Bản án số 940/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 940/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 940/2026/DS-PT ngày 06/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 940/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L- Trần Thọ L - T/c HĐ chuyển nhượng QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 940/2026/DS-PT Bản án số 940/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 940/2026/DS-PT Bản án số 940/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 940/2026/DS-PT
Ngày 06/8/2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán: Ông Trần Trí Dũng;
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Ngọt, TTòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 818/2026/TLPT-DS ngày 02
tháng 6 năm 2026, về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1052/2026/QĐ-PT
ngày 22 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Số A, đường L, khóm B, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nay
là số A, đường L, phường V, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Việt H, sinh năm
1966; địa chỉ: L.02-41, Đường C, Khu dân cư M, khóm A, Phường G, thành phố
S, tỉnh Sóc Trăng, nay LK.02-41, Đường C, Khu dân M, phường S, thành
phố Cần Thơ; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy
quyền ngày 08/9/2023). (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Thọ L1, sinh năm 1938;
Địa chỉ: Số B, đường T, khóm A, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nay
là số B, đường T, Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đoàn Tấn P, sinh năm 1992;
2
địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố Cần Thơ; người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 05/8/2026). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Thạch D, sinh năm 1954;
2. Ông Lưu Chấn T, sinh năm 1974;
3. Ông Lâm C, sinh năm 1947;
4. Ông Lâm T1, sinh năm 1962;
5. Bà Lâm Chành T2, sinh năm 1970;
Cùng địa chỉ: Khóm S, Phường B, thị V, tỉnh Sóc Trăng, nay khu
vực S, phường V, thành phố Cần Thơ. (đều vắng mặt)
6. Ông Lâm S, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Ấp T, T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, nay ấp T (đã đổi tên
thành ấp T), xã N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
7. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1949;
8. Ông Lâm Minh L2, sinh năm 1977;
9. Ông Lâm Minh P1, sinh năm 1983;
10. Bà Lâm Bé S1, sinh năm 1984;
Cùng địa chỉ: Số G, đường M, khóm C, Phường A, thị V, tỉnh Sóc
Trăng, nay là số G, đường M, phường V, thành phố Cần Thơ. (đều vắng mặt)
11. Bà Lâm Mỹ L3, sinh năm 1975;
12. Bà Lâm Thị Phi N, sinh năm 1980;
13. Bà Lâm Thị Phi N1, sinh năm 1984;
14. Bà Lâm Thị Phi S2, sinh năm 1987;
15. Bà Danh Thị Út M, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: Khóm S, Phường B, thị V, tỉnh Sóc Trăng, nay khu
vực S, phường V, thành phố Cần Thơ. (đều vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trần Việt H - Người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn ông Trần Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L trong qtrình
giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 25/11/2004, ông Trần Thọ L1 ông Trần Văn L giao kết
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 45 công tầm cấy, tọa
lạc tại khóm S, Phường B, thị V, tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng 90
lượng vàng 24K (loại 9999). Tại thời điểm chuyển nhượng, hai bên lập văn
3
bản và cùng tên, không có chứng thực của quan có thẩm quyền hoặc công
chứng. Ông L1 trách nhiệm m thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho ông
L ông L chịu thêm chi phí làm thủ tục 4.000.000 đồng. Ông L đã giao
trước cho ông L1 65 lượng vàng 24K (loại vàng 9999) và đã nhận đất canh tác.
Tuy nhiên, từ ngày chuyển nhượng cho đến nay, ông L1 chưa lập thủ tục sang
tên quyền sử dụng đất cho ông L như đã thỏa thuận.
Nay ông L yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 25/11/2004 đối với diện tích đất nêu trên vô hiệu.
Buộc ông L1 trả lại cho ông L 65 lượng vàng 24K (loại vàng 9999) ông L
giao trả lại 45 công đất nêu trên cho ông L1. Đối với yêu cầu xử lý hậu quả hp
đồng vô hiệu thì ông L rút lại yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Thọ L1 trình bày:
Ông thừa nhận vào ngày 25/11/2004, ông chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho ông L diện tích 45 công tầm cấy, tọa lạc tại khóm S, Phường B, thị
V, tỉnh Sóc Trăng với giá chuyển nhượng 90 lượng vàng 24K (loại ng
9999), ông L đã trả cho ông được 65 lượng vàng 24K (loại vàng 9999) ông
đã giao toàn bộ diện tích đất chuyển nhượng cho ông L quản lý, sử dụng cho đến
nay. Ông đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích
đất nêu trên cho ông L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
các ông Thạch D, Lâm C, Lưu Chấn T và Lâm Minh P1 trình bày:
Trong 45 công đất ông L1 chuyển nhượng cho ông L bao gồm đất
của các ông và đất của gia đình bà Lâm Thị L4, ông Lâm C1, ông Lâm Minh L5
đã chuyển nhượng cho ông L1 rất lâu ông L1 đã sử dụng cho đến khi chuyển
nhượng lại cho ông L4.
Đối với những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông
Lâm T1, Lâm Chành T2, L, Nguyễn Thị Thu V, Lâm Minh L2, Lâm S1, Lâm
Mỹ L3, Lâm Thị Phi N, Lâm Thị Phi N1, Lâm Thị Phi S2, Danh Thị Út M: Trong
quá trình Tòa án giải quyết, các ông, đều vắng mặt, không có gửi cho Tòa án
văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông L4.
Tại Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 11/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực
8 - Cần Thơ đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 khoản 2 Điều 143, khoản 3 Điều 144, khoản 1
Điều 146, khoản 1 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3
Điều 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 106,
Điều 127 của Luật đất đai năm 2003; Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 137,
khoản 2 Điều 468, Điều 697, Điều 698 Điều 699 của Bộ luật Dân sự năm
2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
4
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L đối với ông
Trần ThL1, về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/11/2004, được
kết giữa ông Trần Văn L với ông Trần Thọ L1 đối với phần đất diện tích 45
công tầm cấy (diện tích đo đạc thực tế 58.370,3m
2
), tọa lạc khóm S, Phường
B, thị V, tỉnh Sóc Trăng, nay khu vực S, phường V, thành phố Cần Thơ
vô hiệu.
2. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
25/11/2004 giữa ông Trần Văn L với ông Trần Thọ L1 đối với diện tích
58.370,3m
2
, thuộc các thửa 57, 58, 59, 732, 733, 63, cùng tờ bản đồ s01 (bản
đồ chính quy thửa 107, tờ bản đồ 01), tọa lạc khóm S, Phường B, thị V,
tỉnh Sóc Trăng, nay khu vực S, phường V, thành phố Cần Thơ. Phần đất có vị
trí kích thước như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 55 số đo 26,02m + 21,94m, giáp thửa 745
số đo 15,02m + 5,04m;
- Hướng Tây giáp thửa 752 số đo 5,02m + 127,54m, giáp thửa 751
số đo 81,73m, giáp thửa 750 số đo 39,09m, giáp thửa 60 số đo 43,03m,
giáp thửa 56 số đo 59,61m, giáp thửa 731 số đo 22,44m + 25,51m, giáp
thửa 54 có số đo 70,94m, giáp thửa 52 có số đo 35,91m + 26,57m, giáp thửa 51
có số đo 49,69m + 65,26m;
- Hướng Nam giáp kênh KD4 có số đo 2,06m;
- Hướng Bắc giáp thửa 47 có số đo 58,02m.
(có sơ đồ kèm theo)
3. Buộc ông Trần Thọ L1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 25/11/2004 với diện tích đất 58.370,3m
2
, thuộc các thửa
57, 58, 59, 732, 733, 63, cùng tbản đồ 01 (bản đồ chính quy thửa 107, tờ bản
đồ số 01, do ông Trần Văn L đứng tên), tọa lạc khóm S, Phường B, thị xã V, tỉnh
Sóc Trăng, nay là khu vực S, phường V, thành phố Cần Thơ.
4. Buộc ông Trần Văn L trách nhiệm trả cho ông Trần Thọ L1 25 (hai
mươi lăm) lượng vàng 24K (loại 9999), quy ra thành tiền tại thời điểm xét xử sơ
thẩm cụ thể giá vàng 24K (loại vàng 9999) 12.100.000 đồng/chỉ vàng 24K
(loại vàng 9999), 25 lượng vàng 24K x 10 chỉ = 250 chỉ vàng 24K x 12.100.000
đồng/chỉ = 3.025.000.000 đồng.
Khi bản án hiệu lực pháp luật, ông Trần Thọ L1 đơn yêu cầu thi
hành án thì hàng tháng, ông Trần Văn L còn phải trả lãi cho ông Trần Thọ L1
theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015 đối với số tiền chậm thi hành án.
5. Ông Trần Văn L nghĩa vụ liên hệ đến cấp thẩm quyền để được
5
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
6. Đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về giải
quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, do ông Trần Văn L t yêu cầu.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 08/8/2025, người đại diện hợp pháp của ông L đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy
toàn bbản án thẩm, chuyển hồ về cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại
theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của ông L không rút đơn khởi kiện và không rút
kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của
người đại diện hợp pháp của ông L căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, hủy toàn bbản án dân sự thẩm, chuyển hồ vụ án
cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của tất cả những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan: Các ông, bà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên
tòa phúc thẩm nhưng vắng mặt không sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan và không có kháng cáo. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử
vắng mặt đối với các ông, bà.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông H
(người đại diện hợp pháp của ông L) đảm bảo về hình thức nội dung, đúng
người quyền kháng cáo, còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các
Điều 271, Điều 272 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015 nên hợp lệ,
đủ điều kiện để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của ông Trần Văn L, Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[4] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án, phần đất tranh
6
chấp giữa ông Trần Văn L với ông Trần Thọ L1 có tổng diện tích là 58.370,4m
2
,
thuộc các thửa 57, 58, 59, 732, 733, 63, tờ bản đồ số 1 (theo bản đồ chính quy là
thửa 107, tờ bản đồ số 1) tọa lạc tại ấp S, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cũ,
nay khu vực S, phường V, thành phố Cần Thơ. Hiện trạng đất nuôi trồng
thủy sản, do ông L đang quản lý.
[5] Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày
15/7/2023, ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất xác lập ngày 25/11/2004 giữa ông L với ông L1 đối với phần đất nêu
trên hiệu, buộc ông L1 trả lại cho ông 65 lượng vàng 24K (loại 9999), ông
giao trả lại cho ông L1 diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, hậu quả của hợp
đồng vô hiệu ông rút lại không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình giải quyết v
án, ông L1 không có yêu cầu phản tố công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, chỉ trình bày ý kiến tại phiên tòa đồng ý tiếp tục hợp đồng, còn
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu độc lập.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc
yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu, đồng
thời công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên giữa ông L
với ông L1, buộc ông L ông L1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng ợt quá
yêu cầu khởi kiện của ông L1, vi phạm nguyên tắc quyền quyết định tự định
đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản
1 Điều 5 của Bộ luật này quy định: “Đương sự quyền quyết định việc khởi
kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý,
giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ
giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.
[6] Tòa án cấp thẩm căn cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị
quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án
dân sự, hôn nhân và gia đình để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông L với ông L1 cũng không đúng. Bởi lẽ, điểm b.3 hướng dẫn:
“Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được
hướng dẫn tại điểm a.4 điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm,
đã làm nhà kiên cố... bên chuyển nhượng không phản đối cũng không bị
quan nhà nước thẩm quyền xử vi phạm hành chính theo các quy định
của Nhà nước về xử vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án
công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm ntrên một phần
đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần
đất nhà hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận
chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp
việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp
đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch”. Trong khi
đó, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện, các thửa đất ông L1
chuyển nhượng cho ông L đều không phải do ông L1 đứng tên chủ sử dụng đất,
cụ thể thửa 57, 732 Nhà nước cấp cho hộ ông Thạch D, thửa 733 Nhà nước cấp
7
cho hộ ông Lưu Chấn T, thửa 58 Nhà nước cấp cho hộ ông Lâm C, còn thửa 63
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo sổ địa chính do ông
Lâm C1 đứng tên, đồng thời đất này hiện nay không phải đất trồng cây lâu
năm, ông L cũng không làm nhà kiên cố trên đất đất nuôi trồng thủy
sản; do đó nếu căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b.3 nêu trên là không điều kiện để
công nhận hợp đồng.
[7] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
nội dung vụ án giải quyết cũng chưa đúng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi
ích hợp pháp của ông L, do đó kháng cáo của người đại diện hợp pháp của ông
L yêu cầu hủy bản án thẩm, chuyển hồ về cho Tòa án cấp thẩm giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề
nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người đại diện hợp
pháp của ông L, căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, hủy toàn bộ bản án thẩm, chuyển hồ ván cho Tòa án cấp
thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[9] Khi thụ lý, giải quyết lại vụ án: Về thủ tục tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm
phải làm việc với ông L1 để làm rõ ông có yêu cầu phản tố công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông L hay không? Nếu yêu
cầu thì thụ lý, giải quyết mới dứt điểm ván. Về nội dung, Tòa án cấp thẩm
cần phải làm tại thời điểm chuyển nhượng, ông L1 đủ điều kiện chuyển
nhượng ông L đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của
pháp luật đất đai hay không? Từ đó mới có đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển
nhượng có vô hiệu hay không vô hiệu để công nhận.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án thẩm bị hủy nên theo quy
định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông L không phải chịu. Do ông L
được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên không phát sinh việc hoàn trả
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn ông Trần Văn L.
Tuyên xử:
8
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 11 tháng 7
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
2. Chuyển hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn L không phải chịu.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 8 - Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND khu vực 8 - Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hoàng Lâm
CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Trần Trí Dũng Nguyễn Thị T3 Thư Nguyễn Hoàng L6
Nơi nhận:
- TAND khu vực 8 - Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND khu vực 8 - Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hoàng Lâm
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 940/2026/DS-PT Bản án số 940/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 940/2026/DS-PT Bản án số 940/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất