Bản án số 1028/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1028/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1028/2026/DS-PT ngày 11/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1028/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1028/2026/DS-PT Bản án số 1028/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1028/2026/DS-PT Bản án số 1028/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1028/2026/DS-PT
Ngày 11-8-2026
V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Thu Trang
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Thinh
Bà Võ Thị Hồng Mai
- Thư phiên tòa: Ông Thanh Phúc - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án thụ số 554/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 7 năm
2026 về “Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản”.
Do Bản án dân sthẩm s93/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 387/2026/QĐ-PT ngày 29
tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyn Th L H, sinh năm 1959; cư trú ti: s B đường C,
phưng L, tnh Tây Ninh, có mt.
- Bị đơn: Chị Thị Thanh L, sinh năm 1990; trú tại: Số C Đ, khu phố T,
phường L, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Thị Mỹ L1, sinh năm 1975;
trú tại: Số nhà C, Đường N, ấp R, T, tỉnh Tây Ninh, người đại diện theo ủy
quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 10 tháng 8 năm 2026), có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T -
Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lưu Hoài N, sinh năm 1990; trú tại: Số B đường C, phường, Long
An, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
2
2. Ông Lưu Văn Q, sinh năm 1959;
Người đại diện hợp pháp của ông Q: bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1959, là
người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 16 tháng 01 năm 2026),
mặt.
Cùng cư trú tại: số B đường C, phường L, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2025 trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ H trình bày:
mẹ của anh Lưu Hoài N. Vào tháng 10 năm 2023, tổ chức lễ đính
hôn cho anh N chị Thị Thanh L, trong lễ đính hôn có cho anh N chị L
một số nữ trang, gồm:
- 01 đôi bông tai kim cương 4ly4 trị giá 64.000.000 đồng;
- 01 đôi lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng 24k trị giá 57.560.000 đồng;
- 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 24k trị giá 50.379.000 đồng.
Mục đích H cho số nữ trang này để anh N chị L bsung vốn làm ăn,
khi đính hôn hai bên gia đình chưa thống nhất ngày tổ chức lễ cưới. Sau khi đính
hôn, anh N và chị L thường xuyên mâu thuẫn, tính tình quan điểm sống không
hòa hợp nên anh N chị L không thể tiến tới hôn nhân. Nay bà khởi kiện yêu cầu
chị L trả lại cho bà toàn bộ số nữ trang đã cho nêu trên.
Bị đơn chị Võ Thị Thanh L trình bày:
Chị anh N tổ chức lđính hôn với sự đồng ý của gia đình hai bên. Tại
buổi lễ, anh N đã cho riêng chị một số nữ trang gồm: 01 đôi bông tai, 01 đôi lắc
chuỗi bi và 01 dây chuyền kết hoa; chị không biết rõ giá trị thực tế.
Theo chị, việc hai bên không thể tiến tới hôn nhân được do xuất phát t
việc anh N thiếu sự quan tâm, không tôn trọng mối quan hệ tự ý hủy hôn. Việc
này đã gây ảnh hưởng lớn đến tinh thần, danh dự của chị ng gia đình. Sau lễ
đính hôn, chị L nghỉ việc và chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Số nữ
trang trên đã được chị bán để trang trải chi phí trong thời gian này. vậy, chị
không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Lưu Hoài N trình bày: Do quen
biết được sự đồng ý của gia đình hai bên nên anh chị L tổ chức lễ đính
hôn. Tại lễ đính hôn, gia đình anh có tặng cho chị L số nữ trang như mẹ của anh là
H đã trình bày. Tuy nhiên, sau khi đính hôn thì anh chị L đã xảy ra nhiều
mâu thuẫn nên anh chị không thể tổ chức lễ cưới. Hiện số nữ trang này, chị L đang
giữ nên anh thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại Bản án dân sự thẩm số 93/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh đã căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều
39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều
5, Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
3
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Lệ H. Buộc chị
Võ Thị Thanh L phải trả bà Nguyễn Thị Lệ H 10 (mười) chỉ vàng 985 và 8,49 (tám
phẩy bốn mươi chín) chỉ vàng 9999.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyễn Thị Lệ H về việc buộc
chị Võ Thị Thanh L trả 01 đôi bông tai kim cương 4ly4.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ án phí, quyền kháng cáo
nghĩa vụ thi hành án theo quy định.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, chị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xét xử lại theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị L trình bày: Nguyên đơn
không chứng minh được việc tặng cho tài sản có điều kiện theo quy định tại khoản
3 Điều 462 Bộ luật Dân sự. Khi H giao tài sản cho chị L thông qua anh N, các
bên không thỏa thuận điều kiện kèm theo; số nữ trang được trao nhằm để chúc
phúc theo phong tục cưới hỏi. vậy, đây tặng cho tài sản thông thường
hiệu lực từ thời điểm tài sản được chuyển giao. Do đó, không có căn cứ chấp nhận
yêu cầu đòi lại tài sản của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát cho rằng:
Về chấp hành pháp luật: đơn kháng cáo của chị Võ Thị Thanh L trong thời hạn quy
định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kể từ khi thụ vụ
án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự,
những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung kháng cáo: Cấp thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, buộc chị L trả cho bà H 10 chỉ vàng 985 và 8,49 chỉ vàng 9999 là
căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Thị Thanh L được làm
trong thời hạn luật định, hình thức nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại
Điều 272 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân snên được xem xét giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà H khởi kiện yêu cầu chị L trả lại số nữ trang đã tặng cho chị L trong
ngày đính hôn giữa chị L anh N, gồm 01 đôi bông tai kim cương 4ly4; 01 đôi
4
lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng 24k; 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 24k. Chị L
không đồng ý cho rằng không nhận số nữ trang từ H mà anh N người trực
tiếp tặng cho chị L và bà H không có quyền đòi lại.
[2.2] Theo tài liệu, chứng cứ do H cung cấp, 02 hóa đơn mua vàng tại
tiệm V không ghi tên người mua; phiếu mua kim cương tại cửa hàng K ghi người
mua là anh N. Tuy nhiên, các chứng từ chuyển khoản thể hiện bà H đã chuyển một
phần tiền để mua số trang sức này; anh N cũng thừa nhận đây tài sản của H
và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H. Lời khai trên phù hợp với hình ảnh tại lễ
đính hôn, lời khai của người làm chứng phong tục địa phương về việc gia đình
nhà trai chuẩn bị trang sức, chú rể trực tiếp trao cho dâu trong lễ hỏi. Do đó,
cơ sở xác định số trang sức tranh chấp có nguồn gốc là tài sản của bà H.
Chị L thừa nhận đã nhận 01 đôi bông tai, 01 đôi lắc chuỗi bi 01 dây
chuyền kết hoa nhưng không xác định được trọng lượng, trị giá. Căn cứ các hóa
đơn mua vàng, kim cương do H cung cấp, sở xác định số trang sức H
trao tại lễ đính hôn gồm: 01 đôi bông tai kim cương 4ly4; 01 đôi lắc chuỗi bi 10
chỉ vàng 985; 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 9999.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chị L trả lại toàn bộ số nữ trang đã tặng cho
chị L trong ngày đính hôn, gồm: 01 đôi bông tai kim cương 4ly4; 01 đôi lắc chuỗi
bi 10 chỉ vàng 24K 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 24K. Tòa án cấp
thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc chị L trả cho H 01 đôi lắc
chuỗi bi 01 dây chuyền kết hoa. H không kháng cáo; chị L kháng cáo không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm
chỉ xem xét phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo, gồm 01 đôi lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng
985 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 9999; phần yêu cầu khởi kiện không
được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận không kháng cáo, kháng nghị không
thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của chị L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Việc gia đình H trao ntrang cho chị L tại lễ đính hôn tuy phù hợp
với phong tục cưới hỏi một số địa phương, nhưng không căn cứ xác định tồn
tại một quy tắc xử sự nội dung ràng, được hình thành, thừa nhận áp dụng
rộng rãi trong cộng đồng, theo đó nữ trang đã trao tại lễ đính hôn phải được hoàn
trả nếu đôi nam nữ không tiến tới hôn nhân. Do đó, không sở áp dụng tập
quán theo Điều 5 Bộ luật Dân sự để xác định chị L nghĩa vụ hoàn trả số nữ
trang đã nhận. Quyền, nghĩa vụ của các bên đối với số nữ trang này phải được xem
xét trên sở thỏa thuận thực tế, phương thức giao nhận tài sản các quy định
của Bộ luật Dân sự về tặng cho tài sản.
[4.2] Theo Điều 457, khoản 1 Điều 458 Bộ luật Dân sự, đối với động sản
không phải đăng quyền sở hữu, hợp đồng tặng cho hiệu lực kể tthời điểm
bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp thỏa thuận khác. Trong vụ án
này, H đã giao số nữ trang tại lễ đính hôn, chị L đã nhận quản tài sản; do
5
đó, việc tặng cho đã hoàn thành. H cho rằng việc tặng nữ trang nhằm đanh N
chị L tạo lập cuộc sống sau khi kết hôn. Tuy nhiên, về pháp lý, mục đích hay
mong muốn chủ quan của bên tặng cho không đồng nhất với điều kiện hiệu lực
của hợp đồng tặng cho tài sản.
[4.3] Để xác định một giao dịch tặng cho tài sản điều kiện theo Điều
462 Bộ luật Dân sự năm 2015 phải căn cứ chứng minh khi xác lập giao dịch,
bên tặng cho đã đặt ra một nghĩa vụ cụ thể mà bên được tặng cho phải thực hiện
trước hoặc sau khi nhận tài sản. Trong vụ án này, ngoài lời trình bày của H về
mục đích tặng cho, hồ không thể hiện khi giao nhận nữ trang, các bên thỏa
thuận điều kiện bắt buộc chị L phải kết hôn với anh N hoặc phải hoàn trả tài sản
nếu việc kết hôn không diễn ra. Việc giao nhận nữ trang tại lễ đính hôn chỉ phản
ánh hoàn cảnh mục đích của việc tặng cho, không đủ căn cứ để mặc nhiên suy
đoán việc kết hôn điều kiện của giao dịch. Mặt khác, nếu cho rằng việc kết hôn
điều kiện của việc tặng cho thì điều kiện này cũng không phù hợp với nguyên
tắc của Luật Hôn nhân gia đình về việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết
định, không bị ép buộc. Vì vậy, việc anh N và chị L không tiến tới hôn nhân không
thể được xem việc chL không thực hiện nghĩa vụ của bên được tặng cho theo
khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự.
[4.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định: Trường hợp i
sản động sản không phải đăng quyền sở hữu đã được bên tặng cho giao
bên được tặng cho nhận, quản lý thì việc tặng cho đã hoàn thành. Việc tài sản được
giao tại lễ đính hôn với mục đích để đôi nam nữ tiến tới hôn nhân không đương
nhiên tặng cho tài sản điều kiện. Nếu không căn cứ chứng minh khi giao
nhận tài sản, các bên đã thỏa thuận bên được tặng cho phải kết hôn hoặc phải hoàn
trả tài sản khi việc kết hôn không diễn ra thì việc hai bên không tiến tới hôn nhân
không phải là căn cứ để bên tặng cho đòi lại tài sản.
[4.5] Do đó, việc Tòa án cấp thẩm căn cứ vào việc lễ cưới không diễn ra
để xác định số nữ trang bà H đã tặng cho chị L tại lễ đính hôn là tài sản tặng cho có
điều kiện, buộc chị L trả cho bà H 01 đôi lắc chuỗi bi 01 dây chuyền kết hoa
chưa đúng bản chất pháp của giao dịch. vậy, căn cứ chấp nhận kháng cáo
của chị L ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị L; không
chấp nhận quan điểm giải quyết của Viện kiểm sát; sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Lệ H về việc buộc chị L hoàn trả số
nữ trang nêu trên.
[5] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H được miễn án phí do người cao tuổi.
Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên chị L không
phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
6
Chấp nhận kháng cáo của chị Võ Thị Thanh L.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 93/2026/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh.
Căn cứ Điều 457, Điều 458 Điều 462 Bộ luật Dân sự; Điều 12, khoản 2
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Lệ H về việc buộc
chị Võ Thị Thanh L trả 01 đôi bông tai kim cương 4ly4, 10 (mười) chỉ vàng 985 và
8,49 (tám phẩy bốn mươi chín) chỉ vàng 9999.
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Thị Lệ H được miễn án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Võ Thị Thanh L không phải chịu án phí; hoàn
lại cho chị L số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu số 0011971 ngày 28 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân stỉnh
Tây Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa PT TANDTC tại Tp. HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 1 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Phòng GĐKT,TTr&THA-TAND tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: án văn, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Trang
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
Đỗ Văn Thinh - Võ Thị Hồng Mai
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1028/2026/DS-PT Bản án số 1028/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1028/2026/DS-PT Bản án số 1028/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất