Bản án số 178/2026/HS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 178/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 178/2026/HS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 178/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: y án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 178/2026/HS-PT Bản án số 178/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 178/2026/HS-PT Bản án số 178/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 178/2026/HS-PT
Ngày: 07 - 9 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Hải.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư phiên tòa: Trần Hồng Chi - Thư a án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
xử công khai
vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 204/2026/TLPT-HS ngày 28
tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo Trần Lâm T, do kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án nh sự thẩm số 64/2026/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực X- Đồng Tháp.
- Bị cáo kháng cáo: Trần Lâm T, sinh ngày: 18/3/2000, tại tỉnh Tây Ninh;
Số định danh nhân ************ cấp ngày 21/02/2025; Nơi trú: ấp I,
N, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn)
06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Trần Văn T1 Dương Thị T2; Bị cáo vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T3
và con tên Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Lâm T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú
và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/02/2026 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra vụ án còn bị hại Nguyễn Lâm S người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Trương Phước T4 không có kháng cáo.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
2
Trần Lâm T anh Nguyễn C, thường trú ấp D, xã A, tỉnh Đồng Tháp
quan hệ họ hàng, vào ngày 17/9/2025 T đến nhà của anh C chơi và ngủ lại.
Khoảng 07 giờ ngày 19/9/2025, T thấy xe tô biển số 63D1-272.54 của anh
Nguyễn Lâm S, thường trú ấp H, xã A, tỉnh Đồng Tháp (anh vợ của C) gửi trong
nhà của anh C sẵn chìa khóa trên xe, không người quản nên T tự ý
lấy xe điều khiển dự định đi đến đám tang ba ruột anh C tại ấp M, H, tỉnh
Đồng Tháp. Khi T điều khiển xe đến khu vực C, tỉnh Đồng Tháp thì nảy sinh
ý định đem xe biển số 63D1-272.54 cầm cố lấy tiền tiêu xài nhân. Sau
đó, T điều khiển xe mô biển số 63D1-272.54 đến tiệm cầm đồ “Phước Tài”
của anh Trương Phước T4, ấp A, C, tỉnh Đồng Tháp cầm với số tiền
15.000.000 đồng, sử dụng tiêu xài nhân hết. Đến ngày 20/9/2025 anh S phát
hiện mất xe mô tô biển số 63D1-272.54 nên đã trình báo cơ quan Công an.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2025
của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sA xác
định: Xe biển số 63D1-272.54, nhãn hiệu Honda, số loại Future Fi, màu
sơn: Đỏ đen, vào thời điểm ngày 19/9/2025 trị giá 15.520.000 đồng.
Quá trình điều tra thu giữ 01 Video thời lượng 01 phút 05 giây do anh
Trương Phước T4 giao nộp, có nội dung ghi nhận hình ảnh Trần Lâm T vào tiệm
cầm đồ “Phước Tài” cầm xe mô tô biển số 63D1-272.54. Cơ quan Cảnh sát điều
tra tiến hành trưng cầu giám định. Theo Bản kết luận giám định số A332/KL-
KTHS ngày 12/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tệp dữ liệu
video gửi giám định không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh.
Về xử lý vật chứng:
Xe mô biển số 63D1-272.54, nhãn hiệu Honda, số loại Future Fi, màu
sơn: Đỏ đen do anh Nguyễn Lâm S đứng tên chủ sở hữu. Ngày 14/4/2026, Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe biển số 63D1-272.54,
nhãn hiệu Honda, số loại Future Fi, màu sơn: Đỏ đen cho anh Nguyễn Lâm S.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Lâm S đã nhận lại xe biển số
63D1-272.54 nên không yêu cầu bồi thường. Anh Trương Phước T4 yêu cầu bị
can bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, hiện Trường đã bồi thường xong, anh
T4 không yêu cầu gì thêm.
Đối với anh Trương Phước T4 người nhận cầm xe mô tô biển số 63D1-
272.54 nhưng không biết xe do T trộm cắp nên quan điều tra không
xem xét xử hình sự về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSKV5 ngày 14/5/2026 của Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực X– Đồng Tháp truy tố bị cáo Trần Lâm T về tội “Trộm cắp tài sản”
theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự thẩm số 64/2026/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực X– Đồng Tháp đã quyết định:
3
Tuyên bố bị cáo Trần Lâm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Lâm T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án thẩm n quyết định về án phí thông báo về quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 25 tháng 6 năm 2026, bị cáo Trần Lâm T đơn kháng cáo với nội
dung: Xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Lâm T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm nêu, bị
cáo rất ăn năn hối hận với tội lỗi của mình xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận
phát biểu quan điểm giải quyết ván đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách
nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật
tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Lâm T giữ
nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực X– Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần m T thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình đúng như bản án thẩm đã nêu, lời nhận tội của bị cáo phù
hợp với lời khai người bị hại, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các lời
khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm cùng các chứng
cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đầy đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 07 giờ ngày 19/9/2025, tại nhà của anh Nguyễn Bá C thuộc ấp
D, A, tỉnh Đồng Tháp, Trần Lâm T đã hành vi trộm cắp xe hiệu
Honda, loại Future Fi màu đỏ, đen, biển số 63D1-272.54 trị giá 15.520.000 đồng
của anh Nguyễn Lâm S.
Do đó, Tòa án cấp thẩm xét xử bị o theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật
hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, xuất
phát từ bản tính tham lam, lười lao động nhưng muốn tiền tiêu xài, bị cáo đã
4
lợi dụng hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản tài sản để thực hiện
hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản tổng giá trị 15.520.000 đồng. Hành vi
này không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà
còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bcáo, Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án
cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội do
hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhtrách
nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Tòa án thẩm áp dụng đầy đủ các
tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, ngoài ra cũng đã xem xét áp dụng hình phạt thấp
nhất của khung hình phạt để xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Xét mức hình phạt
Tòa án thẩm đã tuyên đối với bị cáo tương xứng, không nặng hoàn
toàn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo không
bổ sung được tình tiết giảm nhẹ mới so với các tình tiết đã được Tòa án cấp
thẩm đã áp dụng cho bị cáo, mặt khác các tài liệu và tình tiết bị cáo nêu ra tại
phiên tòa phúc thẩm không đủ n cứ xem xét cho bị cáo được hưởng án treo,
nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày kết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bcáo
Trần Lâm T.
Giữ nguyên bản án hình sự thẩm số 64/2026/HS-ST ngày 19 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực X- Đồng Tháp.
Tuyên bố bị cáo Trần Lâm T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Lâm T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị
cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều
136 Bộ luật T tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc Thẩm TAND tối cao
tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng hồ sơ nghiệp v
Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Công an tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng KTNV và THA (TAT);
- TAND Khu vực x;
- VKSND Khu vực x;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Võ Ngọc Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 178/2026/HS-PT Bản án số 178/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 178/2026/HS-PT Bản án số 178/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất