Bản án số 1042/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1042/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1042/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1042/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: BÙI THỊ KIỂU A TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY HỒ THỊ KIM HIỀN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bn án s: 1042/2026/DS-PT
Ngày 14-8-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Nga
Các Thẩm phán Trịnh Thị Phúc
Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
- Thư phiên a: Ông Trung Kiên Thư a án nhân dân tỉnh y Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 tháng 8 ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sToà án nhân
dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
535/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2026/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 514/2026/QĐ-PT ngày 09
tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 597/2026/-PT ngày 24 tháng
7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Thị Kiều A, sinh năm 2000.
Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ cư trú:
số C, ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Kim T, sinh năm 1958,
địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 20/5/2026)
2. Bị đơn:
2.1. Bà Hồ Thị Kim H, sinh năm 1978.
Địa chỉ: số F, ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bà Hồ Thị Kim H:
- Ông Phạm Quốc S, sinh năm 1981, địa chỉ: số C, đường C, phường B, Thành
phố Hồ Chí Minh.
2
(Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/8/2024)
- Ông Trương Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1992, địa chỉ: Ấp A, M, tỉnh Tây
Ninh
(Theo văn bản ủy quyền ngày 09/01/2026)
2.2. Ông Trần Thế V, sinh năm 1976.
Địa chỉ: ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Thanh Q, sinh năm 2000.
Địa chỉ: ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3.2. Ông Nguyễn Hùng M, sinh năm 1993.
Địa chỉ: số C, ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3.3. Bà Trần Hồng H1, sinh năm 2001.
Địa chỉ: ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh.
4. Người kháng cáo: nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều A
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 9 năm 2024, đơn thay đổi yêu cầu ngày 11
tháng 12 năm 2024 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn
Bùi Thị Kiều A cùng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Văn
T2 trình bày:
Kiều A vợ chồng bà Hồ Thị Kim H chỗ quen biết nên vợ chồng bà H
đã nhiều lần vay tiền của bà A. Việc vay tiền chuyển khoản qua tài khoản của những
người trong gia đình H. Các tài khoản chuyển qua lại tài khoản của vợ chồng
bà H, tài khoản của con trai và con dâu bà H, tài khoản của vợ chồng bà Kiều A. Bà
A cho bà H vay lãi suất 20%/năm. Số tiền bà H chuyển khoản trả cho bà A khi trả
tiền gốc, có khi trả tiền lãi, có khi trả cả gốc và lãi. Khi chuyển khoản cho A thì
bà H không ghi là chuyển khoản tiền gốc hay lãi mà chỉ ghi chung chung là chuyển
khoản. Đến năm 2024, vợ chồng bà H không trả số tiền đã vay của bà A, mặc dù bà
A đã đòi nhiều lần. Đến tháng 3 năm 2024 thì bà H còn nA 10.627.100.000
đồng, sau đó H trả 3.530.000.000 đồng tiền gốc và số tiền còn nợ lại
7.050.000.000đồng nên ngày 18/5/2024, hai bên chốt lại số tiền gốc bà H còn nợ bà
A số tiền 7.050.000.000đồng.
Do hai bên lấy Hợp đồng cho nhân vay tiền đchốt nợ nên những nội
dung không phợp nphương thức cho vay, đã giao đủ tiền, đã nhận đủ tiền, thời
hạn vay, phương thức cho vay nên theo đơn kiện bà A trình bày theo Hợp đồng vay
này nhưng thực tế hai bên chốt lại số tiền nợ H còn nợ A. Đến ngày
05/8/2024, vợ chồng bà H trả cho A 1.000.000.000 đồng với hình thức chuyển
nhượng 01 thửa đất nên số tiền còn nợ 6.050.000.000đồng. Ngày 07/10/2024,
H trả cho A 300.000.000đồng, nhưng từ tháng 3/2023 bà H chưa trả tiền lãi
cho bà A nên khi bà H đưa 300.000.000đồng, bà A có nhắn tin số tiền này là trả tiền
3
lãi cho tháng 3, tháng 4, tháng 5 thì H trả lời “Ok”. Đối với thửa đất thị trấn H
H chuyển nhượng ngày 06/5/2024, giá trị chuyển nhượng hai bên thừa nhận
300.000.000đồng, bà H cho rằng 300.000.000đồng này trừ vào số tiền hai bên chốt
nợ không đúng ngày chuyển nhượng trước khi chốt nợ nên số tiền này đã trừ
tiền nợ bà H trước khi chốt nợ nên số tiền bà H còn nợ bà A 6.050.000.000đồng.
Kiều A khởi kiện yêu cầu H ông V liên đới trả số tiền
6.050.000.000đồng cho A, do H đã trả tiền lãi tháng 3, tháng 4, tháng 5 nên
yêu cầu H trả tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm tính từ ngày 01 tháng 6 năm 2024
đến ngày 05/8/2024 tính trên số tiền 7.050.000.000đồng số tiền lãi
250.666.666đồng. Yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm tính từ ngày
06/8/2024 đến ngày xét xử trên số tiền nợ 6.050.000.000đồng, tiền lãi
1.573.000.000đồng. Tổng cộng hai khoản tiền lãi và gốc là 7.873.666.666đồng.
A xác định giữa bà Kiều AH nhắn tin, nhưng chỉ những tin nhắn
nói qua nói lại, không ràng, A cũng không nhắn cho vay với mức lãi suất từ
0,3% đến 0,45%/ngày, 10% đến 12%/tháng, cụ thể như sau:
Tin nhắn “ngày 10/03 4.5” A nhắn 4.5 nghĩa A đề nghị cho bà H vay
với mức lãi suất 4,5%/tháng nhưng H không đồng ý. Số tiền 3.600.000 đồng
tiền lãi của 3.850.000.000 đồng.
Số tiền 60.000.000 đồng y H trả lãi cho A trên số tiền n gốc
3.850.000.000 đồng. Số tiền 36.000.000 đồng này là bà A trả vốn và lãi của số tiền
mượn 3.850.000.000 đồng.
Bà A nhắn 4.5 nghĩa là cho vay lãi suất 4,5%/tháng nhưng bà H không đồng ý.
Bà H trả gốc và lãi cho bà A nhiều lần trên số tiền 3.850.000.000 đồng, nên số
tiền 11.475.000 đồng lãi của 3.850.000.000 đồng. A không xác định được
H trả lãi trên số tiền nào. A nhắn tiền còn nợ, còn số tiền chuyển khoản 11.250.000
đồng tiền bà H trả cho tổng số tiền gốc và lãi còn nợ, tin nhắn 4.5 nghĩa cho vay
lãi suất 4,5%/tháng nhưng bà H không đồng ý.
A nhận tiền lãi của số tiền gốc đã vay, không phải lãi 0.45%/ngày. Tất cả
những tin nhắn anh nhắn 4.5 nghĩa đề nghị cho H vay lãi suất 4,5%/tháng
nhưng bà H không đồng ý, còn lại nợ tháng trước chuyển sang, nợ cũ nợ mới
H có trả lãi nhưng A chỉ nhận tiền lãi với mức lãi suất 20%/tháng. Các chứng từ
sao kê bà H nộp thể hiện vợ chồng bà A nhận tiền thì bà A thừa nhận nhưng hai
bên đã thanh toán xong. Cho đến khi chốt nợ thì H còn nợ bà A 7.050.000.000
đồng.
Trong đơn phản tố ngày 04/4/2025, đơn phản tố bổ sung ngày 08 tháng 01 năm
2026, đơn rút một phần yêu cầu phản tố bổ sung ngày 12/02/2026 và trong quá trình
giải quyết vụ án, bị đơn Hồ Thị Kim H do ông Phạm Quốc S và ông Trương
Nguyễn Trọng T1 đại diện trình bày:
Từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024, H vay tiền bà A nhiều lần với
mức lãi suất từ 0,3% đến 0,45%/ngày từ 10% đến 12%/tháng với hình thức chuyển
khoản trả bằng tiền mặt, khi giao tiền nhắn tin qua Zalo hoặc chuyển khoản
theo tài khoản A chỉ định, có thể hiện bằng tin nhắn. Khi trả tiền cho bà Kiều A,
4
do tin tưởng nên H chỉ ghi chung chung là chuyển khoản, không ghi rõ nội dung
là trả tiền gốc hay trả tiền lãi.
Sau đó, do H trả tiền lãi cho bà A không đủ tiền nên bà A cộng dồn lại tiền
gốc và lãi và hai bên chốt lại số nợ ngày 18/5/2024. Theo đó thì bà A lập hợp đồng
cho vay tiền, theo nội dung hợp đồng thì ghi phương thức thanh toán bằng chuyển
khoản nhưng thực tế không chuyển khoản chỉ chốt lại số nợ trước đó, hai bên
chốt lại số nợ là 7.050.000.000đồng.
Sau khi chốt nợ, ngày 05/8/2024, H trả cho bà A 1.000.000.000đồng với hình
thức chuyển nhượng 01 thửa đất. Tháng 10 năm 2024, H trả cho A
300.000.000đồng. Ngoài ra, ngày 06/5/2024, bà H chuyển cho A 01 thửa đất
giá trị 300.000.000đồng, số tiền này H trả cho A trong số nợ
7.050.000.000đồng. Vậy sau khi chốt nợ, bà H đã trả cho A 1.600.000.000đồng,
số tiền còn nợ lại là 5.450.000.000đồng.
Sau khi tổng kết lại sao từ Ngân hàng thì bà H vay của A tổng cộng
36.944.300.000đồng từ tháng 3/2023 đến tháng 01/2024. Theo lãi suất mà pháp luật
quy định thì tiền lãi 01 năm là 7.388.860.000 đồng, vậy tổng cộng gốc và lãi phải trả
là 44.333.160.000 đồng. Số tiền gốc mà bà H trả là 36.944.300.000 đồng, tiền lãi đã
trả 6.877.825.000đồng. Tổng cộng 43.822.125.000 đồng. Ngoài ra, H chuyển
cho A 02 thửa đất 1.300.000.000 đồng, trả 300.000.000 đồng, tổng cộng trả
1.600.000.000 đồng. Vậy tổng số tiền H đã chuyển cho A 45.422.125.000
đồng. Số tiền bà H trả là 1.088.965.000 đồng. Bà H có yêu cầu phản tố, yêu cầu
khấu trừ số tiền bà H đã trả dư vào số tiền mà bà H nợ bà A và yêu cầu bà A phải trả
cho bà H số tiền 1.088.965.000 đồng.
Ngoài ra, trong quá trình H chuyển tiền lãi cho bà A qua tài khoản bà H
không ghi nội dung chuyển khoản nhưng có một số lần chuyển tiền lãi cho bà A thì
giữa bà A và bà H có nhắn tin qua Zalo, số tiền lãi có nhắn tin qua Zalo thể hiện việc
A cho H vay lãi suất ngày từ 0,3% đến 0,45%/ngày, từ 10% đến 12%/tháng,
cụ thể như sau:
Ngày 10/3/2023, A nhắn tin qua tài khoản Zalo của A cho H “ngày
10/03 4.5” nghĩa là lãi suất 4.5, 4.5 nghĩa là 0.45%/ngày, bà H có nhắn “Xuống lấy
800 triệu hồi sáng” H chuyển cho A 3.600.000 đồng, số tiền 3.600.000 đồng
này là tiền lãi của số tiền 800.000.000 đồng, tiền lãi 01 ngày.
Ngày 15/3/2023, H nhắn tin “trả lãi của 1.000.000.000 đồng từ ngày 01/3-
15/3” và chuyển cho bà A 60.000.000 đồng.
Ngày 22/3/2023, bà H chuyển cho bà A 36.000.000 đồng là tiền lãi của số tiền
vay 800.000.000 đồng, tiền lãi của 10 ngày với tin nhắn của A “36 triệu, 4.5*10
ngày”.
H trả 5.400.000 đồng tiền lãi 06 ngày của số tiền gốc 200.000.000 đồng từ
ngày 17/3/2023 đến ngày 22/3/2023 theo mức lãi suất mà bà A nhắn tin là “4.5 cưng
tính giùm chị”.
H trả 03 ngày tiền lãi của 850.000.000 đồng, số tiền lãi trả 11.475.000
đồng từ ngày 20/3/2023.
Ngày 4/4/2023, bà H trả 3.800.000 đồng tiền lãi.
5
Ngày 21/4/2023 bà H trả lãi 05 ngày tiền lãi của số tiền nợ 500.000.000 đồng,
số tiền lãi là 11.250.000 đồng. Theo tin nhắn bà A nhắn “17/4 500 triệu 4.5”.
Ngày 24/4/2023, bà H trả 01 ngày tiền lãi của số tiền mượn 150.000.000 đồng,
tiền lãi là 675.000 đồng, lãi suất 0.45%/ngày.
Ngày 06/5/2023 H trả A tiền gốc 1.400.000.000 đồng tiền lãi
123.400.000 đồng. chụp sổ ghi chi tiết tiền lãi A nhắn tin xác nhận
1.523.400.000 đồng.
Ngày 12/5/2023, H trả 03 ngày tiền lãi 0.4%/ngày của phần vay
1.600.000.000 đồng từ ngày 10/5/2023 đến ngày 12/5/2023 là 19.200.000 đồng.
Ngày 12/5/2023, H trả 02 ngày tiền lãi 0.4% ngày của phần vay
1.500.000.000 đồng từ ngày 11/5/2023 đến ngày 12/5/2023 là 12.000.000 đồng.
Ngày 19/5/2023, H trả tiền mặt 02 ngày tiền lãi 0.4%/ngày của phần vay
400.000.000 đồng từ ngày 18/5/2023 đến 19/5/2023 tiền lãi là 3.200.000 đồng.
Ngày 19/5/2023, H trả tiền mặt 01 ngày tiền lãi 0.4%/ngày của phần vay
100.000.000 đồng là 400.000 đồng
Ngày 24/5/2023, bà H trả 02 ngày tiền lãi với mức lãi suất 0.4%/ ngày của phần
vay 300.000.000 đồng từ ngày 23/5/2023 đến ngày 24/5/2023 tiền lãi 2.400.000
đồng.
Ngày 21/6/2023, bà H trả 01 ngày tiền lãi với mức lãi suất 0.4%/ngày của phần
vay 700.000.000 đồng tiền lãi là 2.800.000 đồng.
Ngày 21/6/2023, bà H trả 31 ngày tiền lãi với mức lãi suất 0.4%/ngày của phần
vay 550.000.000 đồng từ ngày 22/5/2023 đến ngày 21/6/2023 số tiền lãi
68.200.000 đồng.
Ngày 27/6/2023, H trả 8 ngày tiền lãi với mức lãi suất 0.4%/ngày của phần
vay 400.000.000 đồng từ ngày 20/6/2023 đến ngày 27/6/2023 số tiền lãi
12.800.000 đồng.
Ngày 29/6/2023, bà H trả 01 ngày tiền lãi với mức lãi suất 0.3%/ngày của phần
vay 200.000.000 đồng số tiền lãi là 600.000 đồng.
Ngoài ra, tháng 7/2023, bà H trả 21.000.000 đồng tiền lãi, trả 24.800.000 đồng
tiền lãi, 23.200.000 đồng tiền lãi, trả 6.000.000 đồng tiền lãi, trả 3.200.000 đồng tiền
lãi có tin nhắn, còn lại chỉ chuyển khoản không có tin nhắn.
Tháng 8/2023, H trả 4.000.000 đồng tiền lãi trả 6.400.000 đồng tiền lãi
với mức lãi suất 0,4%/ngày có tin nhắn.
Tháng 9/2023, H trả 4.000.000 đồng tiền lãi trả 6.400.000 đồng tiền lãi
với mức lãi suất từ 0,3-0,4%/ngày, có tin nhắn.
Tháng 10/2023, bà H trả 4.800.000 đồng tiền lãi, trả 8.000.000 đồng tiền lãi với
mức lãi suất từ 0,3% đến 0,4%/ngày.
Tháng 11/2023, bà H trả 5.600.000 đồng tiền lãi với mức lãi suất 0,4%/ngày.
Tháng 12/2023, bà H trả 2.800.000 đồng tiền lãi trả 570.000.000 đồng tiền
lãi với mức lãi suất 0,35%.
6
Tháng 01/2024, bà H trả 261.000.000 đồng tiền lãi, 168.000.000 đồng tiền lãi,
11.200.000 đồng, mức lãi suất 0,3% đến 0,45%.
Bị đơn ông Trần Thế V trình bày:
Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà A, ông thống nhất theo
nội dung ca đơn phản tố, ông xin vắng mặt phiên xét xử của tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Hồng H1 trình bày:
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A, bà thống nhất theo nội dung
đơn phản tố của bà H, bà xin vắng mặt phiên xét xử của tòa án
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh Q trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A, ông thống nhất theo nội
dung đơn phản tố của bà H, ông xin vắng mặt phiên xét xử của Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hùng M trình bày:
Ông chồng của A, ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của A. Ông
không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn. Ông cũng không
đồng ý cùng A trả bất kỳ số tiền nợ nào cho H. Ngoài ra, ông không có yêu cầu
gì trong vụ án này.
Vụ án được Tòa án cấp thẩm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận
công khai chứng cứ hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2026/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản
1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự số
92/2015/QH13; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13;
Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị Kiều A do ông Phạm
Văn T2 đại diện theo y quyền về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị
đơn Hồ Thị Kim H ông Trần Thế V do ông Phạm Quốc S ông Trương
Nguyễn Trọng T1 đại diện theo ủy quyền.
Không chấp nhận buộc Hồ Thị Kim Hông Trần Thế V trả cho bà Bùi Thị
Kiều A tiền gốc và lãi 7.873.666.666đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Hồ Thị Kim H đối với
Bùi Thị Kiều A.
Buộc bà Bùi Thị Kiều A có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị Kim H và ông Trần
Thế V số tiền 778.572.230 đồng (Bảy trăm bảy mươi tám triệu, năm trăm bảy mươi
hai ngàn, hai trăm ba mươi đồng).
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Kim H đối với bà
Bùi Thị Kiều A về việc yêu cầu A trả cho bà H số tiền 310.392.770 đồng (Ba trăm
mười triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, bảy trăm bảy mươi đồng).
7
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên nghĩa vụ
chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy
định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với
thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp cácn có thỏa thuận khác hoặc pháp luật
có quy định khác.
4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 28/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 07/11/2024 ca a án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay
là Tòa án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
5. Về án phí dân sự thẩm: Hồ Thị Kim H chịu 15.519.638 đồng án phí
dân sự sơ thẩm. H được khấu trừ số tiền 21.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0006537 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức
Hòa (nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3-Tây Ninh) và 56.817.000đ tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001242 ngày 16/01/2026 của Phòng thi hành án
dân sự Khu vực 3-Tây Ninh. Hoàn trả cho bà H 62.297.362 đồng.
A chịu 151.015.889 đồng án p dân sự thẩm. A được khấu trừ
57.214.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005764 ngày
01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (nay là Phòng Thi hành
án dân sự Khu vực 3 - Tây Ninh). Bà A tiếp tục nộp 93.801.889 đồng.
Ngoài ra, a án cấp thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền yêu cầu,
nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 18/5/2026, nguyên đơn Bùi Thị Kiều A làm
đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc
Hồ Thị Kim H, ông Trần Thế V, ông Trần Thanh Q và bà Trần Hồng H1 liên đới
thanh toán cho bà Kiều A số tiền 6.050.000.000 đồng cùng tiền lãi 10%/năm từ khi
vay.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau, nguyên
đơn Bùi Thị Kiều A do Nguyễn Kim T đại diện không rút đơn khởi kiện và
đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
yêu cầu kháng cáo của Kiều A, buộc bà H liên đới cùng ông V thanh toán số
tiền còn nợ là 6.050.000.000 đồng cùng tiền lãi phát sinh từ ngày 18/5/2024 là ngày
chốt nợ đến thời điểm xét xử thẩm với tổng số tiền 7.873.666.666 đồng.
Nguyễn Kim T trình bày cho rằng, giữa A H cho vay tiền và chuyển tiền
qua lại rất nhiều lần, tuy nhiên giai đoạn trước ngày 17/5/2024 các bên đã hoàn tất,
ngày 18/5/2024 thì hai bên chốt còn số nợ 7.050.000.000 đồng, sau đó trừ tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên n lại số nợ là 6.050.000.000 đồng, nên
Kim T đại diện cho bà Kiều A yêu cầu bà H cùng ông V, ông Q và bà H1 thanh toán
số tiền này, do bà H1 và ông Q có tham gia vào quá trình giao dịch chuyển tiền, mặc
dù người thực tế đứng ra vay tiền là bà Kiều A.
Bị đơn bà Hồ Thị Kim H do ông Phạm Quốc S ông Trương Nguyễn Trọng
T1 đại diện không đồng ý với toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án thẩm, trình bày cho rằng, ngoài các
8
khoản tiền chuyển khoản qua lại giữa các bên thì H giao cho A
3.305.900.000 đồng tiền mặt, cụ thể giao 200.000.000 đồng vào ngày 15/4/2023;
500.000.000 đồng vào ngày 21/4/2023; 500.000.000 đồng vào ngày 19/5/2023;
700.000.000 đồng vào ngày 30/5/2023, 524.000.000 đồng vào ngày 19/7/2023,
300.000.000 đồng vào ngày 21/9/2023; 100.000.000 đồng vào ngày 29/4/2023,
3.600.000 đồng vào ngày 19/5/2023, 10.000.000 đồng vào ngày 20/6/2023,
45.000.000 đồng vào ngày 17/7/2023, 4.000.000 đồng và 10.600.000 đồng vào ngày
08/9/2023, 460.000.000 đồng vào ngày 31/12/2023; 100.000.000 đồng vào ngày
07/10/2024; ngoài ra còn trừ vào tiền chuyển quyền sử dụng đất ngày 05/8/2024 là
1.000.000.000 đồng và thanh toán 300.000.000 đồng vào tháng 10/2024. Mỗi khi trả
tiền đều nhắn tin thể hiện qua Zalo. H đã chuyển trả cho A tổng cộng
43.822.125.000 đồng như trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Bà H ký giấy nợ cho bà
Kiều A là do bị Kiều A ép buộc chứ không nhận tiền của Kiều A lúc ký giấy
nợ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc chấp hành pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm cho rằng: Toà
án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự, kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều A trong thời hạn luật định, hợp lệ nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của nguyên đơn Bùi Thị Kiều A, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm, xét thấy:
Về yêu cầu trả số tiền gốc 6.050.000.000 đồng và tiền lãi 183.083.000đồng:
Từ tháng 3/2023 đến tháng 01/2024, giữa A và bà H phát sinh nhiều lần giao
nhận tiền. Việc cho vay thanh toán được thực hiện thông qua nhiều tài khoản khác
nhau của các thành viên trong gia đình. Khi chuyển tiền, các bên đa số không ghi rõ
nội dung tiền vay (tiền trả gốc hay tiền lãi). Hợp đồng cho nhân vay tiền lập
ngày 18/5/2024 không thể hiện việc A giao thêm cho H khoản tiền vay mới
vào ngày lập hợp đồng mà thực chất là văn bản xác nhận, chốt lại số tiền các bên cho
rằng bà H n nợ sau quá trình vay, trả tiền trước đó.
Do số tiền 7.050.000.000 đồng được xác lập trên cơ sở tổng hợp các giao dịch
vay thanh toán đã phát sinh nên khi giải quyết vụ án cần xem xét toàn bộ quá trình
giao nhận tiền, mức lãi suất thực tế các khoản tiền H đã thanh toán. Việc các
bên lập văn bản chốt nợ không làm phát sinh hiệu lực đối với phần tiền lãi vượt quá
mức lãi suất được pháp luật cho phép và không loại trừ quyền yêu cầu đối trừ phần
tiền lãi đã thanh toán vượt quá quy định vào nghĩa vụ trả nợ.
Mặc dù bà A không thừa nhận việc cho bà H vay với mức lãi suất từ 0,3% đến
0,45%/ngày, tương đương khoảng 10% đến 12%/tháng nhưng nội dung tin nhắn Zalo
giữa hai bên phù hợp với lời trình bày của H phù hợp với số tiền thực tế đã
chuyển. Cụ thể, ngày 15/3/2023, bà H nhắn nội dung trả tiền lãi của khoản vay
1.000.000.000 đồng từ ngày 01/3/2023 đến ngày 15/3/2023 chuyển cho A
60.000.000 đồng; A trả lời đồng ý. Số tiền 60.000.000 đồng tương ứng với mức
lãi suất 12%/tháng trong thời gian 15 ngày.
Ngoài ra, bảng tính do A gửi cho H thể hiện khoản tiền 1.000.000.000
đồng từ ngày 06/12 đến ngày 31/12, trong 26 ngày, có tiền lãi 91.000.000 đồng và
9
ghi c3.5”. Kết quả này tương ứng với mức lãi suất 0,35%/ngày, tức khoảng
10,5%/tháng. Các khoản tiền khác trong bảng tính cũng được xác định theo phương
pháp tương tự. Do đó, lời trình bày của bà H về việc bà A cho vay với mức lãi suất
từ 0,3% đến 0,45%/ngày là có căn cứ.
Trong khi đó, phần giải thích của bà A cho rằng hiệu “4.5” chỉ đề nghị
mức lãi suất 4,5%/tháng nhưng H không đồng ý, hoặc các khoản tiền H chuyển
là tiền lãi của khoản nợ 3.850.000.000 đồng, không phù hợp với nội dung tin nhắn,
số tiền chuyển khoản và phương pháp tính lãi thể hiện trong chính bảng tính do bà A
gửi. A cũng không cung cấp được tài liệu thể hiện một phương pháp tính toán
khác có khả năng giải thích hợp lý các khoản tiền đã nhận. Cấp sơ thẩm xác đnh các
bên thực tế thỏa thuận và thực hiện việc vay tiền với mức lãi suất vượt quá giới hạn
quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là có căn cứ.
Theo tài liệu sao kê, tổng số tiền A đã chuyển cho H 36.944.300.000
đồng. Đến thời điểm chốt nợ, các bên xác nhận H còn nợ 7.050.000.000 đồng, nên
số tiền gốc bà H đã thanh toán được xác định là 29.894.300.000 đồng. Tổng số tiền
H đã chuyển trả cho A 43.822.125.000 đồng. Sau khi trừ số tiền gốc đã thanh
toán, số tiền được xác định là tiền lãi bà H đã trả cho bà A là 13.927.825.000 đồng.
Đối với thửa đất giá trị 300.000.000 đồng được chuyển cho A ngày
06/5/2024, việc chuyển nhượng được thực hiện trước thời điểm các bên chốt nợ ngày
18/5/2024. vậy, căn cứ xác đnh giá trị thửa đất này thuộc các khoản thanh toán
phát sinh trước khi chốt nợ, không phải khoản thanh toán rng được tiếp tục khấu
trừ vào số tiền 7.050.000.000 đồng sau ngày 18/5/2024. Tính cả giá trị thửa đất này,
tổng số tiền bà H đã thanh toán vượt quá tiền gốc là 14.227.825.000 đồng.
Quá trình vay tiền kéo dài từ tháng 3/2023 đến tháng 3/2024 và các khoản vay
được giao nhận, thanh toán vào nhiều thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, bà H đồng ý
xác định tiền lãi hợp pháp bằng 20%/năm trên toàn bộ số tiền 36.944.300.000 đồng
trong thời hạn một năm, tương ứng 7.388.860.000 đồng. Cách tính này có lợi cho
A không xem xét việc H đã thanh toán dần tiền gốc trong thời gian vay. Do đó,
cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này để xác định số tiền lãi hợp pháp là phù hợp.
Như vậy, sau khi trừ số tiền lãi hợp pháp 7.388.860.000 đồng, số tiền lãi H
đã thanh toán vượt quá giới hạn pháp luật cho phép là:
14.227.825.000 đồng - 7.388.860.000 đồng = 6.838.965.000 đồng.
Phần lãi suất vượt quá mức 20%/năm không có hiệu lực và số tiền lãi đã thanh
toán vượt quá phải được đối trừ vào nghĩa vụ trả nợ gốc. Do đó, tại thời điểm các
bên chốt nợ ngày 18/5/2024, số tiền gốc thực tế H còn phải thanh toán là:
7.050.000.000 đồng - 6.838.965.000 đồng = 211.035.000 đồng.
Đối với số tiền 300.000.000 đồng bà H giao cho bà A ngày 07/10/2024, tài liệu
tin nhắn thể hiện khi bà A xác định đây là khoản tiền trả lãi của tháng 3, tháng 4
tháng 5 thì bà H trả lời đồng ý, không có ý kiến phản đối hoặc xác định đây là khoản
trả nợ gốc. vậy, việc H cho rằng toàn bộ số tiền này phải được tiếp tục khấu
trừ vào nợ gốc không phù hợp với nội dung trao đổi giữa các bên tại thời điểm giao
nhận tiền.
10
Đối với số tiền gốc 211.035.000 đồng còn lại, cấp sơ thẩm tính tiền lãi từ ngày
06/5/2024 đến ngày 05/8/2024 theo mức 20%/năm, được số tiền 10.392.770 đồng.
Ngày 05/8/2024, vợ chồng H chuyển cho A một thửa đất giá trị được các
bên thống nhất 1.000.000.000 đồng để thanh toán nghĩa vụ. Sau khi trừ tiền gốc
và tiền lãi hợp pháp, số tiền bà A đã nhận vượt quá nghĩa vụ của H là:
1.000.000.000 đồng - 211.035.000 đồng - 10.392.770 đồng = 778.572.230 đồng.
Do đó, cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của A về việc buộc H
ông V trả số tiền gốc, lãi tổng cộng 7.873.666.666 đồng; đồng thời chấp nhận một
phần yêu cầu phản tố, buộc A hoàn trả cho H ông V số tiền 778.572.230
đồng là phù hợp với chứng cứ và quy định pháp luật.
Đối với nội dung kháng cáo yêu cầu ông Trần Thanh Q Trần Hồng H1
cùng có nghĩa vụ trả nợ, tại cấp sơ thẩm bà A không yêu cầu Tòa án buộc ông Q, bà
H1 liên đới thanh toán khoản vay nên cấp phúc thẩm không xem xét. Hơn nữa, hồ sơ
vụ án không tài liệu chứng minh ông Q, H1 bên vay tiền, cùng thỏa thuận
vay hoặc cam kết chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ của bà H.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều A, giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 133/2026/DS-ST ngày 06/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3
Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn Bùi Thị Kiều A được thực hiện đúng quy
định tại Điều 272, 273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét
theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng: bị đơn ông Trần Thế V, những ngườiquyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Trần Thanh Q, ông Nguyễn Hùng M, Trần Hồng H1 vắng mặt
yêu cầu xét xử vắng mặt, đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này.
[3] Về nội dung vụ án: nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều A khởi kiện yêu cầu bà Hồ
Thị Kim H liên đới cùng ông Trần Thế V thanh toán số tiền vay 6.050.000.000
đồng cùng tiền lãi phát sinh với tổng số tiền 7.873.666.666 đồng. Bị đơn Hồ
Thị Kim H có yêu cầu phản tố yêu cầu bà Kiều A trả lại cho H số tiền mà H đã
chuyển thừa cho A 1.088.965.000 đồng, Tòa án cấp thẩm đã bác toàn bộ yêu
cầu khởi kiện ca bà Kiều A, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của H, buộc
Kiều A trả cho H ông V số tiền 778.572.230 đồng. vậy Kiều A đã làm
đơn kháng cáo.
[4] Các đương sự đều trình bày thống nhất, Bùi Thị Kiều A cho Hồ Thị
Kim H vay tiền nhiều lần, bà H cũng chuyển trả thanh toán cho bà Kiều A rất nhiều
lần, các bên giao dịch bằng chuyển khoản bằng tiền mặt, khi chuyển khoản không
ghi số tiền vay hay tiền lãi, tiền thanh toán cho khoản vay nào. Ngày 18/5/2024,
Kiều A lập giấy tay “Hợp đồng cho nhân vay tiền” với nội dung bà Bùi Thị
Kiều A cho bà Hồ Thị Kim H vay số tiền 7.050.000.000 đồng, bà H tên nhận đủ
số tiền. Tuy nhiên cả hai bên đều thừa nhận rằng, giấy tay chỉ chốt lại số tiền còn nợ,
không việc giao nhận tiền vào ngày 18/5/2024. Tòa án cấp thẩm căn cứ vào
11
biên bản đối chất ngày 23/3/2026 lời trình bày của bà H, xác định tổng số tiền
nguyên đơn đã chuyển cho bđơn 36.944.300.000 đồng, tổng số tiền bị đơn đã
chuyển trả qua tài khoản 43.822.125.000 đồng bị đơn còn chuyển giao cho nguyên
đơn một thửa đất trị g300.000.000 đồng. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm cho
rằng bị đơn đã trả vượt là 14.227.825.000 đồng, sau khi trừ khoản lãi hợp pháp theo
mức 20%/năm là 7.388.860.000 đồng thì bị đơn trả số tiền 6.838.965.000 đồng,
từ đó khấu trừ vào khoản nợ đã cht 7.050.000.000 đồng, xác định bị đơn chỉ còn nợ
211.035.000 đồng. Sau khi tính thêm tiền lãi 10.392.770 đồng khấu trừ tiếp giá trị
quyền sử dụng đất 1.000.000.000 đồng đã chuyển ngày 05/8/2024 thì Tòa án cấp sơ
thẩm đã buộc nguyên đơn hoàn trả cho bị đơn số tiền 778.572.230 đồng. Tuy nhiên
cách tính này có sai sót ngay từ bước xác định số tiền bị đơn đã trả vượt khi Tòa án
cấp thẩm vừa công nhận hai bên chốt nợ ngày 18/5/2024 với số tiền 7.050.000.000
đồng, vừa quay ngược lại quá trình vay từ năm 2023 để tính gốc lãi để xóa toàn
bộ khoản nợ đã chốt.
[5] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, Tòa án cấp thẩm giải quyết yêu
cầu phản tố của bị đơn chủ yếu dựa trên các giao dịch chuyển, nhận tiền qua tài khoản
ngân hàng giữa các bên. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm chưa đối chiếu, thống đầy
đủ từng giao dịch chuyển tiền, chỉ dựa vào trình bày của một bên bị đơn theo Biên
bản đối chất ngày 23/3/2026. Mặc bản án xác định tổng số tiền nguyên đơn đã
chuyển cho bị đơn và tổng số tiền bị đơn đã chuyển lại cho nguyên đơn, nhưng quá
trình tính toán còn có sự mâu thuẫn giữa các số liệu, dẫn đến việc xác định số tiền bị
đơn đã thanh toán vượt không phù hợp với chính các số liệu mà Tòa án cấp sơ thẩm
viện dẫn. Phía nguyên đơn trình bày cho rằng, tất cả các khoản nợ đã được giải quyết
xong chỉ còn khoản nợ theo giấy chốt nợ vào ngày 18/5/2024 nhưng cũng thừa nhận
rằng, vào ngày 18/5/2024 các bên không việc giao nhận tiền các bên thỏa
thuận lãi suất không thống nhất giữa các khoản tiền vay. Bị đơn Hồ Thị Kim H
cho rằng, có sự ép buộc bà H ký tên vào giấy tay vay tiền nhưng bà H không đưa ra
được chứng cứ chứng minh. Trên sở các giao dịch chuyển tiền giấy nợ cùng
các tin nhắn giữa các bên, Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng
cáo của bà Kiều A cũng như yêu cầu phản tố của bà Kim H.
[6] Căn cứ vào các giao dịch chuyển khoản qua các sao kê giữa các số tài khoản
được các đương sự thừa nhận gồm số tài khoản của bà Bùi Thị Kiều A 0879855552,
các số tài khoản của ông Nguyễn Hùng M 103139393939, của Trần Hồng H1
kế toán của H 109875136609, Nguyễn Thị Cẩm N 606704060097875, thì tổng
số tiền bà Kiều A chuyển khoản cho Hiền từ ngày 03/01/2023 đến ngày 19/4/2024
39.776.590.000 đồng, H chuyển khoản cho Kiều A số tiền 38.357.325.000
đồng. Ngoài ra ngày 10/7/2024, bà H chuyển khoản cho bà Kiều A số tiền
200.000.000 đồng 100.000.000 đồng tiền mặt, khoản tiền này các bên đều thừa
nhận, tuy nhiên Kiều A cho rằng H chuyển trả cho Kiều A tiền lãi của 3
tháng gồm tháng 3, 4, 5 năm 2024.
[7] Đối với các khoản tiền mặt bà H cùng người đại diện hợp pháp của bà H
cho rằng đã thanh toán cho Kiều A từ ngày 21/4/2023 đến ngày 07/3/2024
3.305.900.000 đồng, không được bà Kiều A thừa nhận, bà Kiều A chỉ thừa nhận 02
khoản tiền mặt H chuyển cho Kiều A vào ngày 15/4 ngày 10/7/2024. Khi
xem xét các tin nhắn qua Zalo thì các tin nhắn chỉ thể hiện sẽ trả tiền, không thể
12
hiện tin nhắn của Kiều A thừa nhận việc trả tiền đã thực hiện xong, vậy
không chấp nhận trình bày của H cùng người đại diện hợp pháp của H về khoản
tiền mặt đã thanh toán này.
[8] Hội đồng xét xử xét thấy, mặc giữa Kiều A bà Kim H nhiều giao
dịch vay, trả tiền trong thời gian từ năm 2023 đến trước ngày 18/5/2024, nhưng các
bên đều thống nhất rằng ngày 18/5/2024 đã lập “Hợp đồng cho cá nhân vay tiền” để
xác nhận, chốt lại số tiền bà H còn phải thanh toán cho Kiều A là 7.050.000.000
đồng; thực tế ngày 18/5/2024 không phát sinh việc giao nhận thêm tiền vay. H
cho rằng bị ép buộc giấy nợ nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh
việc bị cưỡng ép. Do đó, sở xác định văn bản ngày 18/5/2024 căn cứ thể
hiện ý chí của các bên về số tiền còn phải thanh toán sau khi đã tổng hợp, đối chiếu
các khoản vay và thanh toán phát sinh trước đó. Việc các bên có thỏa thuận mức lãi
suất khác nhau trong quá trình vay trước ngày 18/5/2024 không làm mất giá trị của
việc xác nhận số tiền còn nợ tại thời điểm chốt nợ. Đối với nghĩa vụ phát sinh sau
ngày 18/5/2024, do các bên không thỏa thuận về mức lãi suất nên áp dụng mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 10%/năm. Các tài liệu sao
kê và lời trình bày của các đương sự xác định sau khi chốt nợ, ngày 05/8/2024 bà H
đã thanh toán cho Kiều A giá trị 1.000.000.000 đồng bằng việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Do đó, số tiền gốc còn phải thanh toán sau ngày 05/8/2024
6.050.000.000 đồng.
[9] Đối với khoản tiền 300.000.000 đồng bà H thanh toán cho bà Kiều A ngày
07/10/2024, tại bút lục 64 có nội dung trao đổi giữa các bên thể hiện bà Kiều A xác
định khoản tiền này tiền lãi của các tháng 3, 4 và 5, H trả lời “Ok”. Như vậy,
sở xác định khoản tiền 300.000.000 đồng khoản tiền H thanh toán cho
nghĩa vụ lãi sau khi các bên đã xác lập số tiền nợ ngày 18/5/2024. Khoản tiền này
được đối trừ vào tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ 7.050.000.000 đồng
6.050.000.000 đồng theo từng thời điểm thanh toán.
[10] Do các bên không thống nhất được mức lãi suất áp dụng đối với khoản tiền
còn nợ sau ngày 18/5/2024 nên căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, lãi suất
được xác định là 10%/năm.
Từ ngày 18/5/2024 đến ngày 05/8/2024, số tiền nợ là 7.050.000.000 đồng, thời
gian 2 tháng 18 ngày, tiền lãi được xác định:
7.050.000.000 đồng × 10%/năm × 2 tháng 18 ngày = 152.750.000 đồng.
Ngày 05/8/2024, H đã thanh toán 1.000.000.000 đồng nên số tiền gốc còn
lại là 6.050.000.000 đồng.
Từ ngày 06/8/2024 đến ngày 06/5/2026 1 năm 9 tháng, tiền lãi được xác định:
6.050.000.000 đồng × 10%/năm × 1 năm 9 tháng = 1.058.750.000 đồng.
Tổng tiền lãi phát sinh là 1.211.500.000 đồng. Ngày 07/10/2024, H đã thanh
toán 300.000.000 đồng, được đối trừ vào tiền lãi nên số tiền lãi còn phải thanh toán
là 911.500.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bà H còn phải thanh toán cho bà Kiều A 6.050.000.000
đồng tiền gốc và 911.500.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 6.961.500.000 đồng.
13
[11] Về trách nhiệm thanh toán của ông Trần Thế V: ông V H vợ chồng,
đồng thời ông V tham gia vào quá trình vay, nhận thanh toán các khoản tiền
giữa H Kiều A. Khoản tiền vay được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân
ông V không chứng minh được đây là nghĩa vụ riêng của bà H. Do đó, có cơ sở xác
định đây nghĩa vụ chung của vợ chồng. Căn cứ Điều 27 Điều 37 Luật Hôn nhân
và gia đình, cần buộc bà Hồ Thị Kim H và ông Trần Thế V liên đới thực hiện nghĩa
vụ thanh toán đối với bà Bùi Thị Kiều A.
[12] Về trách nhiệm thanh toán của ông Trần Thanh Q bà Trần Hồng H1:
các đương sự đều thống nhất việc vay tiền được thực hiện giữa bà Kiều A và bà Kim
H; ông Q và bà H1 chỉ thực hiện việc chuyển, nhận tiền qua tài khoản theo yêu cầu
của H, không phải người vay, không trực tiếp xác lập thỏa thuận vay với bà
Kiều A và không tài liệu, chứng cứ thể hiện ông Q, H1 cam kết bảo lãnh
hoặc cùng chịu trách nhiệm đối với nghĩa vcủa bà H. Do đó, không có căn cứ buộc
ông Trần Thanh Qbà Trần Hồng H1 liên đới thanh toán khoản nợ cho bà Kiều A.
[13] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đnghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án
sơ thẩm. Tuy nhiên, do cách tính của Tòa án cấp sơ thẩm chưa phù hợp và không có
sở nên không chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên
tòa.
[14] Về án phí dân sự sơ thẩm: nguyên đơn bà Kiều A phải chịu án phí trên số
tiền bbác yêu cầu và không phải chịu án phí phúc thẩm, H và ông V phải chịu án
phí trên số tiền thanh toán cho A án phí do yêu cầu phản tố không được chấp
nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kiều A.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 133/2026/DS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh
Căn cứ Điều 26, 37, 39, 147, 148, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463,
Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn
nhân và gia đình; Điều 26, 29 Nghquyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kiều A về việc “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn Hồ Thị Kim H và ông Trần Thế V.
Buộc bà Hồ Thị Kim H và ông Trần Thế V liên đới thanh toán cho bà Bùi Thị
Kiều A số tiền 6.961.500.000 đồng.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các
khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên
14
số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số
91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kiều A đối với
Hồ Thị Kim H u cầu số tiền lãi là 912.166.666 đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Hồ Thị Kim H yêu cầu
Bùi Thị Kiều A hoàn trả số tiền 1.088.965.000 đồng.
4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 28/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 07/11/2024 ca a án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay
là Tòa án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
5. Về án phí dân sự thẩm: Hồ Thị Kim H ông Trần Thế V liên đới chịu
114.961.500 đồng án phí trên s tiền phải thanh toán cho bà Kiều A.
H phải chịu 44.668.950 đồng án phí bị bác yêu cầu phản tố, được trừ số tiền
21.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006537 ngày 04/4/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (nay Phòng thi hành án dân sự
Khu vực 3 - Tây Ninh) và 56.817.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
số 0001242 ngày 16/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà H và ông V
phải nộp tiếp 81.813.450 đồng.
A chịu 39.365.000 đồng án pdân sự thẩm bị bác yêu cầu không phải
chịu án phí phúc thẩm. Bà A được trừ 57.214.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0005764 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức
Hòa (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Tây Ninh). Hoàn trả lại cho bà A
số tiền 17.849.000 đồng.
6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định
tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành
án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 36 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự.
7. Vhiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiu lc thi hành k t ngày
tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 – Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Kim Nga
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1042/2026/DS-PT Bản án số 1042/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất