Bản án số 117/2026/HS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 117/2026/HS-PT ngày 20/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 117/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Văn Ngọc T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH GIA LAI
CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
Bn án s: 117/2026/HS-PT
Ngày: 20 - 8 - 2026
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH GIA LAI
- Thành phn Hi đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Nguyn Th Kim Hng.
Các Thm phán: Ông Phm Duy Lam.
Ông Nguyn Tiến S.
- Thư phiên tòa: Hunh Th Khánh Nhi - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Đỗ
Th Hoà - Kim sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét x
công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 170/2026/TLPT-HS ngày 29 tháng
7 năm 2026 đối với bị cáo Văn Ngọc T do kháng cáo của bị cáo đối với Bản
án hình sự thẩm số 67/2026/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Văn Ngọc T, sinh ngày 24/9/2001 tại tỉnh Gia Lai; số CCCD:
************; nơi cư trú: Khu phố L, phường H, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái
xe; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông Văn Ngọc C, sinh năm 1973 và Lê Thị T1, sinh năm
1978; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo báp dụng biện pháp ngăn
chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/9/2025, Văn Ngọc T điều khiển xe ô tải
biển số 77H-023.18 chở thức ăn cho heo dạng bao t Khu công nghiệp N về
phường H, tỉnh Gia Lai. Văn Ngọc T điều khiển xe đi trên tuyến cao tốc Q - H
theo hướng N - B. Tại thời điểm này, tuyến cao tốc đã thông xe kỹ thuật, đang
tiếp tục thi công, chưa thông xe chính thức và chưa đưa vào sử dụng. Kết quả xét
nghiệm xác định Văn Ngọc T không nồng độ cồn trong máu; kết quả xét
nghiệm ma túy trong nước tiểu âm tính. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày,
2
khi đi đến đoạn đường thuộc thôn T, P, tỉnh Gia Lai (đoạn đường này trước
đây đường liên thôn đi qua, khi thi công đường cao tốc cắt qua, theo thiết kế
khu vực này cầu vượt qua cao tốc, nhưng tại thời điểm xảy ra tai nạn chưa được
thi công hoàn thiện nên người dân trong khu vực vẫn đi qua bằng đoạn đường nêu
trên). Văn Ngọc T phát hiện ông Phan Đình Q điều khiển xe mô tô biển số 77AC-
089.04 chở theo cháu nội là Phan Trần Nhật D, di chuyển qua đường cao tốc theo
hướng T Đông cách 100m. Khi phát hiện xe mô của ông Phan Đình Q qua
đường, xe ô tải của T đang đi làn đường thứ 2 tính từ dải phân cách. Văn
Ngọc T cho rằng ông Phan Đình Q sẽ dừng lại nên điều khiển xe chuyển sang làn
đường thứ 3 tính từ dải phân cách, đồng thời bóp còi cảnh báo, phanh tiếp
tục đi về phía trước với vận tốc khoảng 72 km/h. Khi đến gần lối mở, Văn Ngọc
T thấy ông Phan Đình Q vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô qua đường. Khi xe mô
của ông Q đi đến làn đường thứ 3 tính từ dải phân cách, thuộc phần đường dành
cho phương tiện lưu thông theo hướng N - B, Văn Ngọc T điều khiển xe ô tải
lách qua bên trái để tránh. Do khoảng cách giữa hai phương tiện quá gần, vùng
đầu phía bên trái của xe ô tải biển số 77H-023.18 va chạm với vùng thân bên
phải của xe biển số 77AC-089.04. Sau va chạm, xe ô tải biển số 77H-
023.18 đẩy xe mô tô biển số 77AC- 089.04 về phía trước 36,35 mét rồi dừng trên
làn đường thứ nhất của phần đường dành cho phương tiện lưu thông theo hướng
N - Bắc. Hậu quả: ông Phan Đình Q chết tại chỗ, cháu Phan Trần Nhật D bị thương
tích, xe mô tô bị hư hỏng.
Theo Bản kết luận giám định tử thi số 86A/KLGĐTT-PYGL ngày
01/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh G, nguyên nhân chết của ông Phan Đình
Q suy hấp, suy tuần hoàn do chấn thương gây đa xương cột sống, vỡ tạng,
tràn máu ổ bụng.
Theo Bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số
19A/KLTTCT-PYGL ngày 30/01/2026 của Trung tâm Pháp y tỉnh G, tổng tỷ lệ
tổn thương cơ thể của cháu Phan Trần Nhật D tại thời điểm giám định là 32%.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2026 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã P xác định tổng giá trị thiệt hại tài sản là
16.819.000 đồng. Trong đó, thiệt hại xe ô tô tải biển số 77H-023.18 là 5.917.000
đồng; thiệt hại xe mô tô biển số 77AC-089.04 là 10.902.000 đồng.
Vật chứng: quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ô tải biển s77H-023.18, 01
Giấy chứng nhận đăng xe ô đứng tên Văn Ngọc C, 01 Giấy chứng nhận kiểm
định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô,
01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Văn Ngọc T; 01 xe biển số 77AC-
089.04, 01 Giấy chứng nhận đăng tô, xe máy đứng tên Phan Đình Q, 01
Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Đình Q. Các đồ vật, tài liệu nêu trên đã
được quan điều tra xbằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu, người quản
lý hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Văn Ngọc T đã bồi thường cho gia đình ông
Phan Đình Q số tiền 200.000.000 đồng bồi thường chi phí khám chữa bệnh cho
cháu Phan Trần Nhật D số tiền 80.000.000 đồng. Gia đình ông Phan Đình Q
cháu Phan Trần Nhật D đã đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường dân sự
khác và xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Văn Ngọc T.
3
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2026/HS-ST ngày 23/6/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Gia Lai đã quyết định:
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Văn Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản
2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Văn Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án thẩm n quyết định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại,
nghĩa vụ chịu án phí quyền kháng cáo của bị cáo những người tham gia t
tụng.
3. Kháng cáo của bị cáo: Ngày 01/7/2026 bị cáo Văn Ngọc T kháng cáo xin
được hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Văn Ngọc T ginguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, khai
bổ sung tài liệu chứng minh gia đình bị o ông nội, bà nội người công
cách mạng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Ngọc T. Sửa Bản án hình sự
sơ thẩm số 67/2026/HS-ST ngày 23/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Gia
Lai; Áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 12 tháng nhưng
cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian ththách 24 tháng tính từ ngày tuyên án
phúc thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan
người tiến hành tố tụng cấp thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật
định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo bản án thẩm, bị cáo Văn Ngọc
T giấy phép lái xe theo quy định, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/9/2025, bị
cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 77H-023.18 lưu thông trên tuyến cao tốc Q - H
khi tuyến đường chưa được thông xe chính thức, chưa đưa vào sử dụng. Khi phát
hiện xe mô tô do ông Phan Đình Q điều khiển chở cháu Phan Trần Nhật D đi qua
đường cao tốc, bị cáo đã chủ quan cho rằng người điều khiển xe sdừng lại
nhường đường cho mình nên không giảm tốc độ hoặc dừng xe để bảo đảm an
toàn. Khi khoảng cách giữa hai phương tiện quá gần, bị cáo xử lý tránh nhưng
không kịp, gây ra va chạm. Hậu quả ông Phan Đình Q chết tại chỗ, cháu Phan
Trần Nhật D bị thương tích 32%. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai đã
4
xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo
điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác nhận Tòa án cấp thẩm xử đúng tội, bị
cáo không kháng cáo phần này. Do đó phần tội danh điều luật áp dụng đã
hiệu lực pháp luật, cấp phúc thẩm không xem xét lại.
[3] Về kháng cáo của bị cáo Văn Ngọc T:
Cùng với đơn kháng cáo, bị cáo nộp tài liệu thể hiện bị cáo có ông, bà nội
người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang.
Đây là tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn phúc thẩm nên bị cáo được áp dụng
thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo nhân thân tốt, phạm tội do lỗi ý, nhiều tình tiết giảm nhẹ,
không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã tỏ rõ ăn năn hối cải,
tích cực bồi thường toàn bộ cho bị hại, bị hại có một phần lỗi, đại diện bị hại xin
bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng,
việc cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã
hội. Như vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát snên Hội đồng xét xử
chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản
1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình
phạt, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo; không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Ngọc T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm
số: 67/2026/HS-ST ngày 23/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Gia Lai về
phần hình phạt.
Xử phạt bị cáo Văn Ngọc T 12 (Mười hai) tháng nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Văn Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Gia Lai giám
sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo trách nhiệm phối
hợp với Ủy ban nhân dân phường H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định
của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị
5
cáo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp
thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt
của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều
56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo quy định tại Điều
68, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo Văn Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác ca bản án thm không kháng cáo; không b
kháng ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
4. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tun án./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNVCS CA tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh Gia Lai;
- Tòa án nhân dân khu vực 3 Gia Lai;
- Viện kiểm sát nn n khu vực 3, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 3, tỉnh Gia Lai;
- Phòng TTKT&THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Kim Hồng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2026/HS-PT Bản án số 117/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất