa phương, nên địa phương mới cân
đối giao quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho hộ ông Cáp Duy T. Như vậy, lời
trình bày của ông T về nguồn gốc thửa đất số 166, thuộc tờ bản đồ số 17 là phù
hợp.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất, thấy:
Ông T cho rằng sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chính
quyền địa phương không tiến hành giao đất trên thực địa, gia đình ông không biết
nên không sử dụng thửa đất này, đến khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì mới biết bà N, ông T1 đang trực tiếp sử dụng thửa đất.
Ông T1, bà N đều cho rằng sau khi được bà T3 giao lại đất vào năm 1995,
ông T1, bà N sử dụng cho đến nay.
Tại văn bản số 787/UBND-KT ngày 25/12/2025 của UBND xã P (bút lục
số 108) cung cấp: “Về thực tế sử dụng đất: Sau khi cân đối giao quyền sử dụng
đất cho ông Cáp Duy T, việc UBND xã M có trực tiếp giao thửa đất số 166, tờ
bản đồ số 17 ngoài thực địa cho ông Cáp Duy T sử dụng không thì UBND xã P
không xác định được. Tuy nhiên, hộ ông Lê Văn M1 và ông Nguyễn Thành T4 đã
sử dụng thửa đất trên từ khi cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP
và cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Cáp Duy T. Như vậy, việc hộ ông Cáp Duy T
có cho hộ ông Lê Văn M1 và ông Nguyễn Thành T4 sử dụng thửa đất hay không,
cũng chưa có căn cứ gì để làm rõ.”.
Tại Biên bản xác minh ngày 08/01/2025 (bút lục số 67 – 68), ông Nguyễn
Thanh D1 (chức vụ: Công chức địa chính xã M) cung cấp: “…Tại thời điểm công
nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Cáp Duy T thì địa phương không giao đất
trên thực địa nên hộ ông T không biết thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 (nay là
thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17) để canh tác sản xuất.”.
Như vậy, không có căn cứ xác định chính quyền địa phương đã thực hiện
việc bàn giao là thửa đất số 166, thuộc tờ bản đồ số 17 cho hộ ông T sau khi được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc ông T4, bà N vẫn tiếp tục sử dụng
thửa đất cho đến nay có một phần lỗi do thiếu trách nhiệm trong công tác bàn giao
đất của chính quyền địa phương sở tại.
[2.3] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thấy:
Tại Sổ Mục kê đất xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (bút lục số 65 – 66), thửa
đất số 485, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.248m
2
thể hiện tên chủ sử dụng đất là “Cáp
Duy T”, tại Sổ Địa chính xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (bút lục số 63 – 64) thể
hiện hộ ông T đăng ký sử dụng các thửa đất trong đó có thửa đất số 485, tờ bản
đồ số 13 (nay là thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17) nên việc Ủy ban nhân dân huyện
P, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đảm bảo theo quy
định tại Điều 3 Nghị định số 64-CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ về
15
việc ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Việc Ủy ban nhân dân huyện P thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BD 413744,
số vào sổ cấp GCN: CH07659 cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày
28/6/2011 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 144 Nghị
định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 và Điều 52 Luật Đất đai năm 2003.
Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 485, tờ bản
đồ số 13 (nay là thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17) cho hộ ông Cáp Duy T và bà
Nguyễn Thị M là đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông T4,
bà N trả lại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 và không chấp nhận đối với yêu cầu
của ông T4, ông M1 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[2.4] Đối với tài sản gắn liền với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17, thấy:
Đối với tài sản là cây cỏ voi và hệ thống tưới, tại phiên tòa sơ thẩm ông T4
và bà N đều có ý kiến đồng ý sẽ tự thu hoạch toàn bộ cỏ voi trồng trên đất, thu
dọn toàn bộ hệ thống ống nước tưới tiêu trả lại đất cho gia đình ông Cáp Duy T
trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T nên Tòa án cấp
sơ thẩm buộc T4 và bà N thu hoạch toàn bộ cỏ voi và thu dọn toàn bộ hệ thống
ống nước tưới tiêu trên đất là phù hợp.
Đối với tài sản là cái giếng khoan sâu 80m là tài sản của ông M1 và bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các thống nhất tiếp tục để cái giếng nước tồn tại trên
thửa đất của ông T, bà M và không có ý kiến gì về việc thanh toán trị giá giếng
nước nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn
ông Lê Thành T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M1, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành T1 và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn M1 không được chấp nhận nên ông T1 và ông M1
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
các Điều 147, 157, 158, 165, 166 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015;
16
Căn cứ Điều 1, Điều 2, Điều 13, Điều 24, Điều 34, Điều 36 và Điều 73
Luật Đất đai năm 1993 và các Điều 1, 2, 3 ban hành kèm theo Nghị định 64-CP
ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
Căn cứ Điều 144 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ và Điều 52 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Điều 38, Điều 50; Điều 105; Điều 107 Luật Đất đai năm 2003;
khoản 1, 7 Điều 166; Điều 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 2 Điều 17 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành T1.
2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Lê Văn M1.
3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 02 tháng 7
năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai, giữa nguyên đơn ông Cáp
Duy T và bị đơn bà Võ Thị N, ông Lê Thành T1 về việc “Tranh chấp đòi lại tài
sản là quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
trái pháp luật và hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức”.
Tuyên xử:
4. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cáp Duy T.
Buộc bà Võ Thị N, anh Lê Thành T1 thu hoạch toàn bộ cỏ voi; thu dọn toàn
bộ hệ thống ống nước tưới tiêu trên đất trả lại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17,
diện tích 1.210m2 (đo đạc thực tế 1.226,9m
2
) tại thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai cho
gia đình ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BD 413744, số
vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp
cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011 (có Trích đo địa
chính khu đất thuộc thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại thôn B, xã M, huyện P,
tỉnh Bình Định do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 22/4/2025 kèm theo).
Buộc bà Võ Thị N, anh Lê Thành T1 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật quyền sử dụng đất của gia đình ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M đối với
thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.210m
2
(đo đạc thực tế 1.226,9m2) tại
thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BD 413744, số vào sổ cấp GCN:
CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T
và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011 (có Trích đo địa chính khu đất thuộc
thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định do
Công ty Cổ phần T5 lập ngày 22/4/2025 kèm theo).
17
5. Ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng ông Cáp Duy T, Nguyễn Thị M với
bà Đặng Thị L, ông Lê Văn M1 để cho 01 cái giếng nước khoan sâu 80m của vợ
chồng ông Lê Văn M1 và Đặng Thị L tồn tại trên thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17
tại thôn B, xã P, tỉnh Gia Lai của ông Cáp Duy T và Nguyễn Thị M theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất, số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P,
tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
(Tài sản là cái giếng khoan được thể hiện trên Trích đo địa chính khu đất thuộc
thửa đất số 166, tờ bản đồ số 17 tại thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định do
Công ty Cổ phần T5 lập ngày 22/4/2025)
6. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Lê Thành T1 về việc: Huỷ
một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân dân
huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với
thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P,
tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
7. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Văn M1 về việc: Huỷ một
phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân dân huyện
P, tỉnh Bình Định cấp cho hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với thửa
đất số 485, tờ bản đồ số 13 tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
BD 413744, số vào sổ cấp GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh
Bình Định cấp cho ông Cáp Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
8. Không chấp nhận ý kiến của bà Võ Thị N, bà Lê Thị H1, bà Lê Thị T2,
ông Lê Văn H2 và bà Đặng Thị L về việc Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số L 775848 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho
hộ ông Cáp Duy T vào ngày 06/10/1997, đối với thửa đất số 485, tờ bản đồ số 13
tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 413744, số vào sổ cấp
GCN: CH07659 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho ông Cáp
Duy T và bà Nguyễn Thị M vào ngày 28/6/2011.
9. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạt, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản tranh chấp là 8.500.000 (Tám triệu năm trăm nghìn) đồng, ông Cáp Duy T
đã tạm ứng trước số tiền 8.500.000 (Tám triệu năm trăm nghìn) đồng.
Buộc bà Võ Thị N phải hoàn trả cho ông Cáp Duy T số tiền 2.125.000 (Hai
triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng;
Buộc anh Lê Thành T1 phải hoàn trả cho ông Cáp Duy T số tiền 2.125.000
(Hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng;
Buộc vợ chồng ông Lê Văn M1 và bà Đặng Thị L phải hoàn trả cho ông
Cáp Duy T số tiền 4.250.000 (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
18
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
10. Về án phí:
10.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Cáp Duy T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 300.000
(Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí cho ông Cáp Duy T đã nộp theo Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0004003 ngày 09 tháng 01 năm
2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay là Thi
hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
Bà Võ Thị N là người già, nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Lê Thành T1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân
sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm anh T1 đã nộp
300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004547 ngày
23/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay
là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Anh Lê Thành T1 đã nộp xong;
Buộc ông Lê Văn M1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân
sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm ông M1 đã nộp
300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004513 ngày
30/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay
là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Ông Lê Văn M1 đã nộp xong.
10.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Thành T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) án phí dân sự phúc
thẩm, được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000371
ngày 10/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Ông T1 đã nộp đủ.
Ông Lê Văn M1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) án phí dân sự phúc
thẩm, được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000280
ngày 07/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Ông M1 đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và
36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 3 – Gia Lai;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
19
- Phòng THADS khu vực 3 – Gia Lai;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Văn Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 285/2026/DS-PT Bản án số 285/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất