Bản án số 144/2026/KDTM-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 144/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 144/2026/KDTM-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 144/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐTD giữa Oceanbank - Linh Phượng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 144/2026/KDTM-PT Bản án số 144/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 144/2026/KDTM-PT Bản án số 144/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 144/2026/KDTM-PT
Ngày 18 tháng 8 năm 2026
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Linh và ông Hoàng Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội
tham gia phiên tòa:
Ông Trần Chí Thành - Kiểm sát viên
Ngày 18/8/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm
công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số 203/2022/KTPT ngày 09/12/2022
về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm
số 141/2022/KDTM-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành
phố Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
546/2026/QĐ-PT ngày 10/7/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH MTV V (trước đây là Ngân hàng T3)
Địa chỉ trụ sở: Số C phố L, phường N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Thành T - Chủ tịch HĐTV
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty Q nợ Khai thác tài sản - Ngân hàng
TMCP Q1 (theo Hợp đồng ủy quyền số 02/UQ.MBV-MBAMC ngày 31/12/2024)
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Diệu A, ông Hoàng
Thái S, Đỗ Thị T1 - Chuyên viên tố tụng MBAMC; Địa chỉ: Tầng D, số A G,
phường Ô, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Công ty cổ phần Đ
Địa chỉ: P, khu C L, phường Ô, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phùng Thị Diệp L - Chủ tịch HĐQT
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Vũ T2, sinh năm 1962
Địa chỉ: Số H H, phường P, thành phố Hà Nội.
2. UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: UBND xã L, tỉnh Phú Thọ; Địa chỉ:
Số E đường T, tiểu khu A, xã L, tỉnh Phú Thọ.
(Tại phiên tòa có mặt bà Nguyễn Diệu A, các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo Đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Người
đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/5/2011, Ngân hàng T3 (sau đây gọi tắt là “O”) và Công ty cổ phần Đ1
(sau đây gọi tắt “Công ty Đ”) Hợp đồng tín dụng số 0651/2011/HĐTD1-
OCEANBANK 1 với các nội dụng cơ bản như sau:
Số tiền vay theo hợp đồng tín dụng là: 100.000.000.000 đồng. Số tiền giải ngân
trong năm 2011 không quá 60.000.000.000 đồng.
Thời gian vay 60 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên.
Mục đích vay: Đầu Dự án khu nhà sinh thái P tại H, huyện L, tỉnh Hòa
Bình.
Lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên là 22% năm, lãi suất quá
hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Kế hoạch trả gốc: Phân kỳ 6 tháng/lần kể từ tháng thứ 12 tới khi đáo hạn. Kế
hoạch trả lãi 03 tháng/lần kể từ ngày giải ngân đầu tiên.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Theo Hợp đồng thế chấp tài sản tương lai
01/2011/HĐTC1/OCEANBANK 01 ngày 29/04/2011 giữa O Công ty Đ nội
dung cụ thể như sau: Tài sản thế chấp tài sản hình thành trong tương lai quyền
sử dụng đất và toàn bộ tài sản hình thành trên diện tích 8.489 ha tại dự án Khu nhà ở
sinh thái P do Công ty Đ làm chủ đầu tư.
Theo Giấy nhận nợ số 01/0651/2011/GNN1-OCEANBANK ngày 25/5/2011, O
đã giải ngân cho Công ty Đ số tiền 35.996.000.000 đồng. Mục đích: Thanh toán
tiền đền bù, bồi thường cho ông T2 nhằm thực hiện đầu dự án Khu biệt thư
sinh thái Park Royal.
Trong qtrình thực hiện Hợp đồng, do Công ty Đ vi phạm nghĩa vụ thanh
toán nên khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn.
O đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở tạo điều kiện đbị đơn khắc phục khó
khăn thu xếp thanh toán khoản nợ nhưng Công ty Đ đều không thực hiện. Do đó, O
khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc ng ty Đ thanh toán trả nợ cho O (tạm tính đến ngày 03/01/2022) với
tổng số tiền 212.486.438.380 đồng, trong đó: Nợ gốc 35.996.000.000 đồng, nợ
lãi trong hạn 2.061.770.889 đồng, nợ gốc qhạn 131.781.356.000 đồng, phạt
chậm trả lãi là 42.647.311.492.000 đồng.
Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi theo Hợp đồng tín dụng các phụ lục hợp
đồng tín dụng kèm theo cho đến ngày Công ty Đ thanh toán được toàn bộ khoản
vay.
Trường hợp Công ty Đ không trả được nợ, đề nghị Tòa án tuyên cho O được
quyền yêu cầu thi hành án cho biên phát mại toàn bộ tài sản đảm bảo theo Hợp
đồng thế chấp tài sản tương lai số 01-2011- HĐTC1/OCEANBANK1 đảm bảo cho
khoản vay, cụ thể là: Tài sản hình thành trong tương lai là quyền sử dụng đất và toàn
bộ tài sản hình thành trên diện tích 8,489 ha tại Dự án khu nhà sinh thái P, H,
huyện L, tỉnh Hòa Bình do Công ty Đ làm chủ đầu tư.
3
Trường hợp số tiền phát mại tài sản đảm bảo theo nghĩa vụ đã đăng không
đủ để trả nợ các chi phí các chi phí phát sinh khác (nếu có) thì Công ty Đ tiếp
tục nhận nợ số tiền còn thiếu và phải có trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn Công ty cổ phần Đ trình bày:
Công ty Đ xác nhận Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng O vay để vay số
tiền 100.000.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng O đã giải
ngân cho Công ty Đ số tiền 35.996.000.000 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh
toán như nguyên đơn trình bày là đúng.
Bị đơn không tiếp tục thực hiện đúng tiến độ dán do nguyên đơn không giải
ngân không theo đúng tiến độ cam kết cổ đông đứng tên theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng của bị đơn là ông Vũ T2 bị bắt thi hành án 10 năm từ 2011 đến 2021.
Bị đơn đề nghị nguyên đơn cho thanh toán số tiền nợ gốc, miễn các loại lãi theo Hợp
đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
Đề nghị nguyên đơn hỗ trợ bị đơn trong các thủ tục hành chính để đề nghị
UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình cho bị đơn được tiếp tục thực hiện dự án. Bị đơn xin
thay mặt ông T2 người được UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình cho tiếp tục thực
hiện việc thuê đất trên diện tích đất ông T2 được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông T2 trình bày: Đối với tài sản đảm bảo của bị đơn với nguyên đơn
quyền sử dụng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông
T2 tại thửa đất số 10 tờ bản đồ 76c, địa chỉ tại xóm C, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình
diện tích 707476 m2, hiện nay UBND huyện L ra Quyết định thu hồi. Ông T2 đã
đơn gửi UBND huyện L đề nghị UBND huyện L htrợ ông khi đất bị nhà nước thu
hồi ông xin được tách ra giải quyết riêng, không yêu cầu giải quyết trong vụ án
này.
UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình trình bày: Năm 2008, UBND huyện L Hợp
đồng thuê đất s02/HĐTĐ ngày 14/5/2008 giữa UBND huyện L ông T2,
tổng diện tích thuê đất 70.747,6m2, địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã H, huyện L, tỉnh
Hòa Bình để sử dụng mục đích du lịch nghỉ dưỡng, thể thao vui chơi giải trí.
Hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm. Việc ông T2 sau khi thuê đất trả
tiền thuê đất hàng năm để góp cổ phần vào bđơn đnghị Tòa án xem xét. Bị đơn
được UBND tỉnh cho nghiên cứu lập dự án khảo sát khu nhà ở sinh thái và được phê
duyệt quy hoạch thiết kế 1/500. Tuy nhiên sau khi được quy quy hoạch 1/500, Công
ty Đ không thực hiện việc lập dự án trình cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Năm 2018, UBND tỉnh H đã có văn bản về việc chấm dứt việc cho phép bị đơn
nghiên cứu lập dự án khu nhà sinh thái tại H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Tại thời
điểm bị đơn vay vốn bản chất chưa dự án được phê duyệt nên xác định tài sản
hình thành trong tương lai chưa sở. UBND huyện L đề nghị Tòa án xem xét
việc nguyên đơn giải ngân vốn trên đất chưa đầu bất kmột hạng mục
4
trên diện tích ông T2 được UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình cho thuê. Do vậy
UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình không đồng ý là tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Sau khi ra Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng thu hồi đất
UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình đã gửi quyết định cho ông T2 theo địa chỉ trong
hồ thuê đất, nhưng không giao được cho ông T2 và UBND huyện L, tỉnh Hòa
Bình đã niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã H nơi có đất thu hồi.
Năm 2021, ông T2 đã đến làm việc với UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình.
UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình đã thông báo cho ông T2 biết về việc diện tích
đất ông được UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình cho ông thuê đã có quyết định thu hồi.
Ông T2 đề nghị xem xét chi phí đầu của ông T2 vào diện tích đất bị thu hồi s
tiền 19 tđồng. UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình ra văn bản yêu cầu ông T2 giao
nộp hộ chứng cứ liên quan đến yêu cầu bồi thường đến nay UBND huyện L chưa
nhận được bất cứ một tài liệu chứng cứ nào liên quan đến việc ông T2 yêu cầu bồi
thường.
Tại bản án kinh doanh thương mại thẩm số 141/2022/KDTM-ST ngày
23/9/2022, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền phạt chậm trả
lãi 45.199.229.135 đồng.
Buộc bđơn phải thanh toán cho nguyên đơn stiền nợ gốc 35.996.000.000
đồng, số tiền lãi trong hạn 2.061.770.889 đồng; Phạt gốc quá hạn 139.124.540.000
đồng. Tổng cộng 177.182.310.889 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm, người phải thi hành án tiếp tục
phải chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc còn lại chưa thanh toán theo lãi suất thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi trả
xong nợ gốc.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phát mại tài sản đảm bảo tài sản
hình thành trong tương lai quyền sử dụng đất toàn bộ tài sản hình thành trên
diện tích 8,489 ha dự án Khu nhà ở sinh thái P do bị đơn làm chủ đầu tư.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về thi hành án, án phí thẩm quyền
kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án thẩm, Ngân hàng TNHH MTV V Hiện đại (trước
đây Ngân hàng T3), Nguyên đơn trong v án kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án để bảo vquyền
lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày: Ngày 17/8/2026,
Ngân hàng đã đơn xin rút một phần kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
buộc Công ty Đ phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền phạt chậm trả lãi (tính đến
ngày 21/9/2022) 45.199.229.135 đồng chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng phát
mại tài sản bảo đảm tài sản hình thành trong tương lai quyền sử dụng đất toàn
5
bộ tài sản hình thành trên diện tích 8.489 ha dự án khu nhà sinh thái P do Công ty
Đ làm chủ đầu tư.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Nội tiến hành thụ và giải
quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
Tòa án việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn, Bị đơn, Người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
2015; Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về
giao dịch bảo đảm; Nghị định 11/CP/2012 ngày 22/2/2011 sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 vgiao dịch bảo đảm; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TNHH MTV V Hiện đại (trước đây
Ngân hàng T3). Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
141/2022/KDTM ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Hà Nội).
Về án phí: giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự cung cấp Tòa án thu
thập được trong quá trình tiến hành tố tụng, sau khi đã được thẩm tra công khai tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng
xét xử nhận thấy:
V t tng:
Đơn kháng cáo của Ngân hàng TNHH MTV V Hiện đại (trước đây Ngân
hàng T3) np trong thi hn luật định; người kháng cáo đã np tin tm ng án phí
phúc thm nên kháng cáo là hp l.
V cách tham gia t tng: Tại thời điểm xét xử phúc thẩm, căn cứ Điều 59
Luật tố tụng hành chính, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Nghị
quyết 190/2025/QH15 của Quốc hội quy định vxử một số vấn đề liên quan đến
sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 29/4/2025 của
Hội đồng nhân dân thành phố H về việc tán thành chủ trương sắp xếp đơn vị hành
chính cấp của thành phố Nội Danh sách 126 đơn vị xã, phường của thành
phố Nội chi tiết kèm theo: Tòa án nhân dân thành phố Nội đã ban hành
Thông báo số 406/TB-TA ngày 09/7/2026 về việc xác định UBND L, tỉnh Phú
Thọ người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình
trong vụ án này.
Ngày 10/4/2023, Tòa án nhân dân thành phố Nội Công văn số
97/2023/CV-TKT về việc đề nghị Công an thành phố H điều tra, xem xét việc cấp
tín dụng của Ngân hàng TNHH MTV T3 (O) đối với Công ty cổ phần Đ. Tại Công
6
văn số 1815/CSKT ngày 18/7/2023 và Công văn số 3296/CSKT-Đ5 ngày 21/5/2026,
Phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố H phúc đáp như sau: “Chưa đủ căn cứ
xác định vụ việc dấu hiệu vi phạm theo nội dung công n số 97/2023/CV-TKT
ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nội, Phòng C trả lại Tòa công
văn trên các tài liệu kèm theo”. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Nội tiếp
tục giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.
V ni dung:
[1]. Xét Hợp đồng tín dng:
Ngân hàng O và Công ty Đ đã ký Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số
0651/2021/HĐTD1-OCEANBANK01 ngày 06/5/2011.
Nhận thấy, Hợp đồng tín dụng nêu trên được các bên kết hoàn toàn t
nguyện, đảm bảo vđiều kiện chủ thể, nội dung không trái với quy định của pháp
luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia.
Đối với số tiền nợ gốc:
Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 0651/2021/HĐTD1-OCEANBANK01
ngày 06/5/2011 nêu trên, Ngân hàng O đã giải ngân cho Công ty Đ thông qua Giấy
nhận nợ 01/0651/2011/GNN1-OCEANBANK ngày 25/5/2011: Số tiền giải ngân
35.996.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, ngày rút
vốn 21/5/2011, ngày đến hạn 21/5/2016.
Nhn thy: Theo tha thun ti hợp đồng tín dụng, căn c đề ngh gii ngân
các h liên quan đến d án khu bit th sinh thái Park Royal, Ngân hàng đã gii
ngân cho Công ty Đ bng hình thc chuyn khon trc tiếp cho ông T2, th hin
ti y nhim chi ngày 21/5/2011.
Trong quá trình thc hin Hợp đồng, Công ty Đ xác nhận chưa thanh toán cho
Ngân hàng n gc. Công ty Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc theo tha
thun ti Hợp đồng tín dng giy nhn n đã ký kết. vy, Tòa án cấp thẩm
chp nhn yêu cu khi kin ca Ngân hàng O v vic buc Công ty Đ phi thanh
toán s tin n gc 35.996.000.000 đồng căn c phù hp với quy định
ca pháp lut.
Đối với số tiền nợ lãi: Căn cứ Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ kèm theo,
các bên đã thỏa thun áp dng lãi suất như sau:
Lãi sut cho vay trong hạn là 22%/năm, lãi quá hn bng 150% lãi sut cho vay
trong hn. Lãi suất vay điều chỉnh định k 03 tháng/ln (tính t ln giải ngân đầu
tiên). Lãi suất điều chnh bng lãi suất huy động tin gi tiết kim của đồng cho vay
k hn 12 tháng tr sau do O công b ti thời điểm điều chnh cộng biên độ ti thiu
7%/năm nhưng không thấp hơn kỳ lãi suất cho vay đầu tiên không vượt mc lãi
sut trần quy định (nếu có).
Căn cứ bảng tính lãi do Ngân hàng xuất trình, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngân hàng đã điều chỉnh tăng, giảm lãi suất cho vay trong hạn qhạn đối với
khoản vay của Công ty Đ định kỳ theo quy định của Ngân hàng thỏa thuận trong
hợp đồng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn sự biến động tăng
7
giảm theo các Thông báo điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng qua từng thời kỳ, lãi
suất được điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất trần quy định của Ngân hàng N.
Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc buộc
Bị đơn phải thanh toán số tiền nợ lãi trong hạn 2.061.70.889 đồng, nlãi qhạn
là 139.124.540.000 đồng.
Các đương sự không kháng cáo đối với số tiền ngốc và tiền nợ lãi nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[2]. Xét kháng cáo của Nguyên đơn đối với số tiền phạt chậm trả lãi:
Theo yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng O đề nghị Tòa án buộc Công ty Đ phải
thanh toán cho Ngân hàng số tiền phạt chậm trả lãi (tính đến ngày 21/9/2022)
45.199.229.135 đồng.
Nhận thấy: Ngân hàng O Công ty Đ giao kết Hợp đồng tín dụng trung, dài
hạn số 0651/2021/HĐTD1-OCEANBANK01 ngày 06/5/2011. Căn cứ khoản 1 Điều
8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi
suất, phạt vi phạm:
“Tại thời điểm xét xử thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập
trước ngày 01-01-2017 được xác định như sau:
a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả được xác định theo lãi suất các bên thỏa
thuận nhưng phải phù hp với văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất
áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi
suất tương ứng với thời hạn vay chưa trả.
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên
nhưng phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp
dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng”.
Theo quy định trên, đối với Hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày
01/01/2017, lãi suất bao gồm: Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả lãi trên nợ gốc
quá hạn chưa trả (tức là lãi trong hạn và lãi quá hạn). Trong hợp đồng tín dụng được
các bên kết không thỏa thuận về phạt chậm trả lãi. Yêu cầu khởi kiện của
Nguyên đơn về phạt chậm trả lãi thực chất là lãi chồng lãi.
Do đó, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên
đơn về việc buộc Bị đơn phải thanh toán số tiền phạt chậm trả lãi 45.199.229.135
đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét hợp đồng thế chấp:
Để bảo đảm cho khoản vay của Công ty Đ tại Ngân hàng O, ngày 29/4/2011,
Công ty Đ Ngân hàng đã Hợp đồng thế chấp tài sản tương lai số
01/2011/HĐTC1/OCEANBANK01, theo đó, thỏa thuận tài sản thế chấp là: Tài sản
hình thành trong tương lai quyền sử dụng đất toàn bộ tài sản hình thành trên
diện tích 8.489 ha Dự án Khu nhà sinh thái P do Công ty cổ phần Đ làm chủ đầu
tư.
8
Quá trình Công ty Đ thực hiện các thủ tục xin cấp phép đối với dự án Khu nhà
sinh thái P:
Ngày 26/02/2010, UBND huyện L Công văn số 106/UBND-TCKH về việc
đồng ý chủ trương cho Công ty Đ được đầu tư xây dựng dự án Khu nhà ở sinh thái P
trên diện ch 70.747,6m
2
(bao gồm cả phần diện tích trùng lắp 49.311,8m
2
, phần
diện tích trùng lắp này thuộc quyền sở hữu của Công ty Đ thông qua việc ông Vũ T2
góp vốn quyền shữu đất đó vào Công ty). Ngày 22/6/2010, UBND tỉnh H ban
hành Công văn số 849/UBND-ĐT về việc giao cho Công ty Đ diện tích khoảng
6,2ha (diện tích trùng lắp) để thực hiện thủ tục đầu tư dự án khu nhà ở sinh thái P
đồng ý chủ trương cho Công ty Đ nghiên cứu, khảo sát, lập quy hoạch chi tiết và lập
Dự án nêu trên.
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu, khảo sát kéo dài nhiều năm, Công ty Đ
không lập dự án nên UBND tỉnh H đã Công văn số 1401/UBND-NNTN ngày
31/8/2018 về việc chấm dứt cho phép Công ty Đ nghiên cứu, lập dự án. Tính đến
nay, Dự án Khu nhà sinh thái P do Công ty Đ làm chủ đầu chưa được UBND
tỉnh H cho phép triển khai thực hiện dự án đầu tư tại tỉnh Hòa Bình.
Đối với khu đất 70.747,6m
2
:
Vị trí khu đất Công ty Đ đề xuất đầu dự án Khu nhà sinh thái P tại H,
huyện L, tỉnh Hòa Bình diện tích 70.747,6m2. Căn cứ Hợp đồng thuê đất số
02/HĐTĐ ngày 14/5/2008 giữa UBND huyện L ông T2 Giấy chứng nhận
quyền s dụng đất số AM 941291 do UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình cấp ny
14/5/2008 cho ông T2 thể hiện: Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 76-c, diện tích
70.747,6m2 mục đích sử dụng: Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thời
hạn sử dụng đến tháng 12/2057, nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước cho thuê đất trả
tiền hàng năm.
Bên cạnh đó, do tnăm 2012 đến năm 2018, ông T2 không nộp tiền thuê
đất theo quy định không triển khai thực hiện dự án theo kế hoạch nên ngày
28/01/2019, UBND huyện L ban hành Quyết định số 155/QĐ-UBND về việc hủy
giấy chứng nhận quyền sdụng đất của ông T2 tại thôn C, H, huyện L, tỉnh
Hòa Bình do ông T2 không chấp hành thực hiện theo Quyết định 3748/QĐ-
UBND ngày 25/10/2018.
Nhận thấy: Hợp đồng thuê đất giữa UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình thỏa thuận:
Bên A đảm bảo việc sử dụng đất của bên B trong thời gian thuê đất thực hiện Hợp
đồng không được chuyển giao quyền sdụng đất cho bên thứ 3 (Trừ trường hợp
phải thu hồi đất theo quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 2003).
Theo khoản 1 Điều 111 Luật Đất đai 2003 quy định tổ chức kinh tế được Nhà
nước cho thuê đất trả tiền hàng năm chỉ các quyền tự do chuyển nhượng, thế
chấp, tặng cho... đối với tài sản thuộc sở hữu của nh gắn liền với đất thuê. Pháp
luật không quy định cho người sử dụng đất trong trường hợp này được quyền thế
chấp quyền sử dụng đất. Do đó, Công ty Đ đưa toàn bộ quyền sử dụng khu đất trên
vào làm tài sản bảo đảm cho khoản vay vi phạm điều cấm của pháp luật, đối
9
tượng của hợp đồng thế chấp là không hợp pháp. Đồng thời, khoản 1 Điều 175 Luật
Đất đai 2013 Điều 34 Luật Đất đai 2024 cũng thể hiện quyền nghĩa vụ của tổ
chức kinh tế sử dụng đất do Nhà nước cho thuê đất thu tiền hàng năm không được
quyền thế chấp quyền sử dụng đất.
Tài sản đảm bảo đã bị UBND huyện L thu hồi, đủ căn cứ để khẳng định tài sản
đảm bảo cho nghĩa vtrả nợ của Công ty Đ tại Ngân hàng O theo Hợp đồng tín
dụng không còn.
Như vậy, Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng O Công ty Đ vi phạm quy
định của pháp luật về hình thức nội dung. Do đó, xác định Hợp đồng thế chấp tài
sản tương lai số 01/2011/HĐTC1/OCEANBANK01 không phát sinh hiệu lực pháp
luật theo quy định Điều 122, Điều 127, Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005. vậy,
Ngân hàng không có quyền xử lý tài sản bản đảm để thu hồi nợ.
Do đó, Tòa án cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn v
việc đề nghị quan thi hành án biên phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi khoản
nợ cho nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ là có căn cứ, được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không căn cứ chấp
nhận kháng cáo của Ngân hàng TNHH MTV V Hiện đại (trước đây Ngân hàng
T3).
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Nguyên
đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Luật Các tổ chức tín
dụng; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị
định 11/CP/2012 ngày 22/2/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TNHH MTV V Hiện đại (trước đây
Ngân hàng T3). Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số
141/2022/KDTM ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Hà Nội).
2. Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng TNHH MTV V Hiện đại (trước đây
Ngân hàng T3) phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm,
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002608 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi
hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Nội (nay Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 1 - Hà Nội).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
10
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Điều 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hà Nội;
- TAND khu vực 1 - Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 1 - Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 144/2026/KDTM-PT Bản án số 144/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 144/2026/KDTM-PT Bản án số 144/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất