Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 15/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 15/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 15/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Điện Biên |
| Số hiệu: | 15/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Trầ Thị T và các nguyên đơn tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ với ông Lò Văn T1 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 15/2026/DS-PT
Ngày: 05/5/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng.
Các thẩm phán: Bà Đỗ Thu Hương
Bà Hoàng Thị Hoà.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa
án nhân dân tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên: Bà Nguyễn Thị Ngọc
Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 24,28 tháng 4 và ngày 05 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh Điện Biên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
05/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2025.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực Z- Điện Biên, tỉnh Điện Biên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT ngày
04/02/2026; Các Quyết định Hoãn phiên tòa phúc thẩm số 16/2026/QĐ-PT ngày
04/3/2026, số 22/2026/QĐ-PT ngày 01/4/2026; của TAND tỉnh Điện Biên đối với
vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Trần Thị T; địa chỉ: số nhà 75B, tổ 9, phưng M, tỉnh Điện Biên.
1.2. Bà Phạm Thu T1; địa chỉ: tổ 03, phưng M, tỉnh Điện Biên.
1.3. Bà Phạm Thị X; địa chỉ: số nhà 02, tổ 4, phưng Đ, tỉnh Điện Biên.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Lò Văn T2; địa chỉ: Tổ 18, phưng Đ, tỉnh Điện Biên.
2.2. Bà Lò Thị H; địa chỉ: Tổ 18, phưng Đ, tỉnh Điện Biên.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H là: Ông Lò
Văn D, địa chỉ: số nhà 48, tổ 02, phưng MT, tỉnh Điện Biên.
Người bo vệ quyền v li ch hp php của ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H:
Ông Nguyễn Xuân K; Luật sư, nơi công tác: Chi nhánh văn phòng luật sư B và
cộng sự tại Điện Biên; địa chỉ cư trú: Số nhà 64, tổ 10, phưng Đ, tỉnh Điện Biên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị V; địa chỉ: tổ 03, phưng MT, tỉnh Điện Biên;
Người đại diện theo uỷ quyền của b Nguyễn Thị V là: Bà Phạm Thị X; địa
chỉ: số nhà 02, tổ 4, phưng ĐBP, tỉnh Điện Biên.
3.2. Chị Lò Thị Phương T3, sinh năm 1986; Anh Lò Minh T4, sinh năm
1989; Anh Lò Xuân T5, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: Tổ 18, phưng ĐBP, tỉnh
Điện Biên.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Lò Thị PH T3, anh Lò Minh T4, anh
Lò X T5: Ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H; địa chỉ: Tổ 18, phưng ĐBP, tỉnh Điện
Biên. (Theo Giấy uỷ quyền được UBND phưng Đ chứng thực số: 459 quyển số
01-SCT/CK,ĐC ngày 04/5/2026).
3.3. Phòng công chứng số 01 tỉnh Điện Biên; địa chỉ: Tổ dân phố 05, phưng
ĐBP, tỉnh Điện Biên. Ngưi đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Thu H1, chức vụ:
Trưởng phòng;
3.4. Uỷ ban nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên nay là y
ban nhân dân phưng Đ, tỉnh Điện Biên; Địa chỉ: Tổ 09, phưng ĐBP, tỉnh Điện
Biên.
Người đại diện theo php luật: Ông Hà Thanh T, chức vụ: Chủ tịch UBND
phưng Đ;
Người đại diện theo uỷ quyền của ông H Thanh T: Ông Đỗ Ngọc T6, chức
vụ: Phó Chủ tịch UBND phưng Đ (Theo văn bản uỷ quyền số: 155/UBND-VP
ngày 25/7/2025).
3.5. Trung tâm phát triển qu đất tỉnh Điện Biên; Địa chỉ: Số 311, đưng Võ
Nguyên Giáp, tổ 11, phưng Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo php luật: Ông Trần Quốc L– chức vụ: Phó giám đốc
phụ trách;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Tạ Duy Th- Viên chức Trung tâm phát
triển qu đất tỉnh Điện Biên (Theo văn bản uỷ quyền số: 57/CV-TTPTQĐ ngày
29/4/2026).
* Người kháng cáo: Ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H là Bị đơn.
(Tại phiên tòa: B X, b T, ông K, ông T2, ông D, ông Th có mặt; b T1, bà
H1, ông T6, b H, b V, chị T3, anh T4, anh T5 vắng mặt)
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
sơ thẩm, các Nguyên đơn trình bày:
1.1. Ý kiến của bà Phạm Thu T1 tại đơn khởi kiện và các Biên bản lấy li
khai, Biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án (BL 01-02, 122-123; 345-
348, 695-697):
Do bà T1 và ông Lò Văn T2 có mối quan hệ thân thiết, tng nhận nhau là bố con
nên bà T1 đã nhiều lần cho chị T3 (con gái ông T2) và ông T2 vay tiền để xử lý công
việc gia đình. Trong năm 2019, bà T1 cho ông T2 vay 150.000.000 đồng để trả nợ cho
chị T3 và lần thứ 2 cho vay 650.000.000 đồng để trả nợ cho ông Nguyễn Bá N và lấy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) của thửa đất số 59-TBĐ 80 về cho ông T2. Qua
trao đổi, bà T1 biết vợ chồng ông T2 có nhu cầu bán toàn bộ nhà, đất tại thửa số 59 và
thửa số 60, t bản đồ 80, địa chỉ: Tổ A, phưng HL, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện
Biên (đất đã được cấp GCNQSDĐ nhưng thuộc quy hoạch) với giá 02 tỷ đồng; ông T2
đưa GCNQSDĐ của thửa 59 và thửa 60 (đều thuộc t bản đồ 80) cho bà T1 cầm và nói
bà T1 tìm ngưi mua giúp. Bà T1 đã rủ bà X, bà V và bà T góp tiền mua chung và
lần lượt đưa bà X, bà T và bà V lên xem nhà đất của ông T2. Sau đó, bà X, bà V
đưa tiền mặt cho bà T1 và bà T chuyển tiền cho bà T1 qua tài khoản ngân hàng
(mỗi ngưi 500 triệu) để bà T1 đại diện đứng ra giao dịch trực tiếp về việc mua nhà,
đất với ông bà T2 – H (số tiền này là tài sản riêng của các bà, không liên quan đến ai
khác). Bà T1 đã đối tr 800 triệu ông T2 vay vào số tiền 02 tỷ và trực tiếp giao số
tiền còn lại cho vợ chồng ông T2. Ngày 06/12/2019, các bên đã thống nhất lập Biên
bản tha thuận giao nhận mặt bằng (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) có
nội dung: "bn gia đnh đ thanh ton đủ tiền tha thuận mua bn gia hai bên (gi hai
bên tha thuận bn 2 tha đt trên trị gi 2.000.000.000 đ - hai tỷ đng chn) v gia
đnh ông Lò Văn T2 b Lò Thị H đ nhận đủ tiền mua bn trên.....Bên bn đ bn giao
cho bên mua ton b quyền s dng đt v ti sn trên đt đng vi hiện trạng, bên
mua đ nhận ton b quyền s dng đt v ti sn trên đt đng hiện trạng. Hai bên
cng đc v đng k biên bn tho thuận giao nhận ny"; Sau khi hai bên bàn giao
nhà, đất cho nhau trên thực tế, bà T1 đã đưa 02 GCNQSDĐ của thửa 59, thửa 60 cho
bà X quản lý.
Vì cả 4 bà đã có nhà riêng, việc mua nhà đất cng chỉ nhằm đầu tư để sinh
li, lúc đó gia đình ông T2 chưa bố tr được chỗ ở nên bà T1 đã đề nghị các bà X,
T, V cho gia đình ông T2 thuê lại nhà, đất để sử dụng; khi nào Nhà nước thu hồi
nhà, đất trên thì các bà s được nhận tiền đền bù và suất đất tái định cư, s có lãi
nên 4 bà đã đồng ý; các bên đã lập hợp đồng cho ông bà T2-H thuê nhà đất và tài
sản gắn liền với đất, thi hạn thuê 01 năm tính t ngày 01/2/2020 đến 01/2/2021,
giá thuê 500.000đ/tháng. Ông bà T2 - H đã ký tên vào hợp đồng thuê nhà trên.
Để hoàn thiện về thủ tục, ngày 14/01/2020, hai bên đã đến văn phòng công
chứng số 01 tỉnh Điện Biên cùng thống nhất ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền
4
sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số công chứng
161/2020 và đối với thửa số 59 với giá 200.000.000 đồng và Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số công chứng 162/2020 và đối với thửa số 60 với giá 15.000.000 đồng. Hết thi
hạn thuê nhà đất, các bà không ký hợp đồng gia hạn mà vn tiếp tục cho gia đình
ông T2 sử dụng vì vợ chồng ông T2 là chỗ thân tình của bà T1, các bà cng chưa
thu tiền thuê nhà của vợ chồng ông T2 vì hoàn cảnh của ông khó khăn.
Tuy nhiên, khi Nhà nước có quyết định thu hồi, kiểm đếm để lập phương án
bồi thưng đối với nhà, đất thì ông T2 không thông báo cho các bà biết; Khi làm
việc đơn vị kiểm điếm, ông T2 cng không thông báo với cơ quan nhà nước về
việc nhà, đất nêu trên đã được chuyển nhượng cho bốn bà T1, X, T, V nên cơ
quan nhà nước đã quy chủ nhà, đất là của vợ chồng ông T2 để được hưởng quyền
lợi của ngưi có đất bị thu hồi.
Khi biết được thông tin trên, các bà T1, X, T, V đã yêu cầu gia đình ông T2
di chuyển chỗ ở, trả lại nhà, đất để các bà kê khai nhận tiền đền bù nhưng gia đình
ông T2 cố tình chiếm giữ nhà, đất trên. Mâu thun hai bên đã được y ban nhân
dân phưng HL, thành phố Điện Biên Phủ hòa giải nhưng không thành nên bốn
bà phải làm đơn khởi kiện đến Tòa án buộc ông T2, bà H phải bàn giao lại nhà,
đất cho các nguyên đơn và đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo Biên bản thoả thuận giao nhận mặt bằng ngày 06/12/2019
có hiệu lực pháp luật.
1.2. Ý kiến của các bà Phạm Thị X, Trần Thị T; Nguyễn Thị V đã được thể
hiện tại đơn khởi kiện chung mà 03 bà đã ký cùng bà T1 (BL01-02) cả 03 bà đều
nhất tr với li trình bày của bà T1 về việc bà T1 rủ mua chung thửa đất số 59,60
và tài sản trên đất của vợ chồng ông bà T2 - H, kỷ phần mỗi ngưi góp 500 triệu
đồng; Các bà đã chuyển đủ số tiền 500 triệu đồng cho bà T1 để bà T1 trả tiền cho
vợ chồng ông T2. Ngày 06/12/2019, các bên đã thống nhất lập Biên bản tha thuận
giao nhận mặt bằng (quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất 59 và thửa 60);
Vì bà T1 nói vợ chồng ông T2 chưa bố tr được chỗ ở mới nên 4 bà đã đồng ý cho vợ
chồng ông T2 thuê lại nhà đất và lập Hợp đồng thuê nhà, đất; Ngày 14/01/2020 vợ
chồng ông T2 đã ra văn phòng công chứng số 01 Điện Biên để ký 02 Hợp đồng chuyển
nhượng QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản trên đất đối với thửa 59 và thửa 60 cho 04
bà T1, X, T, V. Việc chuyển nhượng nhà, đất, ký kết các hợp đồng chuyển nhượng,
hợp đồng thuê nhà được thực hiện khi các bên tỉnh táo, minh mn, không ai bị ép
buộc. Các bà X, T, V đều thống nhất đề nghị Tòa án buộc ông T2, bà H phải bàn
giao lại nhà, đất cho các nguyên đơn và công nhận Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo Biên bản thoả thuận giao nhận mặt bằng ngày 06/12/2019
có hiệu lực pháp luật (BL 08-10; 122-123; 287-288, 473-475, 503, 504-505).
Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án sơ thẩm, UBND thành phố Điện Biên
Phủ (nay là UBND phưng Đ) đã ban hành quyết định thu hồi đất cng như quyết
định phê duyệt phương án bồi thưng đối với thửa 59, 60 thuộc Dự án Khu đô thị
5
mới HL, pha đông đưng 60m, tại khu A nên các nguyên đơn thống nhất rút lại
nội dung khởi kiện về việc đề nghị Tòa án buộc ông T2, bà H phải bàn giao lại
nhà, đất cho các nguyên đơn. Đối với tiền thuê chưa trả của ông T2, bà H, các
nguyên đơn cng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
2. Tại bản tự khai ngày 08/01/2024 (BL 45-47), Bị đơn ông T2 và bà H
trình bày:
Do cần tiền làm sổ đ, trang trải cuộc sống và trả nợ cho các con nên ông T2
nhiều lần vay tiền mặt của bà Phạm Thu T1, cụ thể:
- Lần 1 vào khoảng tháng 3/2019 vay 150 triệu để làm sổ đ thửa đất số 59
tại tổ 18, phưng HL, thành phố Điện Biên Phủ, ông T2 đã trả 50 triệu cho bà T1,
còn nợ lại 100 triệu.
- Lần 2 vay 650 triệu để trả nợ cho anh Nguyễn Bá N rút sổ đ ra, ông T2
chưa trả bà T1 đồng nào.
Nguồn gốc của khoản vay này là do trước đó vào tháng 9/2019, chị Lò Thị
Phương T3 (con gái ông T2) có vay ông Nguyễn Bá N 650 triệu đồng, khoản vay
được đảm bảo bởi GCNQSDĐ thửa đất số 59 mang tên Lò Văn T2, Lò Thị H; ông
T2, bà H nhất tr đưa sổ đ cho T3 đi vay. Sau đó, bà T1 biết việc gia đình ông
T2 đang nợ ông N, gia đình lại khó khăn nên bà T1 hi ông T2 có sang nhượng
nhà đất để có tiền trả nợ không thì bà T1 giúp. Ông T2 nói nếu tìm được ai mua
cả hai thửa 59, 60 ở phưng HL với giá 02 tỷ đồng thì nhất tr bán. Đến tháng
10/2019, bà T1 cùng chị T3 và ông T2 đến nhà ông Nguyễn Bá N thống nhất bà
T1 trả thay ông T2 số tiền đã vay là 650 triệu để rút GCNQSDĐ ra. Sau khi huỷ
hợp đồng vay tiền và rút được GCNQSDĐ ra, bà T1 và ông T2 thống nhất cả hai
sổ đ của thửa số 59, 60 s do bà T1 giữ. Tại văn phòng công chứng, công chứng
viên và ông T2 đã nói với bà T1 đất nằm trong quy hoạch nhưng bà T1 nói s tìm
ngưi mua và tự lo thủ tục chuyển nhượng. Vợ chồng ông T2 nhất tr cho bà T1
cầm sổ để sang nhượng nhưng mọi rủi ro bà T1 phải chịu.
Sau đó, ông T2 có nhu cầu cần tiền nên lại đề nghị vay của bà T1. Các lần
vay hai bên đều ký nhận vào sổ của bà T1, ông T2 không giữ bản nào, cng không
chụp ảnh lại, mọi chứng cứ đều do bà T1 giữ. Trước khi ký biên bản thoả thuận
giao nhận mặt bằng ngày 06/12/2019, ông T2 đã nhận của bà T1 04 lần đều là tiền
mặt: một lần 100 triệu ngày 22/10/2019, ba lần còn lại không nhớ rõ ngày nào
nhưng đều vào tháng 11/2019: một lần vay 51 triệu; một lần vay 20 triệu; một lần
vay 10 triệu. Tổng 04 lần là 181 triệu. Như vậy tổng số tiền ông T2 đã nhận trước
tháng 12/2019 t bà T1 là 831 triệu đồng. Bà T1 đã dn một vài ngưi đến xem
nhà, đất nhưng ông T2 không nhớ những ngưi đó là ai. Một thi gian sau, bà T1
có nói với ông T2 là đã tìm được ngưi mua nhà, đất với giá 02 tỷ đồng. Ông T2
nhất tr bán và nh bà T1 lo giúp mọi thủ tục giấy t, các loại ph phải nộp, bà T1
nhất tr.
Đối với biên bản thoả thuận giao nhận mặt bằng ngày 06/12/2019, tại trang
02 phần bên giao đúng là chữ ký, chữ viết của vợ chồng ông T2 và ông bà không
6
đề nghị Toà án giám định chữ ký chữ viết. Biên bản chỉ có 01 bản do bà T1 giữ,
ông T2 không được biết, đến khi hoà giải tại phưng thì ông T2 mới biết có biên
bản này. Nội dung thoả thuận trong biên bản vợ chồng ông T2 không được bàn
bạc, thoả thuận. Ông T2 có nói với bà T1 bán 02 thổ đất và nhà với giá 02 tỷ và
có nh bà T1 tìm ngưi nhưng t đầu đến cuối vợ chồng ông T2 chỉ bàn bạc và
nhận tiền, giao sổ đ với bà T1, không biết đến các bà X, Tuyết, Vn.
Đến đầu năm 2020, bà T1 bảo ông T2 là có ngưi mua nhà rồi và bảo vợ
chồng ông T2 ra văn phòng công chứng để ký kết. Tại văn phòng công chứng vợ
chồng ông T2 mới biết bên mua là T1 và các bà X, T, V. Ông T2 nói với T1 khi
ông và bà H ký bán nhà, đất xong thì phải trả tiền sòng phẳng thì bà T1 nhất tr.
Trong hợp đồng chuyển nhượng có ghi bên nhận chuyển nhượng là bà T1, bà T,
bà X, bà V nhưng chỉ có mỗi bà T1 lên ký ở văn phòng; 03 bà còn lại không có
mặt. Vợ chồng ông T2 cng thắc mắc với bà T1 là giá chuyển nhượng nhà, đất
hai bên thoả thuận là 02 tỷ nhưng theo 02 hợp đồng công chứng thì giá trị của hai
thửa đất 59,60 chỉ có 215 triệu thì bà T1 nói ông bà không phải lo, cái đấy là việc
của chúng cháu. Vì tin tưởng và thiếu hiểu biết nên ông T2 cng nhất tr ký tên và
bảo bà T1 mang hợp đồng chuyển nhượng đã ký tại văn phòng công chứng và tiền
còn thiếu lên cho ông T2.
Sau khoảng 01 tháng, bà T1 có lên nhà chốt lại số tiền còn nợ và bảo trong
số 02 tỷ tiền mua nhà đất, ông bà chỉ còn 400 triệu thôi và bà T1 ngay hôm đó đã
trả tiền mặt 200 triệu trước cho vợ chồng ông T2, việc trả tiền không có giấy t
gì; còn 200 triệu bà T1 bảo s trả sau. Ông T2 đã đến tận nhà bà T1 để đi đòi 200
triệu còn lại như bà T1 đã hứa. Như vậy, tổng số tiền ông T2 nhận t bà T1 do
bán nhà, đất là 1.233.000.000 đồng. Sau đó, ông T2 cng đi đòi số tiền còn lại cho
đủ 02 tỷ tiền bán nhà, đất như thoả thuận nhưng bà T1 nói đã trả hết rồi nên không
trả tiền cho ông T2. Một thi gian sau thì các bà T, T1, V, X làm đơn lên UBND
phưng đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai với ông T2. Hoà giải không thành
nên hai bên quay về có thoả thuận với nhau: gia đình ông T2 phải trả 04 bà số tiền
là 2.450.000.000 đồng, nếu thiếu tiền thì bán đất đi trả họ nhưng phải làm giấy uỷ
quyền cho họ nên vợ chồng ông T2 không nhất tr. Vì vậy, các bà mới tiếp tục
khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T2 có đơn phản tố đề nghị tòa án giải quyết
tuyên vô hiệu đối với 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là: Hợp đồng
công chứng số 161/2020, quyển số 1 TP/CC-SCC/HĐCN ngày 14/01/2020, thửa
số 59, TBĐ số 80, địa chỉ thửa đất tổ 18, phưng HL, thành phố Đ và Hợp đồng
công chứng số 162/2020, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐCN ngày 14/01/2020, thửa
đất số 60, TBĐ 80, địa chỉ tổ 18, phưng HL, thành phố Đ.
Tại biên bn ly lời khai ngy 12/3/2024 (BL 118-120), ông T2 trình bày: Do
cần tiền nên vợ chồng ông T2 mang sổ đ của thửa đất số 59 cầm cố cho ông
Nguyễn Bá N để vay 650 triệu, một thi gian bà T1 có vào nhà nói chuyện và nói
bà T1 s cho ông T2 mượn tiền để trả cho ông N, ông T2 nói chuyện đó với bà H.
7
Thực tế bà T1 đã đưa cho ông T2 mượn 650 triệu để trả ông N tại Văn phòng công
chứng Xuân Phúc. Ông T2 và bà T1 thống nhất là bà T1 s giữ cả 2 sổ đ (thửa
số 59 và thửa số 60) để làm tin, khoản tiền bà T1 đã trả cho ông N thay ông T2
thì vợ chồng ông T2 phải có trách nhiệm trả cho bà T1, bà T1 không nói về việc
tnh lãi suất đối với khoản vay của ông T2 và nói là: đất của nhà ông T2 thuộc
diện giải toả sau này được nhận tiền đền bù thì trả lại số nợ cho bà T1 thì bà T1
s trả sổ đ cho ông T2, bà H.
Sau đó, vợ chồng ông T2 tiếp tục vay tiền của bà T1 nhiều lần, cụ thể: lần 1
ngày 22/10/2019 vay 100 triệu; lần 2 tháng 11/2019 vay 51 triệu đồng; lần 3 tháng
11/2019 vay 20 triệu; lần 4 tháng 11/2019 vay 10 triệu; lần 5 tháng 1/2020 vay 96
triệu; lần 6 tháng 1/2020 vay 50 triệu; lần 7 tháng 3/2020 vay 35 triệu; lần 8 tháng
3/2020 vay 17 triệu; lần 9 tháng 10/2020 vay 4 triệu. Tổng cộng 9 lần trên là 383
triệu. Cả 09 lần vay tiền 2 bên không viết giấy vay tiền, mà chỉ dựa trên sự tin
tưởng ln nhau, có một số lần ông T2 thấy bà T1 có ghi vào trong sổ của bà T1
và yêu cầu ông T2 k xác nhận, còn pha ông T2 thì không có văn bản lưu lại. Vợ
chồng ông T2 cng chưa trả được số tiền vay trên cho bà T1.
Thi điểm đó bà T1 có đến nhà và hi ông T2, bà H có chuyển nhượng đất
không, vợ chồng ông T2 có nói là nếu chuyển nhượng với giá là 02 tỷ phải trả đủ
một lần thì mới bán, bà T1 bảo ông T2, bà H cứ yên tâm bà T1 s trả đủ. Vào ngày
14/01/2020, bà T1 gọi điện và nói vợ chồng ông T2 ra Văn phòng công chứng số
1 tỉnh Điện Biên k hợp đồng chuyển nhượng đất, ông T2 hi bà T1 là chuyển
nhượng như thế nào thì bà T1 trả li cô chú cứ ra văn phòng công chứng. Lúc đó,
bà T1 đang cầm cả 2 sổ đ thửa số 59 và thửa số 60 nên ông bà hiểu là chuyển
nhượng đất của cả 2 sổ đ. Do nghĩ rằng đang nợ bà T1 tiền nên ông T2, bà H
mới cùng k tên vào hợp đồng ngày 14/01/2020. Chữ k và chữ viết trong hợp
đồng đúng là của ông T2 và bà H nên không đề nghị toà giám định chữ k và chữ
viết trong hợp đồng chuyển nhượng trên.
Tuy nhiên sau đó bà T1 lại không giữ li hứa, không trả đủ 02 tỷ mà chỉ đưa
cho ông T2 mỗi lần một t tiền. Trước đó các bên chỉ thoả thuận bằng miệng
(không có văn bản hay bản ghi âm nào) là giá chuyển nhượng phải là 02 tỷ nhưng
sau khi k vào hợp đồng chuyển nhượng ngày 14/1/2020, thì bà T1 mới đến nói
với ông bà T2 H tiền chuyển nhượng đất còn lại chỉ còn 202 triệu, sau đó bà T1
trả tiền đất cho ông T2 nhiều lần (tính t lần thứ 5 đến lần thứ 9) như đã khai ở
trên.
Tại biên bn ly lời khai ngy 05/12/2024 (BL 285-286), biên bn ly lời
khai ngy 19/8/2025( BL 653-657), ông T2, bà H khai b sung:
Năm 1993, vợ chồng ông T2 có mua nhà, đất của bà Lò Thị Phượng (là thửa
số 59), sau đó vợ chồng khai hoang phục hóa và mở rộng diện tch canh tác lên gần
2.000m
2
tại phố HL 5, phưng HL, thị xã Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu (sau này
đổi thành tổ 18, phưng HL, thành phố Điện Biên Phủ). Tiền mua đất là của hai vợ
chồng, quá trình khai hoang phục hóa cả 03 con còn nh (chị T3 - sinh năm 1986,
8
anh T4 - sinh năm 1989, anh T5 - sinh năm 1991) nên không đóng góp công sức
gì. Khi nhà nước có chủ trương cấp Giấy chứng nhận đất nông nghiệp nên ông bà
kê khai, năm 1998 được nhà nước cấp 363m
2
đất ao cá cho hộ ông Lò Văn T2 đối
với thửa số 119, t bản đồ 19, sau này là thửa số 60, t bản đồ 80, thi hạn sử dụng
t năm 1998 đến năm 2018, đã gia hạn đến năm 2068. Tại thi điểm cấp Giấy
chứng nhận, hộ ông T2 có 05 nhân khẩu là: ông T2, bà H và 03 con (T3, T4, T5).
Đối với thửa đất số 59, t bản đồ 80 là đất ở, do vợ chồng ông T2 mua của
bà Lò Thị P; Năm 2019 ông T2, bà H mới làm sổ đ cho phần đất ở. Sổ đ mang
tên ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H. Nhà sàn, nhà cấp bốn nằm trên thửa đất này; khi
ông bà dựng nhà sàn và xây nhà cấp bốn, các con ngưi đang đi học, ngưi mới
ra công tác nên cng không đóng góp gì. Sau khi xây dựng xong, ông bà cho các
con ở cùng, trong gia đình cng đã thống nhất về việc ông T2, bà H tặng cho các
con các nhà để ở nhưng không làm văn bản, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ông bà khai khi nhận tiền t bà T1 thì chỉ có chị Lò Thị Phương T3 biết nhưng
không rõ đó là tiền gì còn anh Lò Văn T4, anh Lò Xuân T5 đều không biết việc
ông T2 nhận tiền t bà T1; khi lấy tiền t bà T1 để mua xe máy và lo việc cho các
con, ông bà cng không nói cho các con biết nguồn gốc tiền do đâu mà có.
Tại phiên tòa, bị đơn đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu Biên bản tha thuận bàn
giao mặt bằng ngày 06/12/2019. Luật sư Nguyễn Xuân K có ý kiến đề nghị Tòa
án đình chỉ giải quyết vụ án do bà V không ký, không nhất tr việc khởi kiện
nhưng lại có tên trong đơn khởi kiện; không có việc chuyển nhượng nhà đất giữa
ông T2, bà H với bốn bà: T1, X, T, V mà mọi tranh chấp đều chỉ là giữa ông T2
và bà Phạm Thu T1.
3. Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ý kiến của chị Lò Thị Phương T3, anh Lò Minh T4, anh Lò X T5
(BL 702,705,707):
Theo văn bản trình bày ý kiến thì Chị T3, anh T4, anh T5 là con đ của ông
Lò Văn T2 và bà Lò Thị H. Khi bố m anh chị mua đất, khai hoang, phục hóa,
mở rộng diện tch và dựng nhà sàn, nhà cấp bốn và các công trình kiến trúc khác
trên đất thì các anh, chị đều không đóng góp gì, thi thoảng các anh chị chỉ đóng
góp tiền sinh hoạt ph cho bố m do ở chung. Việc bố m làm nhà cho các con
trong gia đình đã thống nhất miệng với nhau nhưng không tách thửa được vì đất
đã thuộc quy hoạch. Riêng chị T3o có biết việc ông T2 nhận tiền của bà T1 để lấy
sổ đ ra, sau đó ông T2 cng không nói gì với chị T3. Anh T4 và anh T5 đề không
biết ông T2 lấy tiền chỗ bà T1 để lo công việc trong gia đình.
3.2. Ý kiến của Ủy ban nhân dân thành ph Đ, nay là Ủy ban nhân dân
phường Đ tại Công văn s 952/UBND-TNMT ngày 11/4/2024 (BL164-165):
Thửa đất số 59, 60 t bản đồ 80 nằm trong quy hoạch theo Quyết định số
607/QĐ-UBND ngày 13/8/2014 về việc phê duyệt quy hoạch phân khu đa chức
năng dọc trục đưng 60m thuộc Khu đô thị mới pha Đông thành phố Điện Biên
Phủ. Đến thi điểm hiện tại, căn cứ Quyết định số 911/QĐ-UBND ngày 05/6/2023
9
của UBND tỉnh Điện Biên thì các thửa đất trên của ông T2, bà H thuộc dự án Khu
đô thị mới HL, pha đông đưng 60m tại khu A nằm trong quy hoạch chi tiết tỷ
lệ 1/500 tại Quyết định số 1492/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 và Quyết định số
793/QĐ-UBND ngày 11/5/2023 về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch
chi tiết xây dựng 1/500 Khu đa chức năng dọc đưng 60m, thành phố Điện Biên
Phủ. Dự án Khu đô thị mới HL, pha đông đưng 60m tại khu A đang được triển
khai thực hiện theo Quyết định số 1609/QĐ-UBND ngày 08/10/2023 của UBDN
thành phố Điện Biên Phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thu hồi đất, lập pH án bồi
thưng, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án Khu đô thị mới HL pha đông đưng
60m tại khu A và Thông báo số 2443/TB-UBND ngày 13/10/2023 về việc Thông
báo thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị mới HL pha đông đưng 60m tại
khu A cho ông (bà) Lò Văn T2, Lò Thị H.
Khi chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì ngưi sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ và được thực hiện các
quyền của ngưi sử dụng đất theo quy định pháp luật. Cụ thể:
Theo quy đinh tại Khoản 7,8 Điều 49 Luật đất đai năm 2013 được sửa đổi
bởi khoản 1 Điều 6 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan
đến quy hoạch 2018 thì: nhà, đất nằm trong quy hoạch bị hạn chế một số quyền,
tuy nhiên không hạn chế quyền chuyển nhượng đối với nhà, đất nằm trong quy
hoạch mặc dù có kế hoạch kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện hay
chưa. Do đó, ngưi có nhà, đất nằm trong quy hoạch vn có thể chuyển nhượng.
UBND thành phố Đ còn cung cấp toàn bộ hồ sơ thu hồi, giải phóng mặt bằng
đối với hai thửa đất 59,60 cng như hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa số 59 của ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H; còn hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ
thửa số 60 hiện UBND thành phố Đ không có tài liệu lưu trữ nên không cung cấp
được.
T sau 01/7/2025, UBND phưng ĐBP kế tha quyền và nghĩa vụ của
UBND thành phố Đ. UBND phưng Đ có văn bản trình bày ý kiến và đề nghị Tòa
căn cứ vào hồ sơ, tài liệu để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
3.3. Ý kiến của Ban quản lý dự án và phát triển qu đt khu vực 1 (BL682)
Ban quản lý dự án, phát triển qu đất khu vực 1 trực thuộc UBND tỉnh Điện
Biên trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại Ban quản lý dự án các công trình thành phố
Điện Biên Phủ, Trung tâm phát triển qu đất thành phố Điện Biên Phủ và Ban
quản lý dự án và phát triển qu đất huyện Mưng ng theo quyết định số
1273/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của UBND tỉnh Điện Biên. Ban có chức năng
cung ứng dịch vụ công giải phóng mặt bằng theo khu vực liên xã phưng gồm
phưng ĐBP và các xã: Mưng Phăng, Nà Tấu, Mưng ng, Búng Lao, Mưng
Lạn, Thanh Nưa. Ban có tư cách pháp nhân.
Hộ Phạm Thị X, Trần Thị T, Phạm Thu T1, Nguyễn Thị V, Lò Văn T2, Lò
Thị H đến thi điểm ngày 08/9/2025 có 05 pH án bồi thưng giải phóng mặt bằng
với tổng số tiền là 1.626.679.754 đồng tại các quyết định số: 133, 331, 420, 559,
728. Về tranh chấp giữa các đương sự, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
pháp luật. Hiện số tiền bồi thưng thửa đất số 134 và 157 tại tổ 18, phưng HL,
10
thành phố Điện Biên Phủ thuộc dự án Khu đô thị mới HL, pha đông đưng 60m
tại khu A do Ban quản lý dự án và phát triển qu đất khu vực 1 quản lý và s thực
hiện chi trả căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tóa án và các
quy định pháp luật có liên quan.
3.4. Ý kiến của bà Nguyn i L- nguyên công chng viên công chng
các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt ngày 14/01/2020 đi vi hai
thửa đt 59,60 tờ bản đồ 80 (BL 402-403) thể hiện:
Vào ngày 14/01/2020, bà L có tiếp nhận hồ sơ hai bên. Ngưi yêu cầu công
chứng xuất trình bản chnh của các giấy t quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật
công chứng 2014 để công chứng viên đối chiếu trước khi ghi li chứng, ký hợp
đồng, giao dịch và chứng nhận đối với hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm:
1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất công chứng số: 161/2020, quyển số 1 TP/CC-
SCC/HĐCN ngày 14/01/2020, thửa số 59, TBĐ số 80, địa chỉ thửa đất tổ 18,
phưng HL, Thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất công chứng số: 162/2020, quyển số 01 TP/CC-
SCC/HĐCN ngày 14/01/2020, thửa đất số 60, TBĐ 80, địa chỉ tổ 18, phưng HL,
thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Giữa bên chuyển nhượng là ông Lò Văn T2 và bà
Lò Thị H và bên nhận chuyển nhượng là các bà: Phạm Thị X, Phạm Thu T1,
Nguyễn Thị V, Trần Thị T.
Toàn bộ giấy t tùy thân, giấy t chứng minh tài sản và quá trình hai bên ký
kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất trên tại Phòng công chứng số 01 tỉnh Điện Biên được thực
hiện đúng theo quy trình, quy định của pháp luật; toàn bộ li chứng của công
chứng viên là khách quan, đúng sự thật, đúng quy định pháp luật. Các ông, bà có
tên trong hợp đồng chuyển nhượng đều ký, điểm chỉ trước mặt công chứng viên;
tại thi điểm ký kết, tất cả các bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện
thoả thuận với nhau.
Tại thi điểm xác lập hai Hợp đồng chuyển nhượng tại Phòng công chứng
số 01 tỉnh Điện Biên, giá mua và bán là do hai bên tha thuận và tự chịu trách
nhiệm về giá chuyển nhượng quyền sử dụng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất và cung cấp cho công chứng viên, cùng tự thực hiện và chịu trách
nhiệm trước pháp luật, không có sự chứng kiến của công chứng viên và không
yêu cầu công chứng viên xác minh. Căn cứ vào sự tự nguyện và ý ch của hai bên
công chứng viên đã ghi nhận vào trong Hợp đồng chuyển nhượng, công chứng
viên thấy việc ghi giá chuyển nhượng như trên là không vi phạm điều cấm, không
trái đạo đức xã hội. Thi điểm đó bà T1 cng có nói ông T2 là bố nuôi của bà T1
nên mới nhất tr bán nhà, đất với giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng trên.
Ngoài giấy t tùy thân, giấy t chứng minh tài sản, việc các bên trước đó có xác
lập Biên bản thoả thuận nội dung khác ngoài hai Hợp đồng chuyển nhượng số
11
công chứng: 161 và 162 hay không bản thân công chứng viên tại thi điểm đó
không thể biết.
Bà L không ý kiến hay yêu cầu đề nghị gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và bị đơn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Hiện
nay bà Lê không còn công tác tại Phòng công chứng số 01 tỉnh Điện Biên và do
bận công việc gia đình nên đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt trong tất
cả các phiên toà.
4. Ý kiến của ông Nguyn Bá N
Khoảng vào năm 2018-2019, chị T3 là con của ông Lò Văn T2, và bà Lò Thị
H ở tổ 18, phưng HL, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, chị T3 có đến nhà ông N đề
nghị vay tiền nhiều lần, cụ thể tng lần vay bao nhiêu tiền ông N không nhớ rõ
nhưng tổng cộng là 650.000.000 đồng, khoản vay trên được đảm bảo bằng sổ đ
mang tên ông T2, bà H. Khi chị T3 mang sổ đ đến thế chấp để vay tiền, chị T3
có nói bố m chị là ông T2, bà H có biết việc này và cng nhất tr để cho chị T3
dùng sổ đ thế chấp cho khoản vay trên. Để tuân thủ đúng theo quy định của pháp
luật, ông N đã đề nghị ông bà T2, bà H ra Văn phòng công chứng Xuân Phúc để
ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất t ông T2, bà H sang cho ông N.
Ông T2, bà H nhất tr nên hai bên đã thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng
tại Văn phòng công chứng Xuân Phúc. Có lần chị T3 mi ông Nđến nhà chơi, ông
N cng hi ông T2, bà H về khoản nợ trên thì ông bà cng nói là đang xem có ai
mua đất không thì s bán để lấy tiền trả nợ cho chị T3, lúc đấy ông T2, bà H có
nói bán cả thổ đất (trên đất có một nhà sàn) thì giá giao động t 2,8 tỷ đến 2,9 tỷ;
Ông N thấy giá bán như thế là cao nên không mua.
Sau đó một thi gian thì chị T3 có đưa bà T1 đến nhà ông N và bảo có chị
T1 muốn mua đất, muốn ông N làm hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà T1, còn
số tiền chị T3 nợ, bà T1 s đứng ra trả hết. ông N nhất tr nên sau đó ba bên cùng
đến Văn phòng công chứng Xuân Phúc để hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông
T2, bà H với ông N. Tại Văn phòng công chứng có mặt ông N, chị T3, ông T2, bà
H, bà T1 đã trả đủ tiền cho ông N và tất toán khoản nợ giữa ông N với chị T3, bà
T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T2, bà H với ông N để ông
T2, bà H ký lại hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho bà T1. Việc hai bên đã bàn
giao đất và nhận tiền chưa ông N không biết. Ông N chỉ biết tại văn phòng công
chứng ông T2, bà H đã nhất tr chuyển nhượng đất cho bà T1, còn về sau tranh
chấp như thế nào ông N không rõ.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm s: 19/2025/DS-ST, ngày 16 tháng 9 năm
2025 và Quyết định sửa chữa bổ sung Bản án sơ thẩm s
03/2025/QĐSCBSBA ngày 30/10/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 1- Điện
Biên, tỉnh Điện Biên quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều
158, khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
12
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều
của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chnh, Luật tư pháp ngưi chưa
thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Điều 123, khoản 2 Điều 129, Điều 212, khoản 2 Điều 213 Bộ luật
dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2, 4 Điều 98 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều khoản 7,8 Điều 49 Luật đất đai năm 2013 được sửa đổi bổ sung
bởi khoản 1 Điều 6 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan
đến quy hoạch 2018,
Căn cứ Điều 2, Điều 3 Luật đất năm năm 1993;
Căn cứ khoản 6 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chnh phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai;
Căn cứ Điều 1, Điều 2, Điều 3 Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chnh
phủ về việc bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đch sản xuất nông nghiệp;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về
án ph và lệ ph Tòa án.
Tuyên x:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: công nhận một
phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Biên bản tha thuận bàn
giao mặt bằng đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ở thửa số 59, t bản
đồ số 80 và một phần thửa số 60, t bàn đồ 80 (tương ứng với 2/5 phần quyền của
ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H tại thửa số 60) tại địa chỉ: Tổ 18, phưng HL, thành
phố Điện Biên Biên Phủ, nay là tổ 18, phưng ĐBP, tỉnh Điện Biên.
Tuyên vô hiệu 1 phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Biên
bản tha thuận bàn giao mặt bằng đối với 3/5 phần quyền của chị Lò Thị Phương
T3, anh Lò Minh T4, anh Lò Xuân T5 tại thửa số 60, t bản đồ 80 tại địa chỉ: Tổ
18, phưng HL, thành phố Đ, nay là tổ 18, phưng Đ, tỉnh Điện Biên. Về hậu quả
của hợp đồng vô hiệu một phần mặc dù Tòa án đã giải thch quyền yêu cầu nhưng
các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lò
Văn T2, bà Lò Thị H trả lại nhà, đất cho thuê.
1.2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tuyên bố hai hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng công chứng số 1 tỉnh Điện Biên
ngày 20/01/2020 đối với thửa 56, 60 là vô hiệu. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu
mặc dù Tòa án đã giải thch quyền yêu cầu nhưng các đương sự không yêu cầu giải
quyết nên không xem xét.
2. Về án ph và chi ph xem xét thẩm định tại chỗ.
2.1. Về án ph:
13
Bị đơn phải chịu án ph dân sự sơ thẩm không có giá ngạch nhưng bị đơn là
ngưi già có đề nghị miễn án ph nên miễn án ph dân sự sơ thẩm cho bị đơn. Trả
lại cho bị đơn số tiền tạm ứng án ph 300.000 đồng theo biên lai số 0000936 ngày
11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, nay là Phòng thi hành án
dân sự khu vực 1 – Điện Biên.
Trả lại các nguyên đơn tiền tạm ứng án ph đã nộp 300.000 đồng theo biên
lai số 0000052 ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, nay
là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Điện Biên.
2.2. Về chi ph xem xét thẩm định tại chỗ: Ghi nhận sư tự nguyện của các
đương sự về việc nguyên đơn bà T, và X tự nguyện chịu toàn bộ tiền xem xét
thẩm định tại chỗ là 15.000.000 đồng. Bà T, bà X đã nộp đủ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy
định của pháp luật.
Ngày 03/10/2025, ông T2 và bà H nộp đơn kháng cáo, theo nội dung kháng cáo
thì Bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại mục 1.1. của
phần quyết định trong Bản án.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa cấp phúc thẩm, pha nguyên đơn giao
nộp các tài liệu về việc các bà T1, X, T, V góp tiền riêng của cá nhân để cùng nhau
mua đất của ông bà T2 – H. Bà Phạm Thị X giao nộp thêm Giấy chuyển nhượng giữa
bà T1 và X (có ông Nguyễn Xuân N là chồng của bà T1 xác nhận), theo đó bà T1
chuyển nhượng kỷ phần của bà T1 cho bà X và đồng ý để bà X được nhận phần của
bà T1 là 1/4 giá trị của diện tch đất mà 04 ngưi nhận chuyển nhượng t ông Lò Văn
T2, bà Lò Thị H tại tổ 18, phưng HL.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất được với nhau về việc giải
quyết đối với nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tha
thuận của các đương sự vào bản án.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên:
1. Cấp phúc thẩm: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán
chủ tọa và những ngưi tiến hành tố tụng, ngưi tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Kháng cáo của bị đơn đúng thi hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự và có đủ nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 272 Bộ luật tố tụng dân
sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự tha thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tha thuận vào bản án. Việc
tha thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật
và không trái đạo đức xã hội căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng Dân sự đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự tha thuận
của các đương sự. Án ph sơ thẩm và phúc thẩm đề nghị xác định theo quy định
của pháp luật.
14
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung yêu
cầu kháng cáo của bị đơn, li trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm,
ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về t tụng:
[1.1] Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định tại thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên theo quy
định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
tố tụng dân sự. Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
[1.2] Xét thấy bà T1, bà L, ông T6, bà H đã có văn bản trình bày ý kiến trong
quá trình giải quyết vụ án, việc vắng mặt của bà T1, ông T6, bà H và Đại diện văn
phòng công chứng tại phiên toà phúc thẩm không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ
án; căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 296/BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định
tiếp tục xét xử vắng mặt họ.
[1.3] Việc xác định tư cách những ngưi tham gia tố tụng
- Xét tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị V: Căn cứ vào li khai lập
ngày 22/7/2025 (BL475) có đủ cơ sở khẳng định bà V không ký đơn khởi kiện,
việc bà V nh bà T1 viết đơn và ký tên không có ngưi làm chứng; Tuy nhiên bà
V là ngưi góp tiền mua chung diện tch đất tại thửa số 59, 60 cùng các tài sản
gắn liền với đất và có yêu cầu giống với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn,
căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 169
của Bộ luật tố tụng dân sự, cần sửa tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị
V là Ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Theo Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 07/4/2026 của UBND tỉnh Điện
Biên thì Trung tâm Phát triển qu đất tỉnh Điện Biên là Ngưi kế tha, quyền và
nghĩa vụ tố tụng của Ban quản lý dự án và phát triển qu đất khu vực 1 tham gia
tố tụng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm với tư cách là Ngưi có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án.
2. Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các ông bà: X, T, T2, ngưi đại diện của Trung tâm
Phát triển qu đất tỉnh Điện Biên và ngưi đại diện của bà V, bà H, chị T3, anh
Thân, anh T2 đã tha thuận được với nhau về việc giải quyết đối với nội dung
kháng cáo. Trước đó, Bà T1 đã ký vào văn bản chuyển nhượng kỷ phần của bà T1
cho bà X và 02 ngưi đã thống nhất với nhau về việc bà X được nhận 2/4 giá trị (là
phần của bà T1 và phần của bà X) đối với diện tch đất tại thửa 59, 60 và nhà, tài sản
khác trên diện tch đất nhận chuyển nhượng.
Vì vậy ông T2 và bà H thay đổi nội dung kháng cáo và đề nghị Tòa án sửa một
phần bản án sơ thẩm; ông T2, bà H và bà T, X, V, ngưi đại diện của chị T3, anh T4,
anh T5, Trung tâm phát triển qu đất tỉnh Điện Biên nhất tr và đề nghị Toà án công
nhận nội dung đã thoả thuận, cụ thể như sau:
15
2.1. Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Biên bản tha thuận
ngày 06/12/2019 về việc bàn giao mặt bằng đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên
đất ở thửa số 59, t bản đồ số 80 và thửa số 60, t bản đồ 80; địa chỉ thửa đất tổ 18,
phưng HL, Thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữa bên chuyển nhượng là ông Lò Văn T2,
bà Lò Thị H và bên nhận chuyển nhượng là bà Trần Thị T, bà Phạm Thu T1, bà Phạm
Thị X, bà Nguyễn Thị V.
2.2. Bà Trần Thị T, bà Phạm Thu T1, bà Phạm Thị X, bà Nguyễn Thị V được
nhận số tiền 1.603.462.694 đồng; Trong đó 1.587.985.654 đồng là tiền bồi
thưng, hỗ trợ về đất ở, đất nông nghiệp, tài sản vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi
trên thửa đất số 59, t bản đồ số 80 (tức thửa số 134, TBĐ 93) và 15.487.040 đồng
tương ứng với 2/5 số tiền bồi thưng, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, cây trồng
vật nuôi trên thửa đất số 60, t bản đồ số 80 (tức thửa số 157, TBĐ 93) do chủ
đầu tư (Trung tâm phát triển qu đất tỉnh Điện Biên) chi trả theo các Quyết định
đã phê duyệt, bao gồm: Quyết định số 133/QĐ-UBND ngày 23/01/2025; Quyết
định số 331/QĐ UBND ngày 15/3/2025; Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày
20/03/2025; Quyết định số 559/QĐ-UBND ngày 10/4/2025; Quyết định số 728
ngày 29/4/2025 của UBND thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Cụ thể mỗi ngưi được nhận tiền như sau:
- Bà Trần Thị T được nhận ¼ tương đương với số tiền là: 400.865.673 đồng;
- Bà Nguyễn Thị V được nhận ¼ tương đương với số tiền là: 400.865.673 đồng;
- Bà Phạm Thị X được nhận 2/4 (gồm phần của bà X và phần của bà Phạm Thu
T1) tương đương với số tiền là: 801.731.347 đồng.
2.3. Chị Lò Thị Phương T3, anh Lò Minh T4, anh Lò Xuân T5 được nhận
tổng số tiền 23.217.060 đồng, tương ứng với 3/5 số tiền bồi thưng, hỗ trợ đối
với đất nông nghiệp, tài sản trên thửa đất số 60, t bản đồ số 80 (tức thửa 157,
TBĐ 93) do chủ đầu tư chi trả theo các Quyết định đã phê duyệt, bao gồm: Quyết
định số 133/QĐ-UBND ngày 23/01/2025; Quyết định số 331/QĐ UBND ngày
15/3/2025; Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 20/03/2025; Quyết định số
559/QĐ-UBND ngày 10/4/2025; Quyết định số 728 ngày 29/4/2025 của UBND
thành phố Đ.
Cụ thể: Chị Lò Thị Phương T3, anh Lò Minh T4, anh Lò Xuân T5 mỗi
ngưi được nhận 1/3 tương đương với số tiền: 7.739.020 đồng.
2.4. Bà Phạm Thị X có trách nhiệm trả lại cho ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H:
01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N864225, vào sổ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 19.QSDĐ/38/1998/QĐ-UB, cấp ngày 02/7/1998 cho hộ ông Lò
Văn T2 (bản gốc) và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản số
CP 039534, số vào sổ cấp GCN: CH31920, cấp ngày 29/8/2019 cho ông Lò Văn T2
và bà Lò Thị H (bản gốc).
2.5. Trung tâm phát triển qu đất tỉnh Điện Biên có trách nhiệm thực hiện: lập
phương án và xem xét, giải quyết bồi thưng, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ gia đình
ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H theo quy định của pháp luật về đất đai (bao gồm xem xét
16
việc giao đất; giải quyết hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ
tiền thuê nhà, hỗ trợ di chuyển, ghi nợ tiền sử dụng đất, hỗ trợ suất tái định cư, hỗ trợ
ổn định đi sống, hỗ trợ khác (nếu có).
2.6. Trong trưng hợp ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H được giao đất thì phải nộp
tiền bồi thưng về đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Xét thấy nội dung tha thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều
cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308
của Bộ luật tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận sửa một phần bản
án sơ thẩm, công nhận sự tha thuận của các đương sự.
[3] Về án ph:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Do các đương sự đã thoả thuận được với nhau việc
giải quyết nội dung tranh chấp nên chỉ phải chịu 50% tiền án ph dân sự sơ thẩm có
giá ngạch đối với số tiền đã thoả thuận và cần xác định lại nghĩa vụ chịu án ph dân sự
sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 148 BLTTDS, điểm b
khoản 3 Điều 27; khoản 2, khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
của y ban thưng vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng, án ph, lệ ph Tòa án và Danh mục kèm theo.
Xét thấy, các ông bà: Phạm Thị X, Nguyễn Thị V, Lò Văn T2, Lò Thị H là ngưi
cao tuổi và đều đề nghị được miễn án ph dân sự nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm
đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 chấp nhận miễn án ph dân
sự sơ thẩm có giá ngạch cho các ông bà T2, H, X, V; Đồng thi xác định số tiền án
phí mà bà T, chị T3, anh T4, anh T5 phải chịu như sau:
- Tiền án ph dân sự sơ thẩm có giá ngạch mà bà T phải chịu là ½ của số tiền án
phí áp dụng đối với trưng hợp các bên hoà giải thành là:
½ x {(20.000.000 + (4% x 865.673)): 2} = ½ x 10.017.313 = 5.008.656 đồng;
- Chị T3, anh T4, anh T5 mỗi ngưi phải chịu án ph dân sự sơ thẩm có giá ngạch
là: 5% x 7.739.020 = 386.951 đồng;
- Trả lại cho bà Trần Thị T số tiền tạm ứng án ph đã nộp (cho các nguyên
đơn) là 300.000 đồng theo biên lai số 0000052 ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, nay là Phòng thi hành án dân sự khu
vực 1 – Điện Biên.
- Trả lại cho ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H số tiền tạm ứng án ph dân sự
sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0000936 ngày 11/3/2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, nay là Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 1 - Điện Biên.
3.2. Án ph dân sự phúc thẩm: Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều
148/BLTTDS 2015; khoản 5 Điều 29; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thưng vụ Quốc hội quy
định về án ph, lệ ph Tòa án và Danh mục mức án ph, lệ ph Tòa án: ông Lò Văn
T2 và bà Lò Thị H là ngưi cao tuổi và có đơn xin miễn án ph dân sự phúc thẩm

17
nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án ph dân sự phúc thẩm cho ông Lò Văn
T2 và bà Lò Thị H.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 5 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 148 của
Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 27; khoản 2, khoản 5 Điều 29, điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của y ban thưng vụ Quốc Hội ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án
ph, lệ ph Tòa án;
Tuyên xử:
1. Sửa một phần Bản án sơ thẩm s: 19/2025/DS-ST, ngày 16/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực Z- Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự cụ thể như sau:
1.1. Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Biên bản tha
thuận ngày 06/12/2019 về việc bàn giao mặt bằng đối với quyền sử dụng đất và
tài sản trên đất ở thửa số 59, t bản đồ số 80 và thửa số 60, t bản đồ 80; địa chỉ
thửa đất tổ 18, phưng HL, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữa bên chuyển nhượng
là ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H và bên nhận chuyển nhượng là bà Trần Thị T, bà
Phạm Thu T1, bà Phạm Thị X, bà Nguyễn Thị V.
1.2. Bà Trần Thị T, bà Phạm Thu T1, bà Phạm Thị X, bà Nguyễn Thị V được
nhận số tiền 1.603.462.694 đồng; Trong đó 1.587.985.654 đồng là tiền bồi
thưng, hỗ trợ về đất ở, đất nông nghiệp, tài sản vật kiến trúc, cây trồng vật nuôi
trên thửa đất số 59, t bản đồ số 80 (tức thửa 134, TBĐ 93) và 15.487.040 đồng
tương ứng với 2/5 số tiền bồi thưng, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, cây trồng
vật nuôi trên thửa đất số 60, t bản đồ số 80 (tức thửa 157, TBĐ 93) do chủ đầu
tư (Trung tâm phát triển qu đất tỉnh Điện Biên) chi trả theo các Quyết định đã
phê duyệt, bao gồm: Quyết định số 133/QĐ-UBND ngày 23/01/2025; Quyết định
số 331/QĐ UBND ngày 15/3/2025; Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày
20/03/2025; Quyết định số 559/QĐ-UBND ngày 10/4/2025; Quyết định số 728
ngày 29/4/2025 của UBND thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Cụ thể mỗi ngưi được nhận tiền như sau:
- Bà Trần Thị T được nhận ¼ tương đương với số tiền là: 400.865.673 đ;
- Bà Nguyễn Thị V được nhận ¼ tương đương với số tiền là: 400.865.673đ;
- Bà Phạm Thị X được nhận 2/4 (gồm phần của bà X và phần của bà Phạm
Thu T1) tương đương với số tiền là: 801.731.347 đ.
18
1.3 Chị Lò Thị Phương T3, anh Lò Minh T4, anh Lò Xuân T5 được nhận
tổng số tiền 23.217.060 đồng, tương ứng với 3/5 số tiền bồi thưng, hỗ trợ đối với
đất nông nghiệp, tài sản trên thửa đất số 60, t bản đồ số 80 (tức thửa 157, TBĐ
93) do chủ đầu tư chi trả theo các Quyết định đã phê duyệt, bao gồm: Quyết định
số 133/QĐ-UBND ngày 23/01/2025; Quyết định số 331/QĐ UBND ngày
15/3/2025; Quyết định số 420/QĐ-UBND ngày 20/03/2025; Quyết định số
559/QĐ-UBND ngày 10/4/2025; Quyết định số 728 ngày 29/4/2025 của UBND
thành phố Đ.
Cụ thể: Chị Lò Thị Phương T3, anh Lò Minh T4, anh Lò Xuân T5 mỗi
ngưi được nhận 1/3 tương đương với số tiền: 7.739.020 đồng.
1.4. Bà Phạm Thị X có trách nhiệm trả lại cho ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị
H: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N864225, vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 19.QSDĐ/38/1998/QĐ-UB, cấp ngày 02/7/1998 cho
hộ ông Lò Văn T2 (bản gốc) và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản số CP 039534, số vào sổ cấp GCN: CH31920, cấp ngày 29/8/2019
cho ông Lò Văn T2 và bà Lò Thị H (bản gốc).
1.5. Trung tâm phát triển qu đất tỉnh Điện Biên có trách nhiệm thực hiện
lập phương án và xem xét, giải quyết bồi thưng, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ
gia đình ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H theo quy định của pháp luật về đất đai (bao
gồm xem xét việc giao đất; giải quyết hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm
việc làm; hỗ trợ tiền thuê nhà, hỗ trợ di chuyển, ghi nợ tiền sử dụng đất, hỗ trợ
suất tái định cư, hỗ trợ ổn định đi sống, hỗ trợ khác (nếu có).
1.6. Trong trưng hợp ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H được giao đất thì phải
nộp tiền bồi thưng về đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
[2] Về án phí:
2.1. Án ph dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị T phải chịu 5.008.656 đồng tiền án ph dân sự sơ thẩm có giá
ngạch.
- Chị Lò Thị Phương T3, anh Lò Minh T4, anh Lò Xuân T5 mỗi ngưi phải
chịu 387.000 đồng tiền án ph dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Miễn án ph dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho: bà Phạm Thị X, bà Nguyễn
Thị V, ông Lò Văn T2, bà Lò Thị H.
- Trả lại cho bà Trần Thị T số tiền tạm ứng án ph đã nộp (cho các nguyên
đơn) là 300.000 đồng theo biên lai số 0000052 ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Đ, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Điện
Biên, tỉnh Điện Biên.
- Trả lại cho ông Lò Văn T2 số tiền tạm ứng án ph dân sự sơ thẩm đã nộp là
300.000 đồng tại biên lai số 0000936 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Đ, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh
Điện Biên.

19
2.2. Án ph dân sự phúc thẩm: Miễn án ph dân sự phúc thẩm cho ông Lò
Văn T2 và bà Lò Thị H.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án (05/5/2026).
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hnh n dân sự bo cho người đưc thi hnh n dân
sự, người phi thi hnh n dân sự biết: Trong trường hp bn n, quyết định đưc
thi hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hnh n dân sự th người đưc thi hnh
n dân sự, người phi thi hnh n dân sự có quyền tho thuận thi hnh n, quyền
yêu cầu thi hnh n, tự nguyện thi hnh n hoặc bị cưỡng chế thi hnh n theo quy
định tại cc điều 6, 7 v 9 Luật Thi hnh n dân sự; Thời hiệu thi hnh n đưc
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hnh n dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- TAND KV1- Điện Biên;
- Phòng T.H.A DS - KV1-Điện Biên;
- Cc đương sự;
- Lưu h sơ v n.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Thị Thu Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm