Bản án số 153/2026/DS-PT ngày 25/05/2026 của TAND TP. Hải Phòng về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 153/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 153/2026/DS-PT ngày 25/05/2026 của TAND TP. Hải Phòng về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 153/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do chiếm giữ nhà trái phép
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 153/2026/DS-PT
Ngày 25/5/2026
V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại
do chiếm giữ nhà trái phép
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý;
Bà Vũ Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên toà: Bế Thị Na - Thư Toà án nhân dân thành phố Hải
Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 276/2025/TLPT-DS, ngày 21
tháng 11 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do chiếm giữ nhà
trái phép”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2026/QĐXXPT-DS,
ngày 19 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2026/QĐ-PT, ngày
09 tháng 02 năm 2026; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 41/2026/TB-
TA, ngày 20 tháng 3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 170/2026/QĐ-PT,
ngày 30 tháng 3 năm 2026; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số
52/2026/TB-TA, ngày 21 tháng 4 năm 2026 Thông báo thay đổi thời gian m
phiên toà số 53/2026/TB-TA, ngày 11 tháng 5 năm 2026; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thế V, sinh năm 1960; đăng thường trú: Số B (số
56) A, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số C, đường H, phường H,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang
T ông Nguyễn Văn K - Luật Công ty L4, thuộc Đoàn Luật thành phố H; địa
chỉ: Số B V, phường K, thành phố Hà Nội; đều vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ Quang T1, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ E A, phường H,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:Trần Thị Trung T2, sinh năm
1961; đăng ký thường trú: Số A, đường Đ, phường H, thành phHải Phòng; có mặt.
2
- Người kháng cáo:
1. Ông Trần Thế V, sinh năm 1960; đăng thường trú: Số B (số 56)
A, phường H, thành ph Hải Phòng; nơi ở: Số C, đường H, phường H, thành phố
Hải Phòng; là nguyên đơn.
2. Bà Trần Thị Trung T2, sinh năm 1961; đăng thường trú: Số A, đường
Đ, phường H, thành phố Hải Phòng; là người có quyền lợi và nghĩa v liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp thẩm nội dung kháng
cáo:
Theo đơn khởi kiện và ý kiến tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn (ông V)
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tnh bày: Năm 2005, ông
Trần Thế V có vay của ông Đỗ Quang T1 số tiền 635.000.000 đồng, với lãi suất từ
2.5% đến 3.5%/tháng. Tính đến năm 2006, số tiền lãi của khoản tiền vay trên
165.000.000 đồng. Do ông V chưa kịp trả lãi nên ông T1 đã cộng số tiền lãi này vào
khoản tiền gốc thành 800.000.000 đồng. Tính đến tháng 5/2008 ông V đã trả lãi cho
ông T1 tổng số tiền trên 900.000.000 đồng.
Tháng 01/2008 ông T1 lấy lý do gia hạn thời gian vay tiền bằng việc lập giấy
vay nợ mới để thay thế cho giấy vay nợ cũ. Khi lập giấy vay nợ mới, ông V yêu cầu
phải trả lại và hủy bỏ các giấy vay trước đây nhưng ông T1 không trả lại và bảo
với ông V là giấy vay cũ đã xé bỏ.
Sau một thời gian, ông T1 đưa cả giấy vay nợ cũ và giấy vay nợ mới để buộc
ông V phải nhận nợ số tiền gấp nhiều lần và yêu cầu ông V trả nợ ngay một lần cho
ông T1. Do ông V không trả được nợ khống theo yêu cầu vô lý của ông T1 nên vào
tháng 4/2008 ông T1 đã bắt ép ông V phải dừng sản xuất và đưa 03 (ba) ô tô cần cẩu
về bãi gần nhà ông T1 để ông T1 giám sát, quản lý. Đến tháng 7 năm 2010 ông T1
chiếm giữ luôn ngôi nhà 3 tầng của gia đình ông V tại địa chỉ: Số B (số C là E), A,
phường S, quận H (nay là phường H), Hải Phòng (sau đây viết tắt là nhà sB A).
Giá trị thực ngôi nhà của ông V tại thời điểmm 2010 là gần 4 (bốn) tỷ đồng.
Sau khi chiếm giữ, ông T1 đã cho người khác th lại căn nhà với giá
5.000.000 đồng/tháng. Hành vi của ông T1 đã gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến
quyền lợi ích hợp pháp của ông V. Trong suốt quá trình ông T1 chiếm giữ nhà,
ông V đã phải đi thuê nhà để ở với giá 5.000.000 đồng/tháng.
Trong quá trình giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại theo đơn khởi kiện
của Ngân hàng N1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) để buộc Công ty TNHH D2 (sau
đây viết tắt Công ty D2) trả nợ, đã được hai cấp Toà án xét xử theo Bản án
thẩm số 10/2021/KDTM-ST, ngày 15/9/2021 của Toà án nhân dân (sau đây viết tắt
TAND) quận N Bản án phúc thẩm s12/2022/KDTM-PT, ngày 23/8/2022 của
TAND thành phố Hải Phòng, ông V tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan. Ông V đã nhiều lần có đơn đề nghị yêu cầu buộc ông T1 phải trả
lại nhà đã cưỡng đoạt bồi thường cho ông V trong suốt khoảng thời gian đã cưỡng
đoạt cho người khác thuê căn nhà của ông V. Tuy nhiên, Toà án hai cấp không
giải quyết yêu cầu nêu trên của ông V trong vụ án này.
3
Tại đơn khởi kiện, ông V yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông T1 phải bồi
thường cho ông V số tiền 855.000.000 đồng do đã chiếm giữ trái phép ngôi nhà của
ông V cho người khác thuê lại trong thời gian 14 năm 3 tháng.
Tại đơn bổ sung đơn khởi kiện ông V yêu cầu: Buộc ông T1 phải bồi thường
cho ông V tổng số tiền 2.473.000.000 đồng, do hành vi chiếm giữ trái pháp luật
đối với căn nhà B A, bao gồm các khoản sau:
- Ông T1 đã cho thuê căn nhà số B A trong thời gian tính từ tháng 7 năm 2010
tạm tính đến hết tháng 8 năm 2025, là 15 năm 01 tháng (5.000.000 đồng/tháng)
906.000.000 đồng.
- Ông V phải thuê nhà để ở trong thời gian tính từ ngày tháng 7 m 2010 tạm
tính đến hết tháng 8 năm 2025, là 15 năm 01 tháng (5.000.000 đồng/tháng)
906.000.000 đồng.
- Tiền chi phí di chuyển chlà: 25.000.000 đồng do việc ông V phải di
chuyển chỗ 05 lần ông T1 cùng hội đen đến ép nhận nợ khống, chủ nhà
không cho thuê buộc ông V phải rời khỏi địa điểm thuê và đi thuê chỗ ở khác.
- Tiền sửa sang, đầu tư chỗ ở mới: 546.000.000 đồng do việc ông V phải sửa
sang chỗ ở mới 02 lần vì ông V thuê đất nên phải xây nhà trên đất để ở.
- Tiền tổn thất sức khoẻ tinh thần 50 tháng lương sở, tương đương số
tiền 90.000.000 đồng.
Tất cả những nơi ông V chuyển đến thuê ở, ông T1 cùng hội đen đến đe
doạ, cao điểm nhất ngày 10/9/2020 ông V đã trình bày ở ng an xóm B, A, A,
Hải Phòng. Ông T1 và con trai (Đỗ Quang T3) tổ chức khoảng 30 người xã hội đen
mang theo nhiều hung khí như dao, kiếm và 02 bao tải lớn (trong đó đựng ông V
không rõ) và tràn vào nhà thuê ở A đánh ông V. Ông V đã trình báo vụ việc với cơ
quan Công an. quan Công an đã cho ông V đi giám định nhưng đến nay chưa
được giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông V yêu cầu ông T1 bồi thường các khoản sau:
- Tiền ông T1 đã cho thuê nhà B A trong thời gian 15 năm 02 tháng (5.000.000
đồng/tháng) là 910.000.000 đồng.
- Tiền ông V phải thuê nđể 1.045.000.000 đồng. Trong đó tiền th
nhà từ tháng 7/2010 đến tháng 11/2021 là 5.000.000 đồng/tháng; tiền thuê nhà t
tháng 12/2021 đến tháng 9/2025 8.000.000 đồng/tháng. Từ tháng 12/2021 đến nay
ông V thuê gian nhà xưởng của Trường T6.
- Tiền chi phí di chuyển chỗ ở: 25.000.000 đồng.
- Tiền sửa sang, đầu tư chỗ ở mới: 583.300.000 đồng.
- Tiền tổn thất sức khoẻ tinh thần là: 90.000.000 đng.
- Yêu cầu ông T1 phải trả lại căn nhà số B A cho ông V.
* Ngày 26/8/2025 ông V đơn đề nghị trưng cầu giám định như sau: Ông
T1 là người lập sẵn 02 loại giấy bán nhà:
4
+ Giấy thnhất 02 bản: Giấy bán nhà do ông T1 cung cấp trong giấy không
thể hiện nội dung nhà đã thế chấp cho Ngân hàng ông T1 không ghi ngày tháng
năm; ông V người ghi ngày vào giấy bán nhà ngày 10/7/2010. Ông T1 ép nên ông
V phải ký chữ ký của ông V, ký chký của vợ con ông V (bà Trần Thị Trung T2 và
anh Trần Thế D). Đây là chữ ký giả mạo, không đúng chữ ký của bà T2, vì T2 đã
bỏ nhà đi từ ngày 23/3/2008. Dấu của Công ty D2 đóng tại chữ ký của ông V không
xác định được có phải con dấu của công ty hay không vì ông T1 ép ông V cầm dấu
cho ông T1 là người đóng dấu. Hai bản này, ông T1 cưỡng bức, cầm cả.
+ Giấy thứ hai 02 bản: Đây giấy do ông V nộp cho Toà án ghi ngày
17/7/2010 có nội dung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà số E A đang
thế chấp tại Ngân hàng; chữ của ông V; không chữ của T2; chữ
của anh D; do ông T1 ép ký. Dấu đóng giấy bán nhà này do ông V đóng nên
xác nhận đây đúng là con dấu của Công ty D2. Giấy này ông T1 giữ một bản, ông V
giữ một bản.
vậy, ông V yêu cầu trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của bà T2 dấu
của ng ty D2 tại giấy bán nhà ngày 10/7/2010 và yêu cầu trưng cầu giấy báo phát
mạo, nặc danh T2 gửi giấy bán nhà tThành phố Hồ Chí Minh ra cho Thẩm phán
G - TAND quận Ngô Quyền (cũ), số bút lục 255 - 256 của TAND quận Ngô
Quyền (cũ). Ông V đề nghị có kết luận giám định theo yêu cầu của ông V mới đưa
vụ án ra xét xử.
* Từ năm 2016, ông V đã có đơn gửi Công an quận H tố giác hành vi của ông
T1 làm khống chứng từ, vay gốc lên nhiều lần, mục đích đcưỡng đoạt nhiều tài sản
của ông V, trong đó có căn nhà số B A. Cơ quan Công an chưa giải quyết vì có hai
bản án của TAND quận Ngô Quyền và TAND thành phố Hải Phòng. Trước khi xét
xử sơ thẩm, ông V đã có đơn đề ngh tách giải quyết đối với tranh chấp vay nợ giữa
ông Vông T1 bằng mt ván khác nhưng không được chấp nhận. Vì vậy, ông V
không đồng ý với quyết định của hai bản án nêu trên và đơn đề nghị giám đốc
thẩm. TAND cấp cao tại Hà Nội đã có thông báo không chấp nhận đơn yêu cầu của
ông V. Tuy nhiên, ông V không đồng ý tiếp tục đơn đề nghị giám đốc thẩm
gửi TAND tối cao. Ngày 21/10/2024, TAND tối cao đã chấp nhận đơn đề nghgiám
đốc thẩm của ông V yêu cầu TAND Cấp cao tại Nội xem xét thủ tục giám đốc
thẩm. Đây do ông V đề nghị hoãn thi hành án đối với Bản án phúc thẩm số
12/2022/KDTM-PT, ngày 23/8/2022 ca TAND thành phố Hải Phòng.
Sau khi có Bản án phúc thẩm, ông V đã đến nhà số B A ba lần để yêu cầu ông
T1 trả nhà nhưng hai lần khác chỉ gặp người thuê nhà; một lần gặp ông T1 nhưng
ông T1 không nói gì, đóng cửa, gọi điện cho xã hội đen đến nên từ đó ông V không
đến gặp ông T1 nữa. Ông V chưa yêu cầu quan Thi hành án dân sự thi hành
quyền lợi của ông V trong hai Bản án chưa được giải quyết triệt để nên ông V khởi
kiện vụ án này để giải quyết triệt để hậu quả của giao dịch mua bán nhà 24 An Chân
giữa ông V và ông T1 vô hiệu.
* Ngày 24/9/2025 ông V đơn yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án sang quan
Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H để điều tra các hành vi của ông T1 có dấu
hiệu rõ ràng của các tội: Cưỡng đoạt tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm gitài
liệu và sử dụng tài liệu giả. Hành vi của Thẩm phán Nguyễn Hồng G đã ngầm loại
5
bỏ các tài liệu, chứng cứ của ông V chứng minh hành vi phạm tội của ông T1 ra khỏi
hồ sơ vụ án, vi phạm Điều 375 của Bộ luật Hình sự về tội Xâm phạm hoạt động
pháp.
* Tại phiên tòa, ông V nộp đơn ghi ngày 30/9/2025 đề nghị Tòa án lấy lời
khai, xác minh Trường T6 để làm rõ thời gian ông V thuê nhà, giá thuê nhà. Ông V
trình bày có hợp đồng thuê nhà nhưng vì nợ tiền thuê nhà 03 tháng nên Trường
T6 giữ hợp đồng thuê nhà và không xác nhận tiền thuê nhà cho ông V để giao nộp
cho Tòa án, mặc dù ông V đã đề nghị nhiều lần. Ông V nộp đơn đề nghị tạm ngừng
phiên tòa với lý do: Cần xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập, lấy lời khai
của những người liên quan, người làm chứng là ông Đào Trọng Đ, ông Đào Duy L,
Đinh Thị P, ông Phạm Khắc T4, Phm Thị L1, ông Văn D1, Nguyễn
Thị N, Đặng Thị H, bà Lưu Thị Hoàng T5 và ông Vũ Văn S; cần tiến hành trưng
cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà T2, anh D trên giấy bán nhà ngày 10/7/2010;
Tòa án chưa thụ yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông V về yêu cầu bồi thường về
di chuyển chỗ ở, chi phí đầu tư xây dựng, sửa sang chỗ ở mới, tổn thất tinh thần.
Tại Bản tự khai ngày 09/9/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà
sơ thẩm, bị đơn ông Đỗ Quang T1 trình bày: Việc ông V vay tiền của ông T1 vào
năm 2005 đúng, nhưng thực tế số tiền vay nợ lớn hơn số tiền 635.000.000 đồng.
Khoảng tháng 7/2010 ông V đến quan của ông T1 đang công tác trình bày việc
ông V đã chuyển nhà đi chỗ khác nên nhà số E A (số mới là 24 A) đang không ai ở
đề nghị bán nhà số E A cho ông T1 để trừ nợ. Ông V ông T1 đã thảo ra nội
dung thoả thuận mua bán căn nhà E A với giá 1.400.000.000 đồng, rồi cho đi đánh
máy. Lúc đầu, hai bên thảo ra giấy bán nhà không ghi ngày, chỉ ghi nội dung
ngày 27/7/2010 bàn giao nhà. Sau đó, ông V cầm giấy bán nhà về tự điền ngày
10/7/2010 mt tuần sau ông V mang lại giấy bán nhà đó cho ông T1 nhưng chỉ
chữ ông V đóng dấu Công ty D2, không chữ của vợ ông V (bà
T2) n ông T1 không đồng ý. Ông V đã mang giấy bán nhà đó về, một tuần sau
ông V mang lại giấy bán nhà cho ông T1 chữ của ông V, đóng dấu Công ty
D2, chữ của bà T2 chữ của anh D. Ông T1 không yêu cầu trong giấy bán
nhà phải có đóng dấu của Công ty D2, không yêu cầu chữ ký của anh D nhưng ông
V tự yêu cầu anh D đóng dấu Công ty D2. Giấy này ông T1 được nhận một
bản, còn giấy có thêm my bản nữa thì ông T1 không biết. Đối với giấy bán nhà ghi
ngày 17/7/2010 ông T1 xác nhận ký nhưng do ông T1 chủ quan vì nghĩ nội dung
giống với giấy bán nhà nêu trên nên ông T1 đã ký.
Ông T1 chỉ duy nhất 01 giấy bán nhà ghi ngày 10/7/2010 ông T1 đã
nộp bản phô tô cho Toà án đối chiếu bản chính vào ngày 07/01/2025. Hiện nay ông
T1 không còn bản chính giấy này để giao nộp cho Toà án, bản thân ông V đã thừa
nhận tự chữ ký của T2 anh D o giấy bán nhà này nên việc trưng cầu giám
định là không cần thiết. Không có việc ông T1 ép buộc ông V và vợ con ông V phải
ký vào giấy bán nhà và không có việc ông T1 có dấu Công ty D2 để đóng vào giấy
bán nhà như ông V trình bày.
Tại thời điểm giao nhà, căn nhà số B An C không ai sử dụng, vợ chồng ông
V đã chuyển đi nơi khác sinh sống ttrước. Việc mua bán nhà và bàn giao nhà giữa
ông T1ông V là hoàn toàn tự nguyện, không có việc ông T1 ép buộc ông V phải
6
ký giấy bán nhà hay bàn giao nhà; cũng không việc ông T1 thuê hội đen để đe
doạ, đánh ông V đòi nợ chỉ một mình ông đến gặp ông V để hỏi giải quyết
chuyển nhượng nhà và đất tại số B A.
Sau khi nhận nhà vào ngày 27/7/2010, ông T1 đã sửa chữa nhà nhiều lần
sinh sống đây cho đến năm 2021. Do phải đi làm thêm C nên không thường
xuyên nhà, vì vậy ông T1 nhờ một số người cháu đến trông ngiúp, hoàn toàn
không có việc ông cho người khác thuê căn nhà này. Hiện nay, ông T1 vẫn là người
đang trực tiếp quản lý căn nhà B A.
Tại Bản án phúc thẩm số 12/2022/KDTM-PT, ngày 23/8/2022 của TAND
thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Tuyên Hợp đồng bán nhà được kết giữa vợ chồng ông V, Trần Thị Trung
T2 với ông T1 vô hiệu.
Về xử hậu quả của hợp đồng hiệu: Công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự: Buộc ông V phải nghĩa vụ trả cho ông T1 tổng số tiền 1.400.000.000
đồng. Ông T1 nghĩa vụ trả lại cho ông V quyền sử dụng diện tích đất 60,75m²,
thửa số 56, tại địa chỉ số E, phố A, A, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng cùng
toàn bộ vật kiến trúc trên đất.
Sau khi Bản án phúc thẩm, ông T1 chỉ gặp ông V một lần tại nhà B A. Ông
V gọi cửa, ông T1 ra gặp nhưng ông V chỉ bảo: “Tao thấy người trong nhà thì
tao gọi”, sau đó ông V bỏ đi. Hoàn toàn không việc ông V đến yêu cầu ông T1
trả nhà và giải quyết khoản nợ với ông T1.
Khoảng hai tháng sau khi có Bản án phúc thẩm, ông V vẫn không trả tiền cho
ông T1 theo quyết định của Bản án nên ông T1 không trả nhà 24 An Chân cho ông
V đã đơn yêu cầu thi hành án gửi quan thi hành án. Chi cục Thi hành án
quận Hồng Bàng đã quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của ông T1 đã
tiến hành khảo sát căn nhà số B A vào cuối năm 2023. Từ đó đến nay Cơ quan thi
hành án chưa động thái nào thêm, ông T1 cũng không nhận được quyết định hoãn
thi hành án dân sự đối với căn nhà số B A và việc thi hành án theo yêu cầu của ông
T1 vẫn chưa giải quyết xong.
Các nội dung ông V trình bày về việc ông T1 bắt ép ông V dng sản xuất và
đưa 03 ô tô cần cẩu về bãi gần nhà để giám sát, quản lý và đến tháng 7 năm 2010 đã
chiếm giữ ngôi n24 A của ông V cho người khác thuê lại đều hoàn toàn không
đúng. Thực chất việc ông V và bà T2 bán nhà cho ông T1 để gán nợ. Ông T1 đã
quản căn nhà số B A do ông V bàn giao trên sgiao dịch mua bán, không
phải là chiếm giữ trái phép. Sau khi Bản án phúc thẩm tuyên bố giao dịch mua bán
nhà hiệu, ông T1 đã chủ động yêu cầu quan thi hành án dân sự thi hành việc
giao nhà và yêu cầu trả tiền nhưng đến nay vẫn chưa thi hành xong. Vì vậy, ông T1
không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại nêu trên của
ông V.
Tại Bản giải trình và Đơn đề nghị trưng cầu giám định cùng ngày
06/9/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Trung T2 trình
bày: T2 và ông Trần Thế V đã giải quyết ly hôn. Từ ngày 23/3/2008 bà T2 đã rời
nhà đi, không còn ở nhà số B (56 cũ) A. Năm 2021 bà T2 không rõ việc vay ngiữa
7
ông V ông T1, ngôi nhà này lại bị đưa ra xét xử tại TAND quận Ngô Quyền .
Thời điểm đó cao điểm của dịch C, T2 đang thành phố Hồ Chí Minh nên
không mặt phiên toà thẩm và phúc thẩm. Nay T2 biết việc mạo danh bà
T2 giấy bán nhà, mạo danh T2 gửi giấy bán nhà phô từ thành phố Hồ Chí
Minh ra cho TAND quận Ngô Quyền . T2 khẳng định không bán nhà, không ký
giấy bán nhà, không gửi giấy bán nhà phô tô cho TAND quận Ngô Quyền . Đề nghị
Toà án giám định chữ ký và chữ viết trong giấy bán nhà ngày 10/7/2010 do ông T1
nộp ngày 07/01/2025.
Tại Bản án dân sự thẩm số 20/2025/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
TAND Khu vực 3 - Hải Phòng đã quyết đnh:
Căn cứ vào Điều 19, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản
1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật
Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Điều 180 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều
12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thế V về việc: Buộc
ông Đỗ Quang T1 phải bồi thường cho ông V c khoản tiền do ông T1 chiếm giữ
căn nhà tại địa chỉ số B A (s56 A), phường S, quận H (nay phường H),
thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra Bản án còn tuyên v án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07/10/2025 nguyên đơn (ông V) đơn kháng cáo; ngày 11/10/2025
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Trần Thị Trung T2) đơn kháng cáo;
với nội dung đề nghị huỷ Bản án dân sự thẩm của TAND Khu vực 3 - Hải Phòng.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn là ông Nguyễn Quang T và ông Nguyễn Văn K - Luật sư thuộc Công ty
L4 - Đoàn Luật sư thành phố H; đều vắng mặt và gửi văn bản cho Hội đồng xét xử
phúc thẩm để nêu ý kiến để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.
Nguyên đơn (ông V) người trực tiếp nộp văn bản này cho Hội đồng xét xử
hoàn toàn nhất trí, đồng ý về việc các Luật sư vắng mặt và gửi văn bản trình bày ý
kiến nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên
đơn, bị đơn và người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 72 và 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên Bản án dân s thẩm số
20/2025/DS-ST, ngày 30/9/2025 ca TAND Khu vực 3 - Hải Phòng.
8
- Về án phí: Nguyên đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan người
cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ đã được xem xét tại
phiên tòa, kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
Hải Phòng tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Ngày 30/9/2025 TAND Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử thẩm vụ án; ngày
07/10/2025 nguyên đơn (ông V) Đơn kháng cáo; ngày 11/10/2025 người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan (bà T2) Đơn kháng cáo còn trong thời hạn kháng cáo
theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết: Đây vụ
án về tranh chấp bồi thường thiệt hại do chiếm giữ nhà trái phép nên tranh chấp
về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 14 Điều
26 ca Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chnơi cư trú tại phường H nên căn cứ
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản
2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng
hành chính, Luật pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản Luật Hoà giải,
đối thoại tại Toà án; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thẩm của TAND Khu vực
3 - Hải Phòng.
- Về yêu cầu trưng cầu giám định của nguyên đơn người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan:
[3] Về yêu cầu trưng cầu giám định đối với giấy báo phát gửi giấy bán nhà t
Thành phố Hồ Chí Minh ra cho Thẩm phán G - TAND quận Ngô Quyền (cũ), có số
bút lục 255 - 256 của TAND quận Ngô Quyền (cũ): Đây tài liệu, chứng cứ đã
được xem xét trong vụ án dân sự vtranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng
Công ty D2 không liên quan đến vụ án này nên Toà án cấp thẩm không
chấp nhận yêu cầuy của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về yêu cầu trưng cầu giám định chký, chữ viết của bà T2 và anh D, con
dấu của Công ty D2 trong Giấy bán nhà đề ngày 10/7/2010: Xét quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên toà phúc thẩm, ông V đã khai chính ông là người đã ký tên bà T2
anh D vào giấy bán nhà trên. Việc ông T1 mua bán nhà với nhân ông V,
T2; không phải với Công ty D2. giao dịch mua bán nhà này đã btuyên b
hiệu theo Bản án phúc thẩm số 12/2022/KDTM-PT, ngày 23/8/2022 của TAND
thành phố Hải Phòng. vậy việc trưng cầu giám định chữ viết, chữ của bà T2
anh D, con dấu của Công ty D2 không cần thiết. Toà án cấp thẩm không
chấp nhận đề nghị giám định của nguyên đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là có căn cứ.
[5] Về đnghị của nguyên đơn triệu tập, lấy lời khai của những người làm
chứng gồm: Bà Trần Thị Y, ông Đào Trọng Đ, ông Đào Duy L, bà Đinh Thị P, ông
Phạm Khắc T4, Phạm Thị L1, ông Văn D1, Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị
9
H, bà Phạm Kim H1, bà Lưu Thị Hoàng T5, ông Đặng Như L2, ông Vũ Văn S. Xét
thấy những người này đều đã văn bản thể hiện ý kiến trong hồ vụ án nên không
cần thiết phải triệu tập đến phiên toà.
[6] Về việc tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu
chứng cứ, lấy lời khai, xác minh để làm rõ thời gian, tiền thuê nhà của nguyên đơn
với Trường T6: Xét quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không khai thuê nhà của
Trường T6. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày
12/9/2025 nguyên đơn cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ
khác. Tại phiên tòa, nguyên đơn cũng không xuất trình được hợp đồng thuê nhà
cũng như bất cứ tài liệu, chng cứ nào khác để chứng minh việc nguyên đơn thuê
nhà của Trường T6. vậy, Toà án cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu này
của nguyên đơn là có căn cứ.
[7] Về việc nguyên đơn trình bày Tòa án chưa thụ yêu cầu bổ sung của
nguyên đơn: Việc nguyên đơn bổ sung thêm các khoản bồi thường về tiền nguyên
đơn đi thuê nhà, tiền di chuyển chỗ ở, tiền sửa sang, đầu tư chỗ ở mới, tiền tổn thất
sức khoẻ tinh thần đây là những ý kiến, yêu cầu bổ sung thêm về mức bồi thường
thiệt hại của yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi chiếm giữ nhà gây ra Tòa
án cấp thẩm đã thụ giải quyết, không phải là yêu cầu khởi kiện bổ sung mới
nên Tòa án không cần phải làm thủ tục thụ bổ sung. Việc bổ sung yêu cầu bồi
thường của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng
xét xử sơ thẩm có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật.
[8] Về yêu cầu chuyển hồ vụ án sang quan công an của nguyên đơn:
Ông V đưa ra yêu cầu của mình liên quan đến việc vay nợ giữa ông V, ông T1
việc giải quyết vấn đề vay nợ này của Thẩm phán Nguyễn Hồng G (TAND quận
Ngô Quyền cũ). Xét thấy các tranh chấp này đã được giải quyết bằng Bản án phúc
thẩm số 12/2022/KDTM-PT ngày 23/8/2022 của TAND thành phố Hải Phòng hiện
đã có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, tại Thông báo giải quyết đơn đề nghị giám đốc
thẩm số 102/TB-TANDCC-KDTM, ngày 15/8/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội
cũng đã nêu rõ: Tại Thông báo kết quả xác minh, giải quyết đơn số 278 ngày
04/10/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra - ng an quận H (cũ) đã kết luận việc tranh
chấp vay ngiữa ông V ông T1 là quan hệ dân sự nên Toà án giải quyết tranh
chấp giữa các bên theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự căn cứ. vậy,
không chấp nhận các yêu cầu này của ông V.
- Về nội dung:
[9] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 27/02/2008 Ngân hàng
Công ty D2 do ông Trần Thế V là người đại diện theo pháp luật Hợp đồng tín
dụng số 80202018005/HĐTD. Nội dung chính của hợp đồng: Số tiền vay
1.300.000.000 đồng, mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô cần cẩu. Một trong
các tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất thuộc thửa số 56, diện tích 60,75m², địa chỉ: Số E A, A, phường S, quận H (nay
phường H), thành phố Hải Phòng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AB090943 do UBND quận H cấp ngày 28/01/2005 cho ông Trần Thế V và bà Trần
Thị Trung T2.
10
[10] Do Công ty D2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu
cầu Công ty D2 phải trả nợ gốc, nợ lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng; trường
hợp Công ty D2 không trả được nợ, đề nghị xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa
vụ trả nợ của Công ty D2. Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Đỗ Quang T1 đơn yêu cầu độc lập đề nghị Toà án giải quyết:
Xác định hợp đồng mua bán nhà 24 An Chân giữa ông T1 vợ chồng ông V,
T2 hiệu, yêu cầu ông V, T2 phải trả cho ông T1 số tiền 820.000.000 đồng
xhậu quả của hợp đồng hiệu trên sở lỗi của vchồng ông V, T2
bằng việc trả lãi phát sinh cho ông T1 từ ngày 30/7/2010 đến ngày xét xử 15/9/2021
(mỗi năm 20%).
[11] Tại Bản án phúc thẩm số 12/2022/KDTM-PT, ngày 23 tháng 8 năm 2022
của TAND thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc Công ty D2 phải
trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ đến ngày 15/9/2021 1.536.964.124 đồng.
Trường hợp Công ty D2 không trả được số tiền trên thì Ngân hàng quyền yêu cầu
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là nhà, đất 56
A.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông T1: Tuyên bố Hợp đồng bán
nhà được ký kết giữa vợ chồng ông V, bà T2 với ông T1 hiệu.
Về xử hậu quả của hợp đồng hiệu: Công nhận sự thoả thuận của các
đương sự: Buộc ông V phải nghĩa vụ trả cho ông T1 tổng số tiền 1.400.000.000
đồng. Ông T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông V quyền sử dụng nhà, đất 56 A.
[12] Sau đó, ông V đã có đơn đề nghị xem xét theo thtục giám đốc thẩm đối
với Bản án phúc thẩm số 12/2022/KDTM-PT, với lý do: Toà án chấp nhận yêu cầu
độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ghi nhận sự tự nguyện của đương
sự trái luật, chưa giải quyết triệt để hậu quả của hợp đồng vô hiệu, không đưa
người thuê nhà số E A tham gia tố tụng, không chuyển hồ vụ án sang quan
Công an vi phạm tố tụng, ông V cho rằng ông T1 đã hành vi gian dối, ghi
khống số tiền vay mượn để chiếm đoạt tài sản của ông V.
[13] Tại Thông báo giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm số 102/TB-
TANDCC-KDTM, ngày 15/8/2024 của TAND cấp cao tại Nội đã nêu: Không
căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm số
12/2022/KDTM-PT. Do vậy, đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy
định tại Điều 92 của Bộ luật T tụng dân sự.
[14] Sau đó ông V tiếp tục có đơn đề nghị giám đốc thẩm gửi TAND Tối cao.
Tại Công văn số 4072/TANDTC-VP, ngày 21/10/2024 TAND Tối cao đã chuyển
đơn của ông V đến TAND Cấp cao tại Hà Nội để xem xét, giải quyết theo quy định
của pháp luật chứ không phải TAND Tối cao đã chấp nhận đơn đề nghị giám đốc
thẩm của ông V như ông V trình bày.
[15] Xét thấy, từ năm 2006 ông T1 đã nhiều lần cho ông V vay tiền. Số tiền
ông T1 trả cho ông V, bà T2 để nhận chuyển nhượng nhà 24 A được trừ vào số tiền
ông V vay của ông T1 trước đó. Liên quan đến việc chuyển nhượng nhà số B A, ông
V cung cấp cho Toà án bản phô tô Giấy bán nhà ghi ngày 17/7/2010; ông T1 cung
11
cấp cho Toà án Giấy bán nhà ghi ngày 10/7/2010. Giấy bán nhà ngày 17/7/2010
không chữ ký của bà T2 có thêm nội dung: “Hiện nay giấy chứng nhận quyền
sử dụng căn nhà trên Công ty đang thế chấp vay tiền ngân hàng. Vợ chồng tôi sẽ có
trách nhiệm trả ngân hàng lấy giấy tờ về cho vợ chồng anh T1 chị L3 muộn
nhất tháng 11/2010”. Như vậy, cả hai giấy bán nhà này đều chung nội dung:
Vợ chồng ông V, bà T2 bàn giao căn nhà số B A cho vợ chồng ông T1, bà L3 kể từ
ngày 27/7/2010. Ông V cho rằng việc ông đã ký tên ông, tên bà T2 và tên anh D vào
giấy bán nhà là do bị ông T1 ép buộc nhưng ông V không có tài liệu, chứng cứ gì để
chứng minh cũng không người làm chứng nào chứng kiến trực tiếp việc ông
T1 ép ông V ký vào giấy bán nhà.
[16] Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 23/6/2022 ông V và ông T1 đã
thống nhất thoả thuận với nhau về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, với nội
dung: Ông V trách nhiệm trả ông T1 tổng số tiền nợ gốc và lãi là 1.400.000.000
đồng. Ông T1 phải nghĩa vbàn giao lại nhà 24 A cho ông V để đảm bảo cho
việc Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản. Ông V trách nhiệm trả nợ thay cho
T2; ông T1 cũng nhất trí chỉ đề nghị ông V trả nợ, không yêu cầu bà T2 trả nợ.
[17] Tòa án đã ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về xử lý hậu quả của
hợp đồng hiệu tại Bản án phúc thẩm số 12/2022/KDTM-PT, đúng với ý chí tự
nguyện sự thoả thuận của ông V ông T1. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay,
ông V trình bày cho rằng thoả thuận đó là do ông bị lừa dối là hoàn toàn không
có căn cứ, bởi lẽ ông V là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức rõ về hành
vi của mình. Mặt khác ông V còn luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
mình tham gia phiên toà. Do vậy cần xác định việc thoả thuận giữa ông V và ông T1
về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nêu trên là hoàn toàn tự nguyện và đúng
quy định của pháp luật nên các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận của
mình tại Bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.
[18] Như vậy, việc ông T1 quản lý, sử dụng nhà 24 An Chân của ông V,
T2 là xuất phát từ việc được ông T1 giao nhà thông qua giao dịch dân sự mua bán
nhà. Giao dịch dân sự này đã bị Toà án tuyên bố hiệu do vi phạm quy định của
pháp luật vhình thức của giao dịch và đã được giải quyết hậu quả của giao dịch vô
hiệu theo thoả thuận của các bên bằng một Bản án đang có hiệu lực pháp luật.
[19] Tại Công văn số 24/CCTHADS-NV ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự quận Hồng Bàng, Hải Phòng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 3, Hải Phòng); Biên bản xác minh ngày 09/9/2025 và Biên bản xác minh ngày
13/5/2026 đều thể hiện nội dung:
Ngày 21/11/2022 Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng ban hành
Quyết định thi hành án số 20/QĐ-CCTHADS, theo đơn yêu cầu thi hành án ngày
21/10/2022 của ông T1, cho thi hành án đối với ông V, các khoản phải thi hành:
Buộc ông V trả cho ông T1 tổng số tiền 1.400.000.000 đồng; ông T1 nghĩa vụ trả
lại cho ông V nhà, đất thửa 56.
Ngày 27/6/2023 Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng ban hành Quyết
định thi hành án số 279/QĐ-CCTHADS, cho thi hành đối với Công ty D2, các khoản
phải thi hành: Công ty D2 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền đến ngày 15/6/2021
12
1.536.964.124 đồng. Trường hợp Công ty D2 không trả được nợ thì Ngân hàng
quyền yêu cầu quan thi hành án dân sự thẩm quyền phát mại tài sản bảo
đảm là nhà, đất 56 An Chân…
Quá trình tổ chức thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng
nhiều lần nhận được đơn đnghị hoãn thi hành án ca ông V Chi cục đều văn
bản trả lời ông V nêu lý do ông V nêu không là căn cứ để quan Thi hành án
hoãn thi hành án theo quy định pháp luật (Đơn đề nghị gần nhất ngày 04/12/2024).
Hiện nay đối với tài sản bảo đảm nhà, đất 56 A, Chi cục Thi hành án đã thực hiện
khảo sát nhưng chưa tiến hành cưỡng chế biên, xử tài sản, ông T1 vẫn đang
quản tài sản này. Bản án phúc thẩm số 12/2022/KDTM-PT vẫn chưa thi hành
xong.
[20] Như vậy, sau khi Bản án phúc thẩm, chính ông T1 người đã chủ
động có đơn đề nghị yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành Bản án đã có hiệu
lực pháp luật để thực hiện quyền đòi nợ và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nhà số
B A cho ông V. Ông T1 là người mong muốn thi hành Bản án để trả lại nhà cho ông
V lấy lại khoản tiền nợ mà ông V nhận của ông T1 từ nhiều năm nay không trả.
Do vậy cần xác định ông T1 đã thực hiện đúng quy định tại Điều 19 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Bản thân ông V người đã nhiều lần đề nghị hoãn thi hành án không
có lý do chính đáng và không được Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chấp
thuận, nên cần đánh giá ông V người không đồng ý gây cản trở việc thi hành
Bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.
[21] Từ các phân tích và đánh giá nêu trên, xét việc ông T1 là người quản lý
chiếm gicăn nhà số B A từ ngày được giao nhà (ngày 27/7/2010) đến nay không
phải là chiếm giữ nhà trái pháp luật như khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại của nguyên đơn không đủ căn cứ sở để chấp
nhận. Cần bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn (ông V) người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan (bà T2); giữ nguyên Bản án sơ thẩm của TAND Khu vực 3 - Hải
Phòng.
[22] Về các đề nghị khác của nguyên đơn liên quan đến khoản tiền vay n
giữa nguyên đơn và bị đơn; về việc nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả lại căn nhà
số B A cho nguyên đơn, đã được giải quyết tại Bản án phúc thẩm s12/2022/KDTM-
PT nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xét.
[23] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn (ông V)
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà T2) phải chịu án phí phúc thẩm nhưng
do nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều là người cao tuổi nên
được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Toà án; xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn (ông Trần Thế V) người
13
quyền lợi, nghĩa v liên quan (bà Trần Thị Trung T2); giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số 20/2025/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực
3 - Hải Phòng.
Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn (ông Trần Thế V) người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan (bà Trần Thị Trung T2) được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Hải Phòng;
- TAND Khu vực 3 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quang Kiên
Tải về
Bản án số 153/2026/DS-PT Bản án số 153/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 153/2026/DS-PT Bản án số 153/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất