Bản án số 113/2026/HS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 113/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 113/2026/HS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 113/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 113/2026/HS-PT Bản án số 113/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 113/2026/HS-PT Bản án số 113/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 113/2026/HS-PT
Ngày 12 - 8 - 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thủy và ông Dương Văn Bản.
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Miên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Đức Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 70/2026/TLPT-HS
ngày 25 tháng 5 năm 2026, do có kháng cáo của bị cáo Dương Văn T đối với Bản
án hình sự thẩm số: 71/2026/HS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
Bị cáo có kháng cáo:
Dương Văn T (Tên gọi khác: Không có); sinh ngày 25/5/1989 tại tỉnh Thái
Nguyên.
Nơi ĐKHKTT và chỗ hiện nay: Tổ dân phố 3 (nay Tổ dân phố I),
phường B, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình đhọc vấn:
8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Dương Văn N (sinh năm 1969) và bà Trịnh Thị H (sinh năm 1969); có vợ là
Giáp Thị T1 (sinh năm 1992); con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con
nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương - Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Phạm Ngọc A - Luật thuộc Văn phòng
L, Đoàn Luật sư tỉnh T - Có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH H7; địa chỉ: Cụm C , phường S, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tuần H1 - Chức vụ Giám đốc
Công ty TNHH H7.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1971 - Chức
vụ: Quản đốc phân xưởng - Có mặt.
* Giám định viên:
- Giám định viên Sở Xây dựng tỉnh Thái Nguyên:
Ông Trình Xuân H2 - Có mặt.
Ông Đỗ Thanh S - Có mặt.
- Giám định viên Sở Tài chính tỉnh T: Bà Trần Thị H3 và bà Vũ Thị Thu T2 - Có
đơn xin xét xử vắng mặt.
Trong vụ án còn bị cáo Trần Văn K không kháng cáo, không bị kháng
cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo; người làm chứng Phạm
Long H4 không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH H7 (Công ty H7), địa chỉ tại Cụm C , phường S, tỉnh Thái
Nguyên, do ông Phạm Tuần H1, sinh năm 1953, trú tại phường B, tỉnh Thái
Nguyên làm Giám đốc, ngành nghề kinh doanh của Công ty sản xuất bao bì.
Để thực hiện việc vận chuyển hàng hóa đến các đơn vị mua bao bì của mình nên
Công ty H7 đã mua 02 xe ô tải tháng 5/2022 hợp đồng lao động với
Dương Văn T, tháng 8/2022 hợp đồng lao động với Trần Văn K. Theo hợp
đồng lao động thì Dương Văn T được Công ty giao điều khiển xe ô tải nhãn
hiệu HINO, biển kiểm soát (BKS) 20C - 235.50, Trần Văn K được giao điều khiển
xe ô tô tải nhãn hiệu HINO, BKS 20C - 147.76, nhiệm vụ của T K lái xe chở
hàng bao bì của Công ty đến giao cho Công ty T3, địa chỉ tại Khu công nghiệp T,
xã T, tỉnh Thanh Hóa Công ty TNHH G tại Khu G, xã D, tỉnh Phú Thọ (là 02
địa điểm giao hàng cố định), ngoài ra có thể giao hàng đến một số địa điểm khác
theo phân công.
Theo quy định của Công ty H7 thì T K chỉ sử dụng xe, điều khiển xe
chở hàng đến địa điểm theo sự phân công, còn việc đổ nhiên liệu dầu Diesel,
Công ty giao cho nhân viên bảo vệ (gồm ông Phạm Long H4, sinh năm 1952, trú
tại tổ H, phường S; ông Văn H5, sinh năm 1959, trú tại thôn K, G, tỉnh
Thanh Hóa; ông Lang Xuân H6, sinh năm 1954, trú tại thôn H, xã T, tỉnh Thanh
Hóa) nhiệm vụ trực tiếp quản chìa khóa để đóng, mở nắp bình nhiên liệu của
02 xe ô tô do T K điều khiển, khi đổ nhiên liệu vào bình thì nhân viên bảo vệ
sẽ trực tiếp đến làm việc với nhân viên của cửa hàng X số 18 thuộc phường S để
đổ nhiên liệu, sau khi đổ xong thì trực tiếp khóa nắp bình nhiên liệu. Công ty
không giao cho T K quản nhiên liệu của xe, không tham gia việc đổ nhiên
3
liệu và cũng không giao định mức hay khoán mức tiêu thụ nhiên liệu của 02 xe ô
tô trên.
Sau khi được giao xe, Dương Văn T Trần Văn K đã nảy sinh ý định trộm
cắp dầu Diesel trong bình nhiên liệu của xe ô của mình được giao điều khiển
để bán lấy tiền tiêu sài. Lợi dụng việc nhân viên bảo vệ của Công ty H7 tin tưởng
giao chìa khóa của nắp bình nhiên liệu đưa cho T và K trực tiếp mở, đóng khi đi
đổ nhiên liệu, sau khi đxong thì T K sẽ chỉ đóng nắp bình nhiên liệu
không khóa lại, rồi đưa lại chìa khóa cho nhân viên bảo vệ, mục đích để khi đi
trên đường giao hàng thì sẽ mở được nắp bình nhiên liệu lấy nhiên liệu bán cho
các địa điểm thu mua trên đường Quốc lộ 18, mỗi lần lấy dầu bán thì TK chỉ
lấy 30% đến 40% lượng dầu (từ 25 đến 30 lít dầu) có trong bình để tránh bị phát
hiện.
Với cách thức trên, Dương Văn T thực hiện việc trộm cắp dầu của Công ty
từ tháng 5/2022 đến tháng 6/2022 thì T chụp ảnh chìa khóa nắp bình dầu của xe
ô BKS 20C - 235.50, rồi thuê người làm một chìa khóa khác, mục đích sử dụng
để chủ động mở nắp bình dầu, lấy dầu bán tiếp tục thực hiện việc trộm cắp dầu.
Trần Văn K thực hiện việc trộm cắp dầu của Công ty từ tháng 8/2022 đến ngày
10/9/2024, K chụp ảnh chiếc chìa khóa nắp bình dầu của xe ô BKS 20C -
147.76, rồi nhờ T làm chìa khóa, sau đó T thuê người khác làm và đưa chìa khóa
cho K để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp.
Từ ngày 19/5/2022 đến ngày 30/9/2024, Dương Văn T điều khiển xe ô
tải BKS 20C - 235.50 đi được quãng đường 140.495 km, 223 lần đổ dầu Diesel,
tổng sdầu đã đổ là 26.328,04 lít tổng số dầu T đã trộm cắp được là 10.678 lít;
Từ ngày 10/8/2022 đến ngày 28/9/2024, Trần Văn K điều khiển xe ô tải BKS
20C - 147.76 đi được quãng đường là 115.499km, 186 lần đổ nhiên liệu, tổng số
dầu đã đổ là 9.740 lít, tổng số dầu K đã trộm cắp được là 5.659 lít.
Đến ngày 27/9/2024, ông Lang Xuân H6 bảo vcủa Công ty H7 nhặt
được chiếc chìa khóa do K làm để trộm cắp tài sản, nên đã trình báo đến Công ty
H7, sau khi phát hiện vụ việc, Công ty đã làm việc với T K đến ngày
14/12/2024 có đơn trình báo và giao nộp tài liệu, vật chứng cho Cơ quan điều tra
để giải quyết theo quy định.
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành trưng cầu Sở Xây
dựng tỉnh T giám định xe ô tô BKS 20C - 235.50 và xe ô tô BKS 20C - 147.76 có
bị tác động, can thiệp bằng thiết bị ngoại vi để thay đổi số liệu trên đồng hồ Công
mét, mức tiêu hao nhiên liệu hay không, mức đtiêu hao nhiên liệu cao nhất
(số lít/100km); mức tiêu hao nhiên liệu trung bình của mỗi xe trong thời gian sử
dụng đến khi bị phát hiện, trưng cầu độ dài quãng tCông ty H7 đến Công ty
TNHH T3, địa chỉ KCN T, xã T, tỉnh Thanh Hóa, đến Công ty TNHH G, địa chỉ
: Khu G, P, Phú Thọ. Trưng cầu Sở Tài chính tỉnh T giám định giá trị số nhiên
liệu là dầu (Diesel DO 0,05S- II) do Dương Văn T Trần Văn K chiếm đoạt từ
xe ô tô BKS 20C - 235.50 và xe ô tô BKS 20C - 147.76.
4
Tại bản kết luận giám định pháp ngày 27/5/2025 của Sở Xây dựng tỉnh
T, kết luận:
Tại thời điểm giám định trong quá trình kiểm tra thực tế hoạt động của
02 phương tiện: Không lắp các thiết bị ngoại vi để thay đổi số liệu trên đồng hồ
Công mét, mức tiêu hao nhiên liệu; Mức tiêu hao nhiên liệu cao nhất (số
lít/100km) đối với xe ô tô BKS 20C - 235.50 và xe ô tô BKS 20C - 147.76 trong
điều kiện hoạt động bình thường tại thời điểm kiểm tra thực tế, cụ thể: Xe ô
BKS 20C - 235.50 11,11 lít/100km, Xe ô BKS 20C - 147.76 13,52
lít/100km.
Độ dài lưu thông thực tế đi từ Công ty TNHH H7 đến Công ty TNHH T3
và chiều ngược lại là 488km.
Độ dài lưu thông thực tế đi từ ng ty TNHH H7 đến Công ty TNHH G
chiều ngược lại là 255km.
Tại bản kết luận giám định số ngày 09/9/2025 của Sở Tài chính tỉnh T, kết
luận: Giá trị nhiên liệu (dầu Diesel DO 0,05S- II) Công ty TNHH H7 bị thất thoát
từ tháng 5/2022 đến tháng 9/2024 đối với xe ô BKS 20C - 235.50, số lượng dầu
Diesel DO 0,05S- II bị thất thoát là 10.678 lít = 230.161.680đ. Xe ô tô BKS 20C
- 147.76, số lượng dầu Diesel DO 0,05S- II bị thất thoát từ tháng 8/2022 đến tháng
9/2024 là 5.659 lít = 118.509.788đ (bảng kê chi tiết kèm theo).
Quá trình điều tra, các bị cáo Dương Văn T, Trần Văn K đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng của vụ án: 01 chìa khoá bằng kim loại in chữ SILCA ITALY,
01 nắp bình dầu của xe ô BKS 20C - 147.76, có in chữ UP, được niêm phong
trong phong ký hiệu (A) được chuyển, bảo quản theo quy định về quản vật
chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 10/10/2024, Trần Văn K đã bồi thường cho
Công ty H7 số tiền 122.675.000đ. Ngày 23/12/2024, Dương Văn T bồi thường
cho Công ty H7 số tiền 83.161.000đ. Đại diện Công ty H7 đã nhận đủ tiền và
không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
* Tại Bản án hình sự thẩm số 71/2026/HS-ST ngày 21/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết định:
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 38 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Điều 106, 123, 124, 136, 299, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn T: 07 (bẩy) năm 03 (ba)
tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 65 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Điều 106, 123, 124, 136, 299, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt: Trần Văn K: 36 (Ba mươi sáu) tháng cho
hưởng án treo, ấn định thời gian ththách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên
án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn K cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái Nguyên trực
tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, việc xử
lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 05/5/2026 bị cáo Dương Văn T kháng cáo xin
giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận diễn biến hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã
nêu nhưng cho rằng số lượng dầu chiếm đoạt của Công ty H7 thấp hơn theo quy
kết của bản án thẩm; giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và xin
hưởng án treo.
- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên:
Đơn kháng cáo của bị cáo được làm nộp trong thời hạn luật định nên
được xem xét giải quyết.
Về tội danh, cấp sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội.
Về hình phạt cấp sơ thẩm đã đánh giá, áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ, cân nhắc về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm
tội của các bị cáo quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo phù hợp,
đúng pháp luật. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm
nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ
luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T; giữ
nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2026/HS-ST ngày 21/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14:
Xử phạt bị cáo Dương Văn T 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”. Thời hạn tính tngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Bị cáo
Dương Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6
- Quan điểm của người bào chữa: Không chấp nhận kết luận giám định của
Sở Xây dựng tỉnh TSở Tài chính tỉnh T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại
vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Kiểm sát viên đối đáp với quan điểm của người bào chữa của bị cáo:
Kết luận giám định do các cơ quan chuyên môn độc lập thực hiện tuân theo pháp
luật. Quá trình điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi thừa nhận các kết luận giám
định nên không giữ nguyên quan điểm.
- Đại diện bị hại nhất trí với các Kết luận giám định, xác định số dầu bị T
chiếm đoạt đúng như Kết luận điều tra, Cáo trạng, Bản án sơ thẩm đã quy kết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong thời hạn và đúng theo thủ tục
theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm
tội, thừa nhận số dầu và giá trị dầu chiếm đoạt như Kết luận giám định của Sở Tài
chính tỉnh T. Lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án đã được thẩm tra tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đề nghị xem xét lại các Kết luận giám định.
Hội đồng xét xử thấy các Kết luận giám định của Sở Xây dựng tỉnh T Sở Tài
chính tỉnh T đã thực hiện đúng quy định của pháp luật giám định. Quá trình điều
tra, bị cáo đã thừa nhận hành vi và thừa nhận các kết luận giám định, không có ý
kiến hoặc khiếu nại các Kết luận giám định nêu trên. Lời khai của bị cáo trong
quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo
K, đại diện bị hại, những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác
trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử
đủ căn cứ kết luận:
Dương Văn T Trần Văn K lái xe của Công ty TNHH H7, địa chỉ
Cụm C , phường S, tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian từ ngày 19/5/2022 đến
ngày 27/9/2024, Dương Văn T đã trộm cắp dầu Diesel DO 0,05S- II, từ xe ô
BKS 20C - 235.50 10.678 lít, giá trị tài sản 230.161.680 đồng. Từ ngày
10/8/2022 đến 28/9/2024, Trần Văn K đã trộm cắp dầu Diesel DO 0,05S- II, từ xe
ô BKS 20C - 147.76 5.659 lít, giá trị tài sản 118.509.788 đồng, thì bị
phát hiện và thu giữ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo T rất nghiêm trọng; hành vi phạm tội của
Trần Văn K nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở
hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, trong vụ án này là
7
Công ty TNHH H7, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương
nên cần xử lý nghiêm minh.
Hành vi của bị cáo Dương Văn T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo
quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần
Văn K đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều
173 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp thẩm xét xcác bị cáo đúng người, đúng
tội, không oan.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Dương Văn T thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho các
bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể: Bị cáo đã thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy
nhiên, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Do đó, mức hình phạt Tòa án cấp thẩm
áp dụng phù hợp. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không tài liệu
chứng cứ mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo
nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại
phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
được chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa không căn cứ để chấp nhận.
[5]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu
án phí hình sự sơ thẩm.
[7]. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T; ginguyên Bản án hình
sự thẩm số 71/2026/HS-ST ngày 21/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Thái Nguyên.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Dương Văn T 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự phúc thẩm.
8
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh;
- TAND khu vực 2 - Thái Nguyên;
- VKSND khu vực 2 - Thái Nguyên;
- THADS tỉnh;
- Phòng THADS khu vực 2 - Thái Nguyên;
- Phòng THAHS - Công an tỉnh;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Doanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 113/2026/HS-PT Bản án số 113/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 113/2026/HS-PT Bản án số 113/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất