Bản án số 194/2026/HS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 194/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 194/2026/HS-PT ngày 13/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 194/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đào Thị Mỹ L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 194/2026/HS-PT Bản án số 194/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 194/2026/HS-PT Bản án số 194/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 194/2026/HS-PT
Ngày: 13/8/ 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Anh;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quốc Hà và bà Lưu Thị Thu Hường
Thư phiên tòa:Đinh Thị Tân-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Mai Phương- Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai ván hình sự thụ lý s159/2026/TLPT-HS
ngày 01 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo Đào Thị Mỹ L, do có kháng cáo của b
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2026/HS-ST ngày 20/5/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Đào Thị Mỹ L, sinh ngày 15/5/1978, ti tỉnh Đắk Lk; Nơi trú: 9 N,
phường T, tỉnh Đắk Lắk; Căn cước công dân số: 05217801xxxx cấp ngày 12
tháng 8 năm 2021;nơi cấp: Cục C1 về TTXH; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ
học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Đào Ngọc H (đã chết), con bà Thị B (sinh m 1951); Bị cáo
chồng Lâm Xuân V, sinh năm 1979 (đã chết); 02 người con, con lớn nhất
sinh năm 2008 và con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị o
tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hoàng Văn Y, sinh năm 1949 (đã chết)
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk
Người đại diện hợp pháp của ông Hoàng Văn Y tham gia tố tụng:
1.Ông Hoàng Thanh N, sinh năm: 1985, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, tỉnh Đắk Lắk
2. Ông Hoàng Thanh G, sinh năm 1988, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, tỉnh Đắk Lắk
2
3. Hoàng Thanh D, sinh năm 1993, vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu trong hvụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/10/2025, ông Hoàng Văn Y, sinh năm 1949, trú tại Tố dân phố D,
phường T, tỉnh Đăk Lăk đi xe khách từ phường T, tỉnh Đăk Lắk xuống Thành phố
Hồ Chí Minh để đi đám tang họ hàng. Đến tối ngày 29/10/2025, ông Y đi xe khách
từ Thành phố Hồ Chí Minh vlại nhà ti Tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 30/10/2025, ông Y xuống xe khách tại khu vực
đường P để về nhà. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Đào Thị Mỹ L một mình
điều khiển xe mô tô, biển số 47B1-408.50 đi từ nhà tại 9 N, phường T, tỉnh Đk
Lắk để đi xuống chợ H cũ (nay là xã H, tỉnh Đăk Lăk) để bán chè sớm. L điều
khiển xe lưu tng theo hướng từ đường N, ngang qua đường L đi thẳng qua
đường C rồi rẽ trái vào đường P đi thẳng về hướng Ủy ban nhân dân H cũ.
Khoảng 04 giờ 36 phút, khi L điều khiển xe lưu thông trên đường P, khi
đến trước số nhà B P, phường T, tỉnh Đắk Lắk cách ông Y đi bộ phía trước cùng
chiều khoảng 02m cách mép đường chuẩn 3,20m thì mới thây ông Y. Do không
chú ý quán sát phía trước nên khi phát hiện có người đi bộ cùng chiều ở khoảng
cách gần nên L không kịp xử lý nên đã để phía trước bên phải của xe mô tô biên
47B1- 408.50 tông trúng vai trái của ông Y khiến ông Y cùng L xe
biển số 47B1-408.50 ngã xuống đường. Hậu quả, ông Hoàng Văn Y Đào
Thị Mỹ L bị thương tích được đưa đến Bệnh viện Đ điều trị. Cùng ngày, ông
Hoàng Văn Y tử vong.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông:
- Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại trước số nhà B đường P, phường T,
tỉnh Đăk Lăk. Đoạn đường P nơi xảy ra tai nạn đoạn đường được trải nhựa bng
phẳng, rộng 11,4m, không có vạch sơn phân chia chiu đường xe chạy, không có
biển báo hiệu giao thông, không chướng ngại vật che khuất tầm quan sát của
người tham gia giao thông, hệ thống đèn đường chưa hoạt động. Hai bên đường
là vỉa hè khu dân cư sinh sống, vỉa hè được lát gạch tương đối bằng phẳng, rộng
3,40m, cao 0,15m. Đường Phan Huy C một số đoạn đang thi công chưa hoàn
thành. (BL 66, 67)
- Quá trình khám nghiệm, chọn hướng đi từ phường T đi H làm hướng
chuẩn, chọn mép đường bên phải theo hướng chuẩn mép đường chuẩn chọn
gốc trụ điện số 504-PC/18-11 (cách mép đường chuẩn 3,60m) mốc cố định.
Chọn hướng B1 là hướng chính thể hiện trong hồ sơ và lấy đơn vị đo là mét.
-Vị trí phương tiện, dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự, ký hiệu
mô tả như sau:
+ (1) Vết chà xước: Nét đứt quãng trên mặt đường, kích thước (10,20 x
0,05)m chiều hướng từ Đông sang T, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 3, 15m,
3
cách mốc cố định 33,40m, tâm cuối vết tại đầu tay thắng bên phải xe (9) tiếp xúc
với mặt đường.
+ (2) Vết cày: Nét đứt quãng trên mặt đường kích thước (10,15 x 0,01)m,
chiều hướng Đông sang T, tâm đầu vết cách p đường chuẩn 3,10m, cách tâm
đầu vết (1) 0,10m, tâm cuối vết tại đầu tay nắm bên phải xe (9) tiếp xúc với mắt
đường..
+ (3) Vết màu đen: Trên mặt đường kích thước (8,60 x 0,15)m, chiều hướng
từ Đông sang T, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 3,65m, cách tâm đầu vết (2)
1,90m cuối vết tại bánh trước xe (9) tiếp xúc với mắt đường.
+ (4) Vết chà xước: Nét đứt quãng trên mặt đường, kích thước (7,10 x
0,01)m, chiêu hướng từ Đông sang T, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 2,75m,
cách tâm đầu vết (3) 0,95m, cuối vết tại gác chân trước bên phải xe (9) tiếp xúc
với mặt đường.
+ (5) Vết cày: Nét đứt quãng trên mặt đường kích thước (5,20 x 0,01)m,
chiều hướng từ Đông sang T, tâm đu vết cách mép đường chuân 3,35m, cách
tâm đầu vết (4) 2,50m, cuối vết tại chân thắng tiếp xúc với mặt đường.
+ (6) Vết tạp chất màu nâu đỏ: Dấu vết đã khô trên mặt đường kích thước
(0,20 x 0,10)m, tâm vết cách mép đường chuẩn 3,00m, cách tâm đầu vết (5)
0,40m.
+ (7) Vết chất lỏng màu trắng: Trên mặt đường kích thước (4 x 0,50)m chảy
theo hướng từ Đông sang T, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 2,55m, cách tâm
vết (6) 0,35m, cuối vết cáchp đường chuẩn 2,30m.
+ (8) Vết chà xước: Nét đứt quãng trên mặt đường kích thước (1,50 x
0,01)m, chiều hướng từ Đông sang T, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 3,15m,
cách tâm đầu vết (7) 3,50m, cuối vết tại điểm cuối mặt ngoài ốp kim loại bo v
bô xe (9) tiếp xúc với mặt đường.
+ (9) Xe mô tô biển số 47B1-408.50: Di chuyển theo hướng chuẩn, sau tai
nạn xe ngã nghiên sang phải trên mặt đường, đầu xe quay về hướng T, đuôi xe
quay về hướng Đ, tâm trục bánh trước ch mép đường chuẩn 3,60m, cách mốc
cố định 23,40m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2,90m.
- Vị trí va chạm, hiệu (X): Căn cứ hướng đi vị trí sau cùng của
phương tiện, dấu vết để li tại hin trường và trên phương tiện cùng các tài liệu,
chứng cứ khác xác định vị trí va chạm giữa xe biến số 47B1-408.50 với ông
Hoàng Văn Y chiếu xuống mặt đường P tại mặt đường cách mép đường chuẩn
3,20m, cách mốc cố định 43,40m, cách tâm đầu vết (1) 10,20m, cách tâm bánh
sau xe (9) 19,65m.
Tại kết luận giám định tử thi số:1235/KLGĐTT-KTHS ngày 19 tháng 12
năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của ông
Hoàng Văn Y là: Chấn thương sọ não.
Tại Bản án thẩm số 111/2026/HSST ngày 20/5/2026 của TAND khu
vực 1 - Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị Mỹ L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ"
4
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thị Mỹ L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều
584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã tnguyện bồi thường cho gia đình ông
Hoàng Văn Y số tiền 70.000.000 đồng. Sau khi nhận số tiền trên, ông Hoàng
Thanh N người đại diện hợp pháp của ông Y đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/5/2026, bị cáo Đào Thị Mỹ L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Thị Mỹ L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên
và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.
Quá trình tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk
Lắk đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bcáo cho rằng Tòa án
cấp sơ thẩm xét xử và kết án các bị cáo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ" theo điểm a khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người,
đúng tội. Xét mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với
các bị cáo là phù hợp và đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo
nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm
bị cáo cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ mới là hoàn cảnh gia đình khó khăn
chồng chết, bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ. Do đó, Đại diện Viện kim sát đề nghị
Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ
luật tố tụng hình sự chp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Thị Mỹ L sửa
bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.
Áp dụng điểm điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thị Mỹ L: 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Đào Thị Mỹ L không tranh luận, bào chữa gì. Lời nói sau cùng bị cáo
xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa pc thẩm, lời khai nhận tội của bị cáo Đào Thị Mỹ L ti
phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp vi lời khai của người
đại din hợp pháp của bị hại, phù hợp với kết luận giám định các tài liệu, chứng
5
cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ
36 phút ngày 30 tháng 10 năm 2025, bị cáo Đào Thị Mỹ L điều khiển xe
biển số 47B1-408.50 lưu thông theo hướng đi tđường P đến Ủy ban nhân dân
H (cũ), khi đi đến trước số nhà B P, phường T, tỉnh Đk Lắk, do thiếu chú ý
quan sát , không làm chủ tốc độ nên đã để phía trước bên phải của xe mô tô biển
số 47B1-408.50 tông trúng vai trái của ông Hoàng Văn Y đang đi bộ phía trước
cùng chiều đường. Hậu quả, ông Hoàng Văn Y tử vong Đào Thị Mỹ L bị
thương tích nhẹ. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đào Thị Mỹ L phạm
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1
Điều 260 Bộ luật hình slà có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp
luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Đào Thị Mỹ L, Hội đồng xét xử xét thấy: Xét
mức hình phạt 01 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là
tương xứng với tính chất hành vi phạm tội tội của bị cáo nên không có căn cứ để
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và gia đình bị hại làm đơn bãi nại
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người bị hại cũng một phần lỗi (không đi
sát lề đường theo chiều đi của mình), gia đình bị cáo khó khăn, chồng chết, bịo
nuôi 02 con nhỏ 01 con sinh 2008 và 01 con sinh năm 2019, bị cáo có 02 tình tiết
gảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tình tiết
giảm nhẹ tch nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú ràng, bị cáo có khả
năng tự cải tạo, không bắt bị cáo đi chấp hành hành phạt tù không gây nguy hiểm
cho xã hội. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo với hội cho bị cáo
được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương gia đình
phù hợp thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta, nên Hội
đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Thị Mỹ L, sửa bn án
sơ thẩm đối với bị cáo về biện pháp chấp hành hình phạt tù.
[3] Xét quan điểm của kiểm sát viên đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đắk Lắk đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo xử
phạt bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp vi các quy định của
pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận
một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm phù hợp với
điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016
của y ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, min, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bluật Tố
tụng hình sự.
6
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đào Thị Mỹ L.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2026/HSST ngày 20/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo
Đào Thị Mỹ L.
Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị Mỹ L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thị Mỹ L: 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đào Thị Mỹ L cho UBND phường T, tỉnh Đắk Lk giám sát
giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo trách nhiệm phối hợp
với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian
thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực
hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án
treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa
án.
Bị cáo Đào Thị Mỹ L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng PV06 Công an tỉnh Đắk Lắk
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Bị cáo, đương sự:
- Lưu hồ sơ;
- Lưu TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Anh
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 194/2026/HS-PT Bản án số 194/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 194/2026/HS-PT Bản án số 194/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất