Bản án số 109/2026/HS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 109/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 109/2026/HS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 109/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trần Văn D - Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 109/2026/HS-PT Bản án số 109/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 109/2026/HS-PT Bản án số 109/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
----------
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------------------
Bản án số: 109/2026/HS-PT
Ngày 10 tháng 8 năm 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Bà Lý Thị Thuý.
- Thư phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2026/TLPT-
HS ngày 24/7/2026 do kháng cáo của bị cáo Trần Văn D đối với bản án hình
sự sơ thẩm số 134/2026/HS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2
- Thái Nguyên; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2026/QĐXXPT-HS
ngày 29/7/2026.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn D (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1989; Số CCCD:
************; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đ (nay TDP P), phường
T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình đ văn hoá: 12/12; dân tộc:
Kinh; giới nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng,
chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn M Trần Thị M1; vợ
Ngô Thị H; 03 con chung (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh
năm 2024); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 10/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân
dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2- Thái
Nguyên) xử phạt 12 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 23
tháng 16 ngày về tội “Đánh bạc” (bị cáo đã chấp hành xong Bản án ngày
16/01/2015).
Bị cáo tại ngoại, trước đó không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, được áp
dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc T,
Luật Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật tỉnh T; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ C
đường Z, tổ E phường P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
2
* Người bị hại: Chị Đỗ Thị Bích L, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ dân phố C,
phường G, tỉnh Thái Nguyên (đã chết).
Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Anh Minh N, sinh năm 1975 (là
chồng của bị hại); Tổ dân phố C, phường G, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
* Ngoài ra còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quang
T1 không có kháng cáo. Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn D (có giấy phép lái xe hạng C) làm lái xe thuê cho Công ty trách
nhiệm hữu hạn V. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/12/2025, D điều khiển xe ô tô
tải nhãn hiệu CNHTC, biển kiểm soát: 20B-143.73 (có đăng kiểm đến ngày
19/3/2026; trọng tải 13100kg) đi trên đường Q (cũ), hướng Thái Nguyên -
Nội. Khi đi đến khu vực gần nút giao cao tốc Sông C, cách lối mở vào cao tốc
khoảng 50m thuộc tổ dân phố S, phường B, tỉnh Thái Nguyên, D quan sát thấy
có biển cảnh báo nguy hiểm đường không bằng phẳng thì D điều khiển xe đi với
vận tốc khoảng 20-30km/h, đồng thời bật đèn xi nhan bên phải để rẽ vào lối mở
lên cao tốc. Khi đi đến đoạn bắt đầu vào lối mở, D tập trung chú ý quan sát hai
bên sườn xe để rẽ phải, không chú ý quan sát phía trước, không nhìn thấy xe
nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát: 20L8-7243 do chị Đỗ Thị Bích L
điều khiển đang đi phía trước cùng chiều nên phần đầu xe ô do D điều khiển
đã đâm va vào phần đuôi xe mô tô do chL điều khiển. Sau khi đâm va, D dừng
xe xuống xe tthấy xe của chị L nằm đổ nghiêng bên phải trong gầm
đầu xe ô tải, còn chL nằm sát giàn bánh lốp xe thứ ba bên phải (hướng từ
đầu xe về cuối xe). Lúc này, ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1973, trú tại: Tổ
dân phố S, phường B, tỉnh Thái Nguyên) - làm nghề lái xe ôm nhìn thấy vụ tai
nạn nên đi từ gầm cầu vượt cao tốc đến thì D nói với ông T2: chú ơi chú xem
hộ cháu xem bị làm sao không” thì ông T2 đi đến vị tchị L đang nằm để
quan sát nói với D là: chết rồi, không cứu được”. Lúc này, do hoảng sợ nên
D bỏ lại xe ô tại hiện trường rồi đi bộ sang bên đường, đồng thời gọi điện
thoại cho anh Nguyễn Xuân T3 bố đẻ là ông Trần Văn M thông báo việc xảy
ra tai nạn nhờ anh T3 ông M đến hiện trường để giải quyết. Đến khoảng 13
giờ cùng ngày, D đến Công an phường B, tỉnh Thái nguyên trình diện khai
báo sự việc.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn:
Nơi xảy ra vụ tai nạn tại Km54+100 đường Q, thuộc tổ n phố S,
phường B, tỉnh Thái Nguyên. Mặt đường được trải nhựa asphalt, thẳng phẳng
theo hướng Thái Nguyên đi Nội, trên mặt đường vạch sơn màu trắng đứt
đoạn phân chia đường thành nhiều đường xe chạy. Khu vực xảy ra tai nạn tại
khu vực ngã ba rộng 16m, bên phải đường rẽ đi Khu Công nghiệp S, điểm
mở của toàn bộ hai chiều đường độ rộng 31m. Tại hiện trường gần khu vực
xảy ra vụ tai nạn giao thông có biển báo W221b.
3
Quá tnh khám nghiệm lấy mép đường phải hướng Thái Nguyên - Hà Nội
làm điểm chuẩn, lấy cột kilomet hiệu H1/54 tại vị trí giữa dải phân cách làm
điểm mốc cố định để đo đến các vị trí phương tiện, dấu vết trên hiện trường.
Vị trí số 1: Vùng nhựa vỡ, ch thước (1,25 x 1,25)m tại mặt đường nhựa
asphalt. Đo vuông góc vào mép đường chuẩn số đo 5,80m, đo vuông góc
từ tâm vùng (1) đến đầu vết (2) là 0,05m.
Vị trí số 2: Vết mài trượt trên mặt đường chiều hướng Thái Nguyên đi
Nội, kích thước (12,95 x 0,01)m. Đo vuông góc từ tâm (2) đến mép đường
chuẩn 6,40m. Điểm cuối vết 2 tại vị trí để chân bên phải xe biển
kiểm soát 20L8-7243. Đo vuông góc từ đầu vết (2) đến tâm vùng (3) là 8,50m.
Vị trí số 3: Vùng tổ chức thể người, ch thước (0,60 x 0,20)m. Đo
vuông góc từ tâm vùng 3 đến mép đường chuẩn là 5,80m. Đo vuông góc khoảng
cách từ tâm vùng (3) đến tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô tải biển kiểm soát
20B-143.73 là 2,90m.
Vị trí số 4: Xe ô tải biển kiểm soát 20B-143.73 đỗ trên mặt đường nhựa,
đầu xe hướng chếch lối rẽ vào Khu Công nghiệp S, đuôi xe quay hướng Thái
Nguyên. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước, bánh sau bên phải lần lượt đến
mép đường chuẩn là 5,20m 5,60m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh sau bên
phải đến đầu nạn nhân là 1,20m.
Vị tsố 5: Vị ttử thi Đỗ Thị Bích L đang nằm tư thế ngửa trên mặt
đường nhựa, đầu quay hướng tim đường, chân quay hướng mép đường chuẩn.
Đo vuông góc từ điểm đầu tử thi vào mép đường chuẩn là 5,40m. Đo vuông góc
khoảng cách từ đầu tử thi đến tâm trục bánh trước phải xe ô tô là 2,90m.
Vị trí số 6: Xe biển kiểm soát 20L8-7243 đổ nghiêng sang phải nằm
trên mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng tim đường, đuôi xe quay hướng mép
đường chuẩn. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước, tâm trục bánh sau của xe
mô tô vào mép đường chuẩn lần lượt là 6,0m và 5,80m.
Đo vuông góc từ đầu vùng (1) đến cột mốc H1/54 là 31,60m.
* Kết quả khám nghiệm các phương tiện có liên quan:
- Xe ô tải biển kiểm soát 20B-143.73: Vị trí ba đờ sốc phía trước (phía
dưới vị tgắn biển kiểm soát phía trước) dấu vết bong tróc, mài trượt kim
loại, sơn màu bạc, xanh bám dính vật chất màu đỏ, trên diện (55 x 02)cm,
điểm thấp nhất cách mặt đất 61,5cm. Ốp kim loại phía dưới động dấu vết
mài trượt mất bụi, bám dính vật chất màu đen, kích thước (20 x 6)cm. Vị trí mặt
dưới ba dọc bên phải dấu vết mài trượt kim loại, mất bụi, kích thước (14 x
2,5)cm. Vị trí mặt trong kính chắn gió phía trước 01 camera hành trình bên
trong có 01 thẻ nhớ, dung lượng 32Gb. Tại mặt lăn bánh ngoài, má bánh lốp thứ
hai trục ba bên phải bám dính tổ chức cơ thể người và vật chất màu nâu đỏ, nghi
máu. Kiểm tra hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, đèn
còi, lốp, gương, gạt nước còn hiệu lực.
- Xe mô tô biển kiểm soát 20L8-7243: Gương chiếu hậu phía trước bên trái
bị lệch, chiều hướng từ sau về trước. Gương chiếu hậu bên phải bị vỡ phần
mặt gương, gáo gương bằng nhựa dấu vết trượt xước từ trái qua phải trên
diện (5,5 x 2)cm. Tay nắm cao su phía trước bên phải bị mài trượt cao su, kích
thước (2,2 x 1,5)cm. Tay phanh phía trước bên phải mài trượt kim loại, kích
4
thước (16,5x0,5)cm. Mặt nạ, ốp nhựa bảo vệ đèn tín hiệu bên phải dấu vết
mài trượt nhựa, kích thước (4,5 x 7)cm. Bàn đạp chân phanh bên phải có dấu vết
móp méo, mài trượt kim loại, kích thước (2,2 x 1,7)cm. Bàn để chân phía trước
bên phải cong vênh, chiều hướng từ trước về sau, đầu bàn để chân vết màu
trượt cao su, mài trượt kim loại, kích thước (3x2,5)cm, bám dính bùn đất. Ốp
bảo vệ ống xả phía sau có dấu vết trượt xước, móp méo kim loại, chiều hướng từ
trước về sau, ttrên xuống dưới, kích thước (5,5 x 4x 5)cm. Tay xách phía sau
bên phải vết mài trượt kim loại, chiều hướng từ trước vsau, từ trên xuống
dưới, kích thước (5,5 x 2)cm. Ốp nhựa đèn tín hiệu phía sau bị bung bật, nứt vỡ,
kích thước (35 x 25)cm. Chắn bùn phía sau bị cong vênh, vỡ nhựa, chiều hướng
từ sau về trước, từ trái qua phải. Kiểm tra hệ thống kỹ thuật an toàn phương tiện:
Đèn tín hiệu phía sau bên phải, đèn phanh không hoạt động. Hệ thống phanh còn
hiệu lực.
* Kết quả giám định:
- Tại Kết luận giám định tthi số 265/KLGĐTT-KTHS ngày 21/01/2026
của Phòng K Công an tỉnh T đối với nguyên nhân chết của Đỗ Thị Bích L, kết
luận: Đỗ Thị Bích L bị đa chấn thương: Chấn thương ngực kín, gãy sập các
xương lồng ngực, dập phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực; chấn thương sọ
não, vỡ xương hộp sọ, dập não dẫn đến chết.
- Tại Kết luận giám định độc chất số 162/KLGĐĐC-TTPY ngày
29/12/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Trong mẫu máu của Đỗ Thị
Bích L gửi đến giám định không tìm thấy cồn và ma túy.
* Kết luận định giá tài sản:
- Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2026 của
Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự phường B, tỉnh Thái
Nguyên, kết luận: Giá trị thiệt hại do hỏng gây nên đối với xe nhãn
hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 20L8-7243, đã qua sử dụng, sản xuất năm
2007, dung tích xilanh 110cm
3
, bị hư hỏng là 1.487.000 đồng.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy đối với bị cáo: Âm tính.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện,
khám nghiệm tử thi, lời khai của Trần Văn D cùng các tài liệu, chứng cứ khác có
trong hồ vụ án đủ sở xác định lỗi trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông
nêu trên do Trần Văn D điều khiển xe ô không chú ý quan sát, không giữ
khoảng cách an toàn với phương tiện đi phía trước cùng chiều, vi phạm khoản 1
khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, quy
định như sau:
“Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy
định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường
hoặc phần đường…
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan
sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau
đây:
...b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...”.
5
* Về trách nhiệm dân sự: Trước khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đại diện hợp
pháp của bị hại đã tự nguyện thoả thuận bị cáo trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho gia đình bị hại với tổng số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Đại
diện hợp pháp của bị hại là anh Minh N đã nhận đủ số tiền, không yêu cầu gì
thêm.
* Vật chứng vụ án thu giữ: 01 (một) bì niêm phong số NS1 24099402
bên trong 01 (một) mảnh nhựa vỡ kích thước (15x13cm), bám dính vật chất
màu xám; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu D1 bên trong có 01 (một) điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro u xanh, đã qua sử dụng, gắn sim số
0964.419.111; 01 (một) niêm phong hiệu D bên trong 01 (một) giấy
phép lái xe của Trần Văn D cho bị cáo D; 01 (một) niêm phong hiệu C1
bên trong 01 (một) thẻ nhớ dung lượng 32Gb ghi lại camera hành trình xe ô
tô.
Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự thẩm số 134/2026/HS-ST ngày
19/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết định: Tuyên
bố bị cáo Trần Văn D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1
khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bcáo Trần Văn D 20
(Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt
đi chấp hành án.18 i tám) tháng tù nhưg cho.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn D.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tnguyện thoả thuận giữa bị cáo
đại diện hợp pháp của bị hại về việc bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000đ
(hai trăm triệu đồng). Bị cáo D anh Minh N đã thực hiện xong việc bồi
thường trước phiên toà.
Ngoài ra bản án còn quyết định: Lệnh cấm đi khỏi nơi trú, về xử vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/7/2026 bị cáo Trần Văn D kháng cáo xin được giảm nhẹ hình
phạt.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình thừa nhận Bản án
thẩm xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, không oan nhưng bị cáo cho rằng
mức hình phạt mà Toà án sơ thẩm đã tuyên là có phần nghiêm khắc. Bị cáo D đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất của vụ án, hoàn cảnh gia đình của bị
cáo rất khó khăn, vợ bị cáo không có việc làm, 03 con còn nhỏ để xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án.
Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề
nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo
của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về tội danh và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ
nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo, xphạt bị cáo 2 (Hai mươi) tháng
6
về “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” căn cứ, đúng
pháp luật.
Ngoài những tình tiết giảm nhẹ cấp thẩm đã xem xét, áp dụng, tại cấp
phúc thẩm bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số
tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí theo quyết định bản án sơ thẩm; tại phiên toà đại diện hợp
pháp của bị hại xác nhận sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục bồi thường thêm
số tiền 10 triệu đồng, đây tình tiết mới thể hiện sự tự giác chấp hành quyết
định của bản án sơ thẩm; ngoài ra bị cáo còn xuất trình tài liệu thể hiện ông T4
Đạo Diễn ông ngoại của bị cáo người công với Nhà nước được tặng
thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên
căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo D. Đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,
chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn D, sửa bản án hình sự thẩm số
134/2026/HS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2- Thái Nguyên.
Ghi nhận bị cáo Trần Văn D đã tự nguyễn hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại
số tiền 10.000.00(Mười triều đồng) nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn
đồng) là tiền án phí theo quyết định bản án sơ thẩm.
Phần tranh luận:
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo D: Nhất trí về tội danh điều
luật áp dụng mà Kiểm sát viên đã nêu trong Bản luận tội. Tuy nhiên đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét ngoài những tình tiết giảm nhđã nêu bị cáo còn được
hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ khác: sau khi xét xử thẩm bị cáo đã bồi
thường hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 10 triệu đồng nộp án phí
thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm; ngoài ra bị cáo là lao động chính trong
gia đình, hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, gia đình bị cáo
người có công với Nhà nước. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng
Điều 39 Bộ luật hình sxử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Trường
hợp không được hình phạt cải tạo không giam giữ thì đề nghị Hội đồng xét xử
áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt.
Bị cáo D nhất tvới quan điểm của đại diện Viện kiểm sát ý kiến của
luật sư, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện gia đình bị hại ông Lê Minh N khẩn thiết đề nghị: Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên đối đáp: Vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, đề nghị Hội
đồng xem xét quyết định.
Bị cáo, Luật bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại: Không
có tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
7
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra,
truy tố, xét xử, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn D được thực hiện
trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời
khai của bị cáo, người làm chứng tại quan điều tra tại phiên tòa thẩm,
phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ sở để kết
luận:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/12/2025, tại Km54+150 Quốc lộ C (cũ)
thuộc tổ dân phố S, phường B, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn D (có giấy phép lái
xe hạng C theo quy định) điều khiển xe ô tải nhãn hiệu CNHTC, màu sơn:
xanh, biển kiểm soát: 20B-143.73, do không c ý quan sát và không giữ
khoảng cách an toàn nên phần đầu xe của D đã đâm va vào phần đuôi xe
nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn: đen bạc, biển kiểm soát: 20L8-7243 do chị
Đỗ Thị Bích L điều khiển đang đi phía trước cùng chiều. Hậu quả: chị L tử vong
và thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô là 1.487.000 đồng.
Nguyên nhân vụ tai nạn giao thông do Trần Văn D điều khiển xe ô
không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với phương tiện đi phía
trước cùng chiều, vi phạm khoản 1 khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn
giao thông đường bộ năm 2024, quy định như sau:
Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy
định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường
hoặc phần đường…
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan
sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau
đây:
...b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...”.
Hành vi của Trần Văn D đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bản án thẩm xét xử bị cáo Trần Văn D về tội danh điều khoản như trên
có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn D xin được giảm nhẹ hình phạt, Hội
đồng xét xử thấy rằng:
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo
nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm tới an toàn công cộng, gây hậu quả
nghiêm trọng, làm thiệt hại tới tính mạng của người khác; Mặc bị cáo phạm
tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo có nhân thân xấu (năm
2013 bị xét xử 12 tháng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, lần phạm tội
8
này thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều kiện xem xét cho bcáo
được hưởng án treo.
Khi quyết định hình phạt Tòa cấp thẩm đã đánh giá tính chất mức đ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ nhân thân người phạm tội,
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải vhành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ theo yêu cầu
của đại diện gia đình bị hại. Nhưng xét thấy vẫn cần thiết phải cách ly bcáo D
ra khỏi đời sống hội một thời gian phợp. Tuy nhiên Tòa cấp sơ thẩm
quyết định hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù cho bị cáo D có phần nghiêm khắc.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục hỗ trợ thêm số tiền 10 triệu đồng cho gia
đình bị hại, tại phiên toà đại diện gia đình bị hại tiếp tục khẩn thiết đnghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; ngoài ra bị cáo còn xuất trình tài liệu
thể hiện ông T4 Đạo Diễn ông ngoại của bị cáo người công với Nhà
nước được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang Biên lai nộp số tiền
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí theo quyết định bản án thẩm,
đây những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự, xét cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Trần Văn D.
vậy, trên sở phân tích, nhận định v các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, thái độ khai báo, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật
của bị cáo, các tình tiết mới tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo
nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử
phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể hiện chính
sách khoan hồng của pháp luật, nhưng vẫn đảm bảo đủ để răn đe, giáo dục bị
cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo D không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn D; sửa Bản án
hình sự thẩm số 134/2026/HS-ST ngày 19/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 2- Thái Nguyên về hình phạt.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, 299, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xphạt bị cáo Trần Văn D 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
9
4. Các quyết định của bản án thẩm không kháng cáo kháng nghị đã
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- Công an tỉnh Thái Nguyên;
- Sở pháp tỉnh Thái
Nguyên;
- VKSND Khu vực 2;
- Phòng THADS Khu vực 2;
- Bị cáo;
- Những người tham gia t
tụng khác;
- Hồ sơ THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 109/2026/HS-PT Bản án số 109/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 109/2026/HS-PT Bản án số 109/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất