Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 16/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty trách nhiệm hữu hạn A - Công ty trách nhiệm hữu hạn X
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2026/KDTM-PT
Ngày 13-8-2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và ông Lưu Hữu Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bé Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Lê Quốc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2026 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang sở 2 (điểm cầu chính) điểm cầu trụ sTòa án nhân dân tỉnh An
Giang trụ sở chính xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án kinh doanh
thương mại thụ số 19/2026/TLPT-KDTM ngày 25 tháng 6 năm 2026 về “Tranh
chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2026/KDTM-ST ngày 20
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 23/2026/QĐ-PT ngày
29 tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 14/2026/QĐ-
PT ngày 28 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn A; địa chỉ trụ sở: Số A P,
phường N, Thành phố Cần T.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Đoàn Tấn Q, chức vụ: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn A, là
người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số I N, phường T, T phồ
Hồ Chí M; người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số
125/2025/GUQ.ADC ngày 30/8/2025) (vắng mặt).
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ trụ sở: Ấp H, xã V, tỉnh
An Giang.
2
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
- Ông Trần Ngọc N, chức vụ: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn X, là
người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Hoàng N1, sinh năm 1980; nơi thường trú: Khóm C,
phường C, tỉnh An Giang; nơi hiện nay: Số G H, khóm Đ, phường L, tỉnh An
Giang; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10/01/2026) (có
mặt).
3. Người kháng cáo: ng ty trách nhiệm hữu hạn X bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn; trình y của bị đơn; các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Ngày 21/11/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn A (gọi tắt ng ty A)
Công ty trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt Công ty X) ký kết Hợp đồng mua bán
hàng hóa số 2506/2024/HĐMBKG-VTNN, nội dung thỏa thuận mua bán các sản
phẩm vật tư nông nghiệp do Công ty A sản xuất, phân phối. Hợp đồng hiệu lực
từ ngày ký đến hết ngày 31/3/2026.
Theo Công ty A, khi có nhu cầu đặt hàng thì Công ty X gọi điện cho Công
ty A để đặt hàng. Khi nhận được đơn hàng thì Công ty A vận chuyển giao tại
trụ sở Công ty X. Sau khi nhận hàng thì bên mua thanh toán bằng hình thức chuyển
khoản hoặc gọi cho nhân viên công ty đến thu tiền. Hàng tháng sẽ nhân viên
bán hàng của công ty gọi điện thoại nhắc nợ hoặc trực tiếp đến nhắc nợ thu
tiền. Thỏa thuận tính lãi chậm thanh toán là 1,2%/tháng.
Do Công ty X không thanh toán nợ đúng hạn nên đã phát sinh nợ quá hạn.
Ngày 01/5/2025, Công ty A Công ty X đối chiếu nợ, theo đó Công ty X xác
nhận số tiền mua hàng hóa còn nợ đến ngày 01/5/2025 là 2.032.718.429 đồng và
nợ tiền lãi chậm trả đến ngày 30/4/2025 43.415.108 đồng. Công ty X cam kết
đến ngày 30/6/2025 sẽ trả hết nợ nhưng đến nay vẫn không thực hiện.
Công ty A yêu cầu Công ty X nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng hóa
còn nợ 2.032.718.429 đồng tiền lãi chậm trả tính đến tháng 4/2025
43.415.108 đồng. Đồng thời, buộc Công ty X tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh
toán xong nợ gốc.
Theo Bản trình bày ý kiến ngày 19/01/2026, ông Trần Ngọc N không thống
nhất số tiền nợ theo yêu cầu khởi kiện của Công ty A. Bởi số hàng hóa theo Hóa
đơn số 00000288 ngày 21 tháng 01 năm 2025, ký hiệu 1C25TAG, thì Công ty A
chưa giao đủ hàng hóa ghi trên Hóa đơn. Hóa đơn ghi 230 thùng Bum650WP
100g-F02BU001-230, giá trị 1.069.499.993 đồng, nhưng mới giao 20 thùng,
còn lại 210 thùng chưa giao. Số hàng hóa chưa giao có giá trị 976.501.000 đồng.
Công ty X yêu cầu trừ lại khoản này chỉ thừa nhận còn nợ Công ty A
3
1.056.217.429 đồng, đồng thời không thống nhất nợ lãi theo yêu cầu của Công ty
A.
Do các đương sự không thống nhất về số tiền nợ, nên Tòa án cho các đương
sự tiến hành đối chất. Tại Biên bản đối chất ngày 10/3/2026, các đương sự thống
nhất nhau về việc Hợp đồng mua bán hàng hóa số 2506/2024/HĐMBKG-
VTNN ngày 21/11/2024 (chỉ hợp đồng khung); thống nhất về việc phải chịu lãi
chậm trả 1,2%/tháng; thống nhất số lượng hàng đặt theo Hóa đơn số 00000288 là
230 thùng thuốc trị bệnh đạo ôn hiệu Bum650WP 100g, nhưng Công ty A chỉ mới
giao 20 thùng, còn 210 thùng chưa giao, giá mỗi thùng 4.428.500 đồng. Giá trị
210 thùng trước thuế là 929.985.000 đồng, sau thuế là 976.484.250 đồng.
Tuy nhiên, các bên không thống nhất khoản tiền phải trừ lại. Công ty A yêu
cầu trừ lại theo giá trị hàng hóa chưa cộng thuế giá trị gia tăng; đồng thời, yêu cầu
Công ty X phải trlại cho Công ty A khoản tiền thuế mà Công ty đã nộp cho Nhà
nước. Công ty X yêu cầu trừ lại theo giá trị ghi trên hóa đơn (giá sau thuế). Ngoài
ra, các bên cũng không thống nhất vthời gian bắt đầu tính lãi, Công ty A yêu cầu
trả lãi chậm trả đến tháng 4/2024 43.415.108 đồng cùng với lãi phát sinh t
tháng 5/2025 đến ngày xét xử; Công ty X chỉ chấp nhận tính lãi chậm trả từ ngày
01/01/2025 trên số nợ gốc còn lại sau khi đã được khấu trừ giá trị số hàng chưa
giao.
Tại phiên tòa thẩm, đại diện Công ty A rút lại một phần yêu cầu khởi
kiện, cụ thể xin rút lại g trị số hàng hóa chưa giao theo giá trước thuế là
930.000.000 đồng. Yêu cầu Công ty X thanh toán phần nợ gốc 1.102.718.429
đồng tiền lãi chậm thanh toán đến ngày xét xử 195.149.214 đồng. Đồng thời,
yêu cầu Công ty X trả lại tiền thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn, tiền thuế
này Công ty A đã nộp cho Nhà nước.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty X Nguyễn Thị Hoàng N1 xác
định: Công ty X chỉ còn nợ Công ty A tiền mua hàng (nợ gốc) 1.056.217.245
đồng, không chấp nhận các yêu cầu khác của Công ty A.
* Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2026/KDTM-ST ngày
20 tháng 4 năm 2026 Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 37/2026/QĐ-
SCBSBA ngày 07 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang
đã quyết định:
Căn cứ các Điều 24, 50, 55, 306 Luật Thương mại; các Điều 351, 357, 468
Bộ luật Dân sự; c Điều 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khon 1
Điu 24, khoản 1, khoản 4 Điều 26 Ngh quyết s 326/2016/NQUBTVQH 14
ngày 30/12/2016 ca y ban Thường v Quc hi.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty A.
- Buộc Công ty X trách nhiệm trả cho Công ty A 1.207.585.814 đồng.
4
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty A (đình chỉ phần rút lại
930.000.000 đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, chi phí tố tụng,
án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án thời hiệu thi hành án của các bên
đương sự.
Ngày 07/5/2026, bị đơn là Công ty X đơn kháng cáo với nội dung: Xem
xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn do bà Nguyễn Thị Hoàng Nguyên đại D theo ủy quyền trình bày:
Công ty X vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, không đồng ý tính lãi đối với với số tiền
vốn nợ 1.056.234.179 đồng từ ngày 30/4/2025 đến ngày xét xử thẩm. Bởi vì,
tại cấp sơ thẩm khi đối chất ngày 10/3/2026, Công ty A không đối chiếu phần lãi
chậm trả. Tuy nhiên, Công ty X thừa nhận theo hợp đồng có thỏa thuận lãi chậm
trả 1,2%/tháng và chưa thanh toán số tiền vốn nợ 1.056.234.179 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết v
án, Thư ký, Hội đồng xét xđã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Những người tham gia tố tụng đã chấp
hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ca bị đơn
Công ty X; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số
02/2026/KDTM-ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15
- An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Công ty X làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nộp
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử
theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bluật Tố tụng dân sự năm
2015.
Nguyên đơn Công ty A do ông Nguyễn Tấn L đại diện theo ủy quyền
đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 22/7/2026, nguyên đơn vẫn giữ
yêu cầu khởi kiện; tại phiên tòa, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty X, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy:
5
Công ty A Công ty X đã giao kết hợp đồng mua bán phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật trên cơ sở tự nguyện, cụ thể ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa
số 2056/2024/HĐMBKG-VTNN ngày 21/11/2024, phù hợp về mặt hình thức theo
Điều 24 Luật Thương mại và nội dung thỏa thuận không trái quy định pháp luật,
đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực và được pháp luật công nhận. Hợp đồng hết
hiệu lực sau ngày 31/3/2026.
Quá trình giải quyết vụ án, Công ty X thừa nhận có ký Biên bản đối chiếu
công nợ ngày 01/5/2025 thể hiện Công ty X còn nợ lại Công ty A số tiền
2.032.718.429 đồng, Thông báo công nợ ngày 05/5/2025 thể hiện tính đến ngày
30/4/2025, Công ty X còn nợ tiền lãi chậm trả 43.415.108 đồng; Công ty A
thừa nhận chưa giao đủ hàng hóa theo hóa đơn số 00000288 ngày 21/01/2025,
hiệu: 1C25TAG (chưa giao 210 thùng thuốc hiệu Bum650WP 100g).
Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty A yêu cầu Công ty X trả tiền mua hàng
còn nợ (nợ gốc) 1.102.718.429 đồng (sau khi trừ số tiền yêu cầu đã rút
930.000.000đ) và tổng tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là
195.149.214 đồng, tổng nợ gốc lãi 1.297.867.643 đồng. Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận thấy: Các đương sự thống nhất số hàng hóa chưa giao là 210
thùng (21.000 gói) thuốc trị bệnh đạo ôn hiệu Bum650WP 100g, giá mỗi gói
44.285 đồng (ghi trên hóa đơn 44.285,71đ). Như vậy, giá trị số thuốc trị bệnh đạo
ôn hiệu Bum650WP 100g chưa giao được tính như sau:
- Giá trước thuế: 21.000 gói x 44.285đ/gói = 929.718.429 đồng.
- Giá sau thuế: (21.000 gói x 44.285đ/gói) + 5% thuế 46.499.250đ =
976.484.250 đồng.
Như vậy, số tiền mua hàng mà Công ty X còn nợ Công ty A: Biên bản đối
chiếu công nợ ngày 01/5/2025 số tiền nợ 2.032.718.429đ – giá trị hàng chưa giao
sau thuế 976.484.250đ = 1.056.234.179 đồng.
Công ty A yêu cầu Công ty X phải trả lại tiền thuế giá trị gia tăng. Căn cứ
Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng: “Thuế giá trị gia tăng thuế tính trên giá tr
tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản suất, lưu thông
đến tiêu dùng”. Đồng thời, phía Công ty A cũng không đưa ra được chứng cứ
chứng minh phía Công ty X lỗi trong việc giao nhận số hàng. Việc hàng hóa
Công ty A chưa giao cho người mua thì không thể buộc phía Công ty X (người
mua) phải trả tiền thuế giá trị gia tăng. Do đó, cấp thẩm không chấp nhận đề
nghị của Công ty A yêu cầu Công ty X hoàn lại tiền thuế giá trị gia tăng trên giá
trị số hàng hóa chưa giao là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật.
Xét vyêu cầu tính tiền lãi chậm thanh toán: Các bên thống nhất mức lãi
suất chậm thanh toán là 1,2%/tháng, các bên chỉ không thống nhất về thời gian
số tiền mua hàng còn nợ để tính tiền lãi.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, theo Thông báo Công nợ ngày
05/5/2025 thì tính đến ngày 30/4/2025, Công ty X còn nợ lại tiền lãi chậm trả
43.415.108 đồng và đã được người đại diện theo pháp luật của Công ty X là ông
6
Trần Ngọc N xác nhận. Nhưng căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày
01/5/2025 thì Công ty X còn nợ 2.032.718.429 đồng. Như vậy, số tiền lãi chậm
trả được ghi trên Thông báo Công nngày 05/5/2025 đã tính cả stiền ghi trên
hóa đơn số 00000288 ngày 21/01/2025 (1.069.499.993 đồng). Tuy nhiên, thực tế
thì Công ty X chỉ mới nhận 20 thùng thuốc hiệu Bum650WP 100g, còn 210 thùng
chưa nhận có giá trị sau thuế là 976.484.250 đồng. Do đó, việc Công ty A tính lãi
chậm trả trên tổng số tiền ghi trên hóa đơn số 00000288 đến ngày 30/4/2025
không phù hợp bất lợi cho Công ty X, nên cần phải được trừ lại. Cụ thể như
sau:
Tính theo ngày xuất hóa đơn ngày 21/01/2025 đến ngày 30/4/2025 (ngày
xác định nợ lãi sau cùng) 03 tháng 09 ngày, số tiền lãi đã tính trên giá trị số
hàng hóa chưa giao cần được trừ lại là: 976.484.250 đồng x 1,2%/tháng x 03 tháng
09 ngày = 38.668.776 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả được chấp nhận là số tiền lãi còn lại sau khi khấu trừ
với tiền lãi được ghi trên Thông báo Công nợ ngày 05/5/2025 (được tính trừ ngày
01/4/2025 đến ngày 30/4/2025): 43.415.108 đồng – 38.668.776 đồng = 4.746.332
đồng.
- Số tiền lãi phát sinh từ ngày 01/5/2025 đến ngày xét xử 14/4/2026 (11
tháng 17 ngày, tính theo Hợp đồng 1 tháng = 30 ngày) trên số tiền còn nợ
1.056.234.179 đồng là 146.605.303 đồng.
Tổng tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử 14/4/2026 là: 151.351.635 đồng
(lãi 4.746.332 đồng + lãi phát sinh từ ngày 01/5/2025 đến ngày xét xử
146.605.303 đồng).
Từ những phân tích trên, Công ty X phải trách nhiệm trả Công ty A số
tiền còn nợ 1.207.585.814 đồng, trong đó số tiền mua hàng (nợ gốc)
1.056.234.179 đồng tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử 14/4/2026
151.351.635 đồng.
Như vậy, xét yêu cầu khởi kiện của Công ty A sau khi rút một phần yêu cầu
đối với số tiền 930.000.000 đồng, u cầu Công ty X trả tổng số tiền
1.297.867.643 đồng, gồm tiền mua hàng còn nợ (nợ gốc) là 1.102.718.429 đồng
và tổng tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 195.149.214 đồng. Như
phân tích trên, xác định Công ty X còn nợ lại Công ty ADC tổng nợ mua hàng và
tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử 14/4/2026 1.207.585.814 đồng. Do đó,
phần yêu cầu của Công ty A không được chấp nhận là 90.281.829 đồng.
Nay công ty X kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để Hội đồng xét
xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty X, giữ nguyên bản án sơ thẩm như
ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên a. Tuy nhiên, cấp thẩm có nhận
định không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty A với số tiền
90.281.829 đồng và buộc Công ty A chịu án pnhưng tại phần quyết định không
nêu là có thiếu sót. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc bổ sung nội
7
dung nêu trên tại phần quyết định không làm thay đổi nội dung nên cần điều chỉnh
cách tuyên, bổ sung phần tuyên về việc không chấp nhận một phần yêu cầu của
Công ty A về số tiền 90.281.829 đồng.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn
Công ty X phải chịu án pkinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s
năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn
X.
2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 02/2026/KDTM-
ST ngày 20 tháng 4 năm 2026 Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số
37/2026/QĐ-SCBSBA ngày 07 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
15 - An Giang (có điều chỉnh cách tuyên bổ sung phần không chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn):
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn
A.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X có trách nhiệm trả cho cho Công ty
trách nhiệm hữu hạn A số tiền 1.207.585.814đ (một tỷ hai trăm lbảy triệu năm
trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm mười bốn đồng).
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, Công ty trách nhiệm hữu hạn A có đơn
yêu cầu thi hành án Công ty trách nhiệm hữu hạn X không thi hành đầy đủ
khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm
thanh toán.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm
hữu hạn A về việc buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X trách nhiệm trả cho
Công ty trách nhiệm hữu hạn A số tiền 90.281.829đ (chín mươi triệu hai trăm tám
mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi chín đồng).
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn A
(đình chỉ phần rút lại 930.000.000 đồng).
- Về án phí sơ thẩm:
8
Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 48.228.000đ (bốn mươi tám triệu
hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại thẩm (đã làm
tròn số).
Công ty trách nhiệm hữu hạn A phải chịu 4.514.000đ (bốn triệu năm trăm
mười bốn nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (đã làm tròn số), số
tiền này được khấu trừ vào 36.761.00(ba mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi
mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu s0010781 ngày
03/12/2025 của Thi hành án dân stỉnh An Giang; hoàn lại cho Công ty trách
nhiệm hữu hạn A số tiền 32.247.000đ (ba mươi hai triệu hai trăm bốn mươi bảy
nghìn đồng).
3. V án phí phúc thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải chịu
2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được
trừ vào 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án pđã nộp theo Biên lai thu
số 0001364 ngày 11/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND khu vực 15 - An Giang;
- Phòng THADS khu vực 15 - An Giang;
- Đương sự;
- Lưu: Văn phòng, Tòa dân sự,
Phòng GĐ,KT,TT&THA, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Châu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/KDTM-PT Bản án số 16/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất