Bản án số 378/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 378/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 378/2026/DS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 378/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Văn H buộc ông Hà Phương N trả lại cho ông Lê Văn H phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 2.936,7m2 tọa lạc tại ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau. Các đương sự liên hệ Cơ quan chức năng để đi
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 378/2026/DS-PT
Ngày: 28 - 5 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế;
Bà Tiêu Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Hứa Như Nguyện - Là Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng 4 năm 2026
về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 291/2026/QĐ-PT ngày 21
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Văn H, sinh m 1947; Căn cước công dân số:
096047002817; cấp ngày: 09/08/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội; Cư trú tại: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn H: Ông Nguyễn Hải
D, là Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Ông Hà Phương N, sinh năm 1973; Căn cước côngn số:
096073009384; cấp ngày: 30/08/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về
trật tự xã hội; Cư trú tại: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền bị đơn: Ông Trương Minh K, sinh năm 1965;
Căn cước số: 096065009118, cấp ngày: 23/01/2025, nơi cấp: Bộ C1; trú tại:
Khóm G, phường H, tỉnh Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/02/2026) (có
mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Hà Quốc V, sinh năm 1965 (vắng mặt);
2. Bà Hà Kim T, sinh năm 1967 (vắng mặt);
3. Hà Thị Kiều L, sinh năm 1971 (vắng mặt);
4. Hà Kiều L1, sinh năm 1975 (vắng mặt);
Cùng cư trú tại: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên
đơn trình bày như sau:
Vào khoảng năm 1969 ông H được cha mẹ tặng cho phần đất nông nghiệp tọa
lạc tại ấp C, P, huyện P, tỉnh Mau, ông quản lý. Đến năm 1980, ông nhận
chuyển nhượng thêm của mẹ ông là cụ Quách Kim H1 (đã chết năm 2008) 02 phần
đất với diện tích 04 công tầm lớn, với giá 40 giạ lúa. Khi chuyển nhượng không
làm giấy tờ, chỉ thỏa thuận miệng và ông có quản lý sử dụng 02 công trên phần đất
này, còn lại 02 công do mẹ ông cho người khác thuê nên chưa giao đất cho ông.
Đến ngày 15/8/1995 ông được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CN QSDĐ) với diện tích 40.700m
2
tọa lạc ấp
C, P, huyện P, tỉnh Mau, tờ bản đồ s01, thuộc thửa đất số 280, 281, 282,
283, 284 544. Thời điểm làm thủ tục ông mới phát hiện trong phần đất ông đã
nhận chuyển nhượng từ mẹ ruột thuộc thửa 283 với diện tích 2.660m
2
do chị ruột
ông là Kim Đ quản lý, sử dụng. Đến năm 2008 mẹ ông mất, ông đã nhiều lần yêu
cầu bà Lê Kim Đ giao trả lại thửa đất 283 nêu trên cho ông nhưng Đ không đồng
ý. Do hoàn cảnh, điều kiện khó khăn nên ông chưa khởi kiện. Năm 2014 Lê Kim
Đ chết, ông Phương N (con bà Đ) là người trực tiếp quản lý phần đất. Do đó, nay
ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hà Phương N trả lại phần đất theo đo đạc
thực tế có diện tích là 2.936,7m
2
, thuộc thửa 283 tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp C, xã P,
tỉnh Cà Mau. Ông thống nhất với kết quả đo đạc, định giá, không có ý kiến gì khác.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trương Minh K trình bày:
Nguồn gốc phần đất trước đây của ngoại ông N cụ Quách Kim H1 cho
mẹ ông là bà Lê Kim Đ. Sau khi mẹ ông chết thì ông quản lý, sử dụng cho đến nay.
Mẹ ông N là Kim Đ cũng được Nhà nước cấp đất Đ đã quản lý, sử dụng
phần đất đến khi già yếu và đến ông N quản lý, sử dụng từ trước đến nay hiện trạng
vẫn như ban đầu, không thay đổi. Ông N không lấn chiếm hay sử dụng phần
đất của ông H. Ông N chỉ quản lý, sử dụng đúng hiện trạng phần đất từ trước đến
nay. Ông N không đồng ý trả lại phần đất theo yêu cầu của ông Lê Văn H. Hiện tại
cha mẹ ông đã chết, ông tất cả 05 anh em gồm: Ông Quốc V, bà Kim T,
Hà Thị Kiều L, bà Kiều Lê . Đối với kết quả đo đạc và định giá ông N thống
nhất, không có ý kiến.
3
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn H buộc ông Phương
N trả lại cho ông Lê Văn H phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 2.936,7m
2
tọa
lạc tại ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của đương sự theo luật định.
Ngày 12/3/2026 ông Lê Văn H là nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa Bản án thẩm theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
ông H, buộc ông Phương N phải giao trả cho ông H phần đất diện tích theo
đo đạc thực tế là 2.936,7m
2
, tọa lạc tại ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau; buộc ông N phải trả
lại cho ông H tiền chi phí đo đạc, định giá là 17.388.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Lê Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Nguyễn Hải D trình bày: Ông Văn H chuyển nhượng phần đất 04
công của mẹ là cụ Quách Kim H1 nhưng chquản lý, sử dụng 02 công, còn 02 công
do chị ruột Kim Đ quản lý. Việc chuyển nhượng tuy không văn bản
nhưng có em ruột ông H và bà Đ là bà Lê Thị Ú làm chứng, bà Ú làm xác nhận.
Ông H được cấp giấy CN QSDĐ bao gồm thửa số 283 do Đ con ông
Phương N quản lý, sử dụng. Năm 2013 ông H làm đơn gửi Chính quyền địa
phương yêu cầu giải quyết nhưng không biết do biên bản không ghi nội
dung tranh chấp phần đất thửa 283 mà ghi tranh chấp 100m
2
. Lời trình bày của con
ông H Thanh T1 về việc cố phần đất tranh chấp không đúng. Đề nghị Hội
đồng xét xchấp nhận kháng cáo của ông H, sửa bản án thẩm, buộc ông
Phương N trả lại cho ông H phần đất 2.936,7m
2
.
Ông Trương Minh K trình bày: Lời trình bày yêu cầu của nguyên đơn
không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về ttụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo
pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn H, giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Văn H nguyên đơn nộp trong thời hạn
quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm
4
quyền giải quyết đã được cấp thẩm xác định thực hiện đúng theo quy định
pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông H Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Tại Công văn số 05/CNMT-TV869, ngày 11/02/2026 của ng ty trách
nhiệm hữu hạn T4 xác định phần đất đang tranh chấp giữa ông H và ông Phương
N tọa lạc tại ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau theo trích đo hiện trạng ngày 22/10/2025 nằm
trong giấy CN QS của ông H thuộc một phần thửa số 283 và thửa số 284, tờ bản
đồ số 1.
[2.2] Tại Đơn khởi kiện ngày 29/7/2024 và Bản tự khai ngày 29/7/2024, ông
H xác định: “Vào khoảng năm 1969, tôi được cha mẹ tặng cho phần đất nông nghiệp
nay tọa lạc tại ấp C, P, huyện P, tỉnh Mau, tôi quản sử dụng trên phần
đất này cho đến năm 1980 thì tôi nhận chuyển nhượng thêm 01 phần đất nữa từ
mẹ ruột của tôi Quách Kim H1 (nay đã mất vào năm 2008) và quản , sử dụng
ổn định trên phần đất này. Đến ngày 29/6/1995 tôi đã được UBND huyện C cấp giấy
CN QSDĐ số E 0623201; phần đất gồm các thửa đất số: 280, 281, 282, 283, 284 và
544 tờ bản đồ số 01 với tổng diện tích là 40.700m
2
; đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện
P, tỉnh Cà Mau, do tôi Lê Văn H đứng tên trên giấy CN QSDĐ. Thời điểm làm thủ
tục để cấp giấy CN QSDĐ tôi mới phát hiện trong phần đất mà tôi đã nhận chuyển
nhượng tmẹ ruột của tôi thửa đất số 283 với diện tích 2.660m
2
hiện đang do chị
ruột của tôi là bà Lê Kim Đ quản lý, sử dụng…” (bút lục 12).
Lời trình bày nêu trên của ông H thể hiện nội dung sự việc như sau: Khi ông
H chị ruột là bà Đ được mẹ là cụ Quách Kim H1 cho tặng phần đất và sau đó ông
H chuyển nhượng thêm đất của cụ H1 thì ông H, Đ mỗi người đã quản lý, sử dụng
phần đất của mình (cặp ranh với nhau) ổn định và cùng làm đơn xin cấp giấy CN
QSDĐ cùng ngày 15/5/1995, cùng được cấp giấy CN QSDĐ ngày 15/8/1995. Đến
khi được cấp giấy CN QSDĐ ông mới thấy trong giấy CN QSDĐ của ông thửa
số 283 do bà Kim Đ quản lý, sử dụng. Điều này cho thấy phần nhận định của Bản
án sơ thẩm về việc cấp giấy CN QSDĐ sai vị trí, là có căn cứ.
[2.3] Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/10/2025, ông Thanh T1 (là con ông
H) trình bày: “Trước đây vào năm 1995, ông có cố phần đất của bà Lê Kim Đ, diện
tích khoảng 02 công tầm lớn đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện P (nay là ấp C, xã P),
tỉnh Cà Mau. Thời gian cố là 03 năm, giá cố 04 chỉ vàng 24K. Sau khi hết hạn hợp
đồng, bà Lê Kim Đ chuộc lại phần đất nhưng không trả đủ số vàng, sau khi hết hạn
khoảng 01 năm thì Đ mới trả đủ vàng cho ông. Phần đất hiện đang tranh chấp
giữa ông H và ông N là phần đất ông cố trước đây của bà Lê Kim Đ.” (bút lục 82).
Lời trình bày của ông T1 như nêu trên cho thấy phần đất tranh chấp là của bà
Đ, không phải của ông H, vì nếu là đất của ông H thì không thể có việc bà Đ cố đất
cho ông T1 (là con của ông H), trong khi phần đất của ông H và phần đất của bà Đ
giáp ranh nhau.
[2.4] Tại Tờ yêu cầu do ông H ký ngày 25/10/2013, gửi Ban N1, nội dung:
“Tôi tranh chấp phần đất của ông Phương N cùng ngụ tại ấp C, P, huyện
5
P, Cà Mau, lý do như sau: Tôi có thửa đất 283 nhưng ông Hà Phương N, bà Lê Kim
Đ không đứng trong quyền sử dụng còn lấn chiếm vào thửa 284 của tôi nay đã
trên 100m
2
n đem giới bỏ đất qua btôi để tiếp tục lấn thêm nữa nhưng
thửa đất 283 nầy chỉ 2 công tầm lớn mà gọi là đất vườn nhưng trước khi ông N đem
xáng vào lần gần nhứt đây tôi nói là ông phải lấp mương chớ không bỏ đất lên bờ
tràn qua đất tôi bông quá nhỏ xáng thì lớn nvậy ông N vẫn không chịu
làm vậy mà tiếp tục bỏ qua bờ tôi nữa… (bút lục 01).
Bên cạnh đó, tại Biên bản hòa giải ngày 13/12/2013 do Ban hòa giải ấp Chà
Là, xã P lập, với nội dung giải quyết đơn yêu cầu của ông Lê Văn H yêu cầu về việc
ông Phương N lấn khoảng 100m
2
cập ranh đất với ông H. Kết quả hòa giải không
thành (bút lục 03).
Từ nội dung tranh chấp tại Tờ yêu cầu và Biên bản hòa giải nêu trên cho thấy
năm 2013 ông H đã mặc nhiên thừa nhận phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 283
là thuộc quyền sử dụng của bà Lê Kim Đ và ông Hà Phương N nên ông H chỉ tranh
chấp phần 100m
2
mà ông N đã kêu xáng múc lấn qua thửa đất 284 của ông H.
[2.5] Đối với xác nhận ca bà Lê Thị Ú về việc bà biết ông H chuyển nhượng
phần đất của mẹ cụ Quách Kim H1. Điều này không thể chứng minh phần đất
chuyển nhượng là đất tranh chấp, hiện do ông Hà Phương N quản lý, sử dụng.
[3] Từ những căn cứ phân tích trên, Bản án thẩm đã không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc yêu cầu ông Hà Phương N trả lại phần
đất 2.936,7m
2
tọa lạc tại ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau là có căn cứ. Do không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện, nên ông Văn H phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá
đúng.
Do đó Hội đồng xét xphúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông
Văn H, gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Các đương sự liên hệ quan chức năng để điều chỉnh, đăng quyền sử
dụng đất theo quy định.
[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[5] Án phí dân sphúc thẩm: Ông Lê Văn H được miễn do là người cao tuổi.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H.
6
Gi nguyên Bản án dân ssơ thẩm số: 104/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn H về việc buộc ông
Phương N trả lại cho ông Văn H phần đất theo đo đạc thực tế diện tích
2.936,7m
2
tọa lạc tại ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
Các đương sự liên hệ quan chức năng để điều chỉnh, đăng quyền sử
dụng đất theo quy định.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá là 17.388.000 đồng buộc ông Lê Văn
H phải chịu toàn bộ (Ông Lê Văn H đã thanh toán xong).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Lê Văn H được miễn.
Các quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 3 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Tải về
Bản án số 378/2026/DS-PT Bản án số 378/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 378/2026/DS-PT Bản án số 378/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất