Bản án số 619/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 619/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 619/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 619/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 619/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 619/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K và ông T xác lập ngày 26/6/2023 là giả tạo, che giấu hợp đồng vay tiền. Căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vô hiệu, hợp đồng vay tiền có hiệu lực. Tuy nhiện, diện tích đất trên ông T đã chuyển nhượng cho ông H và ông H đã thế chấp vay tiền ngân hàng. Mặt khác, một phần diện tích đất 1.411,9 m2/4.977,8m2 thuộc thửa số 253, tờ bản đồ số 4 đã bị nhà nước thu hồi, số tiền bồi thường ông H đã nhận là 695.292.118 đồng nên không phải tuyên vô hiệu mà buộc ông T trả lại giá trị đất 2.035.920.200 đồng cho ông K là phù hợp. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 619/2026/DS-PT
Ngày: 05-5-2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất; hợp đồng thế chấp tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Lê Thị Bích Tuyền;
+ Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Khánh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 và 05 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 953/2025/TLPT-DS ngày
24 tháng 12 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hợp đồng thế chấp tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST, ngày 25-9-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 5 - Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2026/QĐXX-PT, ngày 12 tháng
04 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đặng Đăng Trọng K, sinh năm: 1982; trú tại: Số D,
ấp T, xã V, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thân Trung Đ, sinh năm
1974; trú tại: Số A, ấp Đ, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày
19/8/2024), có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1979; trú tại: Số A, ấp B, xã T, tỉnh
Tây Ninh, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Quốc T1, sinh năm 1996;
trú tại: Tổ A, ấp H, xã M, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày
20/9/2024), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Mai Thanh T2-
Công ty luật TNHH Mai Trần thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C2; Địa chỉ: Số A đường H, ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh. Người
đại diện: Ông Trần Văn C- Trưởng văn phòng, vắng mặt.
- Ông Phạm Văn H, sinh năm 1975; trú tại: Số A, ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông H: Ông Hồ Văn P, sinh năm 1964; trú tại:
Khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
- Bà Cao Ngọc T3, sinh năm 1986; trú tại: Số A, ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt.
- Ngân hàng N; Địa chỉ: Số B L, phường G, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của ngân hàng: Ông Lâm Minh T4, chức vụ: Phó
Giám đốc điều hành Ngân hàng N - Chi nhánh khu vực Cầu V; trú tại: Ấp F, ấp
C, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Bà Đặng Thị Thu T5, sinh năm 1978; trú tại: Số A, ấp B, xã T, tỉnh Tây
Ninh, vắng mặt.
- Bà Lê Thị Hồng L, sinh năm 1987; trú tại: Số D ấp T, xã V, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt.
- Văn phòng C3; Địa chỉ: ĐT H, Ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện:
Bà Lê Thị T6- Trưởng Văn phòng C3, vắng mặt.
4. Người kháng cáo, kháng nghị: ông Đặng Đăng Trọng K là nguyên đơn;
Ông Phạm Văn H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Quyết định Kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Đăng Trọng K và quá trình
tố tụng đại diện nguyên đơn là ông Thân Trung Đ trình bày như sau: Ông Đặng
Đăng Trọng K quản lý sử dụng phần đất thửa số 253, tờ bản đồ số 4 diện tích
4.977,8m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh Long An
được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
GCN QSDĐ) vào ngày 01/4/2015.
Ông K có thế chấp QSDĐ này để vay tiền ngân hàng nhưng đến thời gian
đáo hạn, ông K không có tiền để đáo hạn, thông qua sự giới thiệu của ông Lê
Vinh S để vay tiền của ông Phạm Văn T.
Ông K có thế chấp QSDĐ thửa số 253 cho ông T để vay số tiền
800.000.000đ. Ông K có ký Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 001038, quyển
số 02/2023-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng (viết tắt VPCC) Đỗ
Thị M chứng thực ngày 26/6/2023. Ông K có nhận của ông T số tiền
710.000.000đ bằng hình thức tiền mặt và chuyển khoản (ông K không nhớ cụ thể
số tiền nhận của từng hình thức). Số tiền 90.000.000đ ông T đã khấu trừ lại đối
với ông K về phí dịch vụ 56.000.000đ, tiền lãi 24.000.000đ. Ông K không có lập
văn bản giấy vay tiền với ông T, hai bên chỉ thỏa thuận vay bằng lời nói, thỏa
thuận lãi suất 3%/tháng, thời gian là 6 tháng. Ông K có trả lãi cho ông T vào ngày
26/6/2023 với số tiền 24.000.000đ, sau đó ông K không có trả tiền lãi cho ông T.
Ông K xác định không có chuyển nhượng QSDĐ cho ông T và ông K nhận
tiền của ông T là do vay tiền ông T, không có việc chuyển nhượng đất và giao đất
cho ông T.
Sau đó, ông T chuyển nhượng cho ông Phạm Văn H.
Trước đây, ông K có trồng thanh long nhưng do thanh long không có giá
nên ông bỏ thanh long và ông Nguyễn Hữu T7 có chặt phá thanh long để trồng
lúa.
Ông K yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu vô hiệu HĐCN QSDĐ số 001038, quyển số 02/2023-TP/CC-
SCC/HĐGD do VPCC Đỗ Thị M chứng thực ngày 26/6/2023.
- Vô hiệu HĐCN QSDĐ số 1612, quyển số 02/2023-TP/CC-SCC/HĐGD
do VPCC Đỗ Thị M chứng thực ngày 18/8/2023.
- Vô hiệu Hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa ông Phạm Văn H với Ngân hàng
N đối với thửa đất số 253.
Ông K yêu cầu ông T bồi thường số tiền tổng cộng là 1.054.000.000đ bao
gồm: thiệt hại cây thanh long là 456.000.000đ, thiệt hại về cây ổi là 150.000.000đ,
hệ thống tưới tiêu 1.000.000đ, 01 lu sành chứa nước là 1.000.000đ, thu nhập bị
mất là do sản xuất nông nghiệp từ cây trồng 120.000.000đ, tiền thuê luật sư
300.000.000đ.
Bị đơn ông Phạm Văn T do ông Phạm Quốc T1 đại diện trình bày: Ngày
26/6/2023, ông T có nhận chuyển nhượng phần đất thửa số 253 tờ bản đồ số 4
diện tích 4.977,8m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh
Long An của ông K với giá 800.000.000đ, hai bên đã làm thủ tục và ông T đã
được cơ quan có thẩm quyền cấp GCN QSDĐ.
Ông K đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông T. Ngày 18/8/2023 ông T đã
chuyển nhượng phần đất này cho ông H với giá 1.000.000.000đ. Ông T đã nhận
đủ tiền và giao đất cho ông H.
Ông T không đồng ý toàn bộ theo yêu cầu khởi kiện của ông K.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K thì ông T yêu
cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng khi vô hiệu do ông K cho rằng là hợp đồng
vay nên ông T chỉ yêu cầu ông K trả tiền 800.000.000đ số tiền hợp đồng chuyển
nhượng đất, tiền lãi tính đến thời điểm xét xử, mức lãi suất 20%/năm từ ngày
26/6/2023.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H do ông Hồ Văn
P vắng mặt nhưng quá trình tố tụng có ý kiến như sau: Ngày 18/8/2023 ông Phạm
Văn H có nhận chuyển nhượng phần đất thửa số 253, tờ bản đồ số 4, diện tích
4.977,8m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh Long An
của ông T với giá 1.000.000.000đ, hai bên đã làm thủ tục sang tên và ông H đã
được cơ quan có thẩm quyền cấp GCN QSDĐ.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H có cho ông Nguyễn Hữu T7 thuê với
giá 10.000.000đ/năm, ông H đã nhận đủ tiền của ông T7, hợp đồng thuê không
có lập văn bản, thỏa thuận khi nào lấy lại thì ông H sẽ báo. Sau đó, ông T7 phá
thanh long và chuyển sang trồng lúa có xảy ra tranh chấp với ông K.
Đối với số tiền thuê 10.000.000đ mà ông H đã nhận của ông T7, giữa ông
H và ông T7 tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K thì ông H không
yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng khi vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N có đơn đề nghị vắng
mặt nhưng có ý kiến như sau:
Ông Phạm Văn H có vay vốn tại A Chi nhánh khu vực Cầu V theo Hợp
đồng tín dụng số 6617-LAV-202300901, số tiền 2.000.000.000đ, ngày vay
25/10/2023, hạn trả ngày 25/10/2028, dư nợ đến ngày 08/11/2024 là
1.500.000.000đ, nợ lãi đến ngày 08/11/2024 là 6.328.767đ.
Tài sản đảm bảo là QSDĐ thửa số 426, 460, 112 cùng tờ bản đồ số 6 cùng
tọa lạc xã B, huyện T, tỉnh Long An và thửa đất số 253 tờ bản đồ số 4 tọa lạc xã
Đ, huyện T, tỉnh Long An.
Do hợp đồng vay chưa đến hạn trả nên ngân hàng chưa có yêu cầu đòi nợ.
Nếu ông Phạm Văn H và bà Đặng Thị Thu T5 vi phạm hợp đồng tín dụng với
ngân hàng thì ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một bằng vụ án khác.
Ngân hàng đề nghị trong trường hợp có xử lý tài sản ưu tiên trả nợ gốc, lãi
cho ngân hàng trước.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan VPCC Đỗ Thị M do ông Trần Văn
C đại diện vắng mặt nhưng có ý kiến như sau: VPCC khẳng định làm đúng theo
trình tự thủ tục Luật Công chứng. VPCC yêu cầu được vắng mặt tại các cuộc hòa
giải, phiên tòa xét xử và trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan VPCC Lê Thị Thanh do bà Lê Thị
T6 đại diện vắng mặt nhưng có ý kiến như sau: Ngày 25/10/2023 VPCC Lê Thị
T6 có công chứng hợp đồng thế chấp QSDĐ số công chứng 2786, quyển số
01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD giữa vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Đặng Thị Thu
T5 với Ngân hàng N -Chi nhánh khu vực Cầu V do bà Nguyễn Ngọc H1 làm đại
diện, tài sản thế chấp là QSDĐ thửa số 253, tờ bản đồ số 4, tọa lạc ấp T, xã Đ,
huyện T, tỉnh Long An đứng tên Phạm Văn H.
Việc vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Đặng Thị Thu T5 thỏa thuận giao kết
hợp đồng thế chấp QSDĐ với Ngân hàng N -Chi nhánh khu vực Cầu V do bà
Nguyễn Ngọc H1 làm đại diện được VPCC Lê Thị Thanh công C1 là đúng đắn,
phù hợp với quy định pháp luật và Luật công chứng. Việc các nguyên bị đơn khởi
kiện đến Tòa án đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo thẩm quyền.
Vì lý do công việc, VPCC Lê Thị Thanh xin được vắng mặt trong các buổi
làm việc và các phiên tòa xét xử của Tòa án các cấp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Ngọc T3 vắng mặt nhưng
tại bản tự khai có ý kiến: Bà và ông Phạm Văn T là vợ chồng. Ngày 26/6/2023,
bà biết việc ông T nhận chuyển nhượng QSDĐ thửa số 253, tờ bản đồ số 4 của
ông K với giá 800.000.000đ. Sau khi ông T giao tiền cho ông K thì ông K đã giao
đất cho ông T sử dụng.
Ngày 18/8/2023, bà và ông T đã chuyển nhượng thửa đất số 253 cho ông
Phạm Văn H với giá 1.000.000.000đ và đã giao QSDĐ cho ông H sử dụng cho
đến nay.
Bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng L có ý kiến như sau:
Bà là vợ của ông Đặng Đăng Trọng K (có đăng ký kết hôn năm 2009). QSDĐ
thửa số 253 là tài sản riêng của ông K được cha mẹ tặng cho.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Thu T5 có đơn đề nghị
vắng mặt, tại bản tự khai ngày 27/8/2025 có ý kiến như sau: Bà là vợ của ông
Phạm Văn H. Bà thống nhất như lời trình bày của chồng là ông H và người đại
diện theo ủy quyền của ông H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số số 120/2025/DS-ST, ngày 25-9-2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Tây Ninh quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, các Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều
228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 500, Điều 503,
Điều 468, Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 137, Điều 236 Luật Đất đai năm
2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Đăng
Trọng K về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp
đồng thế chấp tài sản với ông Phạm Văn T.
1.1. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 001038, quyển
số 02/2023-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 26/6/2023
giữa ông Đặng Đăng Trọng K và ông Phạm Văn T.
1.2. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1612, quyển
số 02/2023-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 chứng thực ngày 18/8/2023
giữa ông Phạm Văn T và ông Phạm Văn H.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Đăng Trọng K về việc yêu cầu
vô hiệu hợp đồng thế chấp QSDĐ số 90b/HĐTC ngày 25/10/2023 giữa ngân hàng
N và ông Phạm Văn H, bà Đặng Thị Thu T5 do Văn phòng C3 chứng nhận đối
với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4 tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.
3. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn T về giải quyết hậu quả khi tuyên
hợp đồng vô hiệu.
3.1. Buộc ông Phạm Văn T hoàn trả cho ông Đặng Đăng Trọng K số tiền
là giá trị quyền sử dụng đất là 1.422.050.100đ (Một tỷ, bốn trăm hai mươi hai
triệu, không trăm năm mươi nghìn, một trăm đồng).
3.2. Buộc ông Đặng Đăng Trọng K trả cho ông Phạm Văn T số tiền gốc
800.000.000đ và tiền lãi 358.117.300đ, tổng cộng 1.158.117.300đ (Một tỷ, một
trăm năm mươi tám triệu, một trăm mười bảy nghìn, ba trăm đồng).
3.3. Ông Phạm Văn H được tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 253, tờ
bản đồ số 4 tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã V, tỉnh Tây
Ninh).
3.4. Đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan quản lý nhà nước về đất
đai làm các thủ tục cấp, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Đăng Trọng K yêu cầu ông
Phạm Văn T bồi thường thiệt hại số tiền 1.054.000.000đ (Một tỷ, không trăm năm
mươi bốn triệu đồng).
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành, lãi
suất chậm trả và quyền kháng cáo.
Ngày 10/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Tây Ninh Quyết định
Kháng nghị bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 5-Tây Ninh về tính giá
trị thực tế trên diện tích đất, án phí và chi phí tố tụng.
Ngày 10/10/2025 nguyên đơn là ông Đặng Đăng Trọng K kháng cáo một
phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 09/10/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn
H làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án chấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu
cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng – ông K yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng Toà án cấp sơ thẩm chưa xem
xét, xác định ngân hàng là người thứ ba ngay tình là không đúng, giải quyết hậu
quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu xác định lỗi 50%
của mỗi bên là không đúng, tính tiền lãi vay không đúng do tháng đầu ông K đã
đóng 24.000.000 đồng nên phải tính lãi tháng tiếp theo. Nếu không huỷ án thì xác
định lỗi 100% thuộc ông T và đề nghị sửa bản án sơ thẩm giao quyền sử dụng đất
cho ông K.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trình bày: Đề nghị Hội
đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ông H sửa bản án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông T và ông H.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa
Phúc thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định
của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thư ký
phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn; chấp nhận kháng cáo của ông H và Kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Tây Ninh, sửa bản án sơ thẩm theo hướng
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K và ông T;
giữa ông T và ông H. Buộc ông T trả giá trị đất cho ông K, buộc ông K trả
800.000.000 đồng tiền vốn vay và tiền lãi cho ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 25/9/2025 Tòa án nhân dân Khu vực - Tây Ninh xét
xử sơ thẩm vụ kiện, ngày 9 và ngày 10/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực
5-Tây Ninh Quyết định Kháng nghị bản án sơ thẩm; nguyên đơn là ông Đặng
Đăng Trọng K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn H nộp
đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, kháng cáo, kháng nghị trong hạn luật định, nên
vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu huỷ toàn bộ bản án
sơ thẩm do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Xét thấy, Toà
án cấp sơ thẩm xác định đúng các quan hệ tranh chấp, đưa đầy đủ người tham gia
tố tụng và giải quyết các quan hệ tranh chấp có yêu cầu của đương sự nên không
có việc vi phạm tố tụng. Yêu cầu huỷ án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Ngày 26/6/2023 ông K ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện
tích 4.977,8m
2
thuộc thửa số 253, tờ bản đồ số 4 loại đất chuyên trồng lúa nước
cho ông T với giá 800.000.000 đồng. Ngày 18/8/2023 ông T ký hợp đồng chuyển
nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Phạm Văn H với giá 1.000.000.000
đồng. Ngày 25/10/2023 ông H đã thế chấp diện tích 4.977,8m2 thuộc thửa số 253,
tờ bản đồ số 4 để vay tiền ngân hàng.
[2.1] Ông K cho rằng vay tiền 800.000.000 đồng của ông T, thời hạn vay là
06 tháng. Việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích
4.977,8m2 thuộc thửa số 253, tờ bản đồ số 4 cho ông T là để đảm bảo tiền vay
chứ thực tế ông không sang nhượng đất cho ông T. Căn cứ vào chứng cứ fie ghi
âm do ông K cung cấp cuộc nói chuyện giữa ông K và ông T – được ông T xác
định đã nói: “Mày vay tám trăm triệu, không đóng lời lãi gì hết, qua 2, 3 tháng
tao có quyền bán”. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông K và ông T xác lập ngày 26/6/2023 là giả tạo, che
giấu hợp đồng vay tiền giữa ông K và ông T là có căn cứ.
[2.2] Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 4.977,8m2
thuộc thửa số 253, tờ bản đồ số 4 từ ông T. Ngày 25/10/2023 ông H thế chấp toàn
bộ diện tích đất trên để vay tiền Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp giữa ngân hàng
và ông H đúng theo trình tự thủ tục nên có hiệu lực và đảm bảo quyền lợi của
ngân hàng là người thứ ba ngay tình công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông T và ông H.
[2.3] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K và
ông T xác lập ngày 26/6/2023 là giả tạo, che giấu hợp đồng vay tiền. Căn cứ Điều
124 Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vô hiệu,
hợp đồng vay tiền có hiệu lực. Tuy nhiện, diện tích đất trên ông T đã chuyển
nhượng cho ông H và ông H đã thế chấp vay tiền ngân hàng. Mặt khác, một phần
diện tích đất 1.411,9 m
2
/4.977,8m
2
thuộc thửa số 253, tờ bản đồ số 4 đã bị nhà
nước thu hồi, số tiền bồi thường ông H đã nhận là 695.292.118 đồng nên không
phải tuyên vô hiệu mà buộc ông T trả lại giá trị đất 2.035.920.200 đồng cho ông
K là phù hợp.
[2.4] Về xác định lỗi, do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông K và ông T là giả tạo, hợp đồng vay có hiệu lực. Căn cứ fie ghi âm do ông K
cung cấp cuộc nói chuyện giữa ông K và ông T có cơ sở xác định là ông K vay
của ông T là 800.000.000 đồng thời hạn vay là 06 tháng và vay có lãi. Ông T cho
rằng do ông K không đóng tiền lãi nên ông sang nhượng đất và thực tế ngày
26/6/2023 ông K ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T đến
ngày 18/8/2023 ông T ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên
cho ông Phạm Văn H. Như vậy, ông T là người có lỗi nên buộc ông T trả 100%
giá trị đất mà các bên thống nhất (4.977,8m
2
x 409.000 đồng/m
2
= 2.035.920.200
đồng) cho ông K là phù hợp.
[2.5] Về hợp đồng vay tiền, ông T yêu cầu ông K trả số tiền 800.000.000
đồng tiền vốn và tiền lãi tính từ ngày 26/6/2023 cho đến ngày xét xử với mức lãi
suất 20%/năm. Ông K cho rằng có vay của ông T số tiền 800.000.000 đồng, lãi
suất 3%/tháng, thời hạn vay 06 tháng và đã đóng được 01 tháng tiền lãi là
24.000.000 đồng nhưng ông T không thừa nhận tiền lãi, ông K không cung cấp
được chứng cứ, chứng minh. Do vậy, tiền lãi được tính từ ngày vay 26/6/2023
đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2025 là 02 năm 02 tháng 29 ngày x 1,66% x
800.000.000 đồng = 358.117.300 đồng. Tổng cộng tiền vốn và lãi ông K phải trả
cho ông T là 1.158.117.300 đồng.
[3] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại, ông K yêu cầu ông T bồi thường số tiền
tổng cộng là 1.054.000.000đ bao gồm: thiệt hại cây thanh long là 456.000.000
đồng, thiệt hại về cây ổi là 150.000.000 đồng, hệ thống tưới tiêu 1.000.000 đồng,
01 lu sành chứa nước là 1.000.000 đồng, thu nhập bị mất là do sản xuất nông
nghiệp từ cây trồng 120.000.000 đồng, tiền thuê luật sư 300.000.000 đồng. Ông
T không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông K.
Xét thấy, diện tích đất 4.977,8m
2
thuộc thửa số 253, tờ bản đồ số 4 là loại
đất chuyên trồng lúa nước; ông K cho rằng trên đất ông có trồng cây thanh long
và ổi. Tuy nhiên tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng là đất trồng
lúa, không có cây trồng công trình trên đất. Sau khi ông H nhận chuyển nhượng
đất từ ông T thì ông H thuê người thu dọn cây trồng trên đất và cho ông T8 thuê
lại đất để trồng lúa. Ông K cho rằng trên đất trồng cây thanh long và cây ổi và
yêu cầu bồi thường nhưng xác định có bao nhiêu cây thanh long, cây ổi và giá trị
của cây trồng thì chỉ phía ông K đưa ra mà không có biên bản ghi nhận; ông T và
ông H cho rằng cây trồng trên đất không còn giá trị sử dụng mới phá bỏ. Mặt
khác, ông K vay tiền nhưng lại ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
không quản lý đất và tài sản trên đất, kịp thời báo cáo chính quyền địa phương
khi ông H thu dọn cây trồng trên đất. Ông K cũng có lỗi và các chứng cứ ông K
cung cấp chưa đủ cơ sở vững chắc để buộc ông T và ông H bồi thường thiệt hại
nên cấp sơ thẩm bác yêu cầu của ông T9 là có căn cứ. Ông khương kháng cáo
nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không chấp nhận.
[4] Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của ông K,
chấp nhận kháng cáo của ông H và kháng nghị của Viện kiểm sát khu vực 5 –
Tây Ninh; chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát sửa bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên cấp phúc thẩm xác định lại tiền án phí
sơ thẩm các đương sự phải chịu, án phí phúc thẩm dân sự các đương sự không
phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Đặng Đăng
Trọng K, chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông
Phạm Văn H; chấp nhận kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Tây Ninh.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST, ngày 25-9-2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 5 - Tây Ninh.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều
228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 500, Điều 503,
Điều 468, Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 137, Điều 236 Luật Đất đai năm
2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Đăng Trọng K về việc yêu
cầu:
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 001038, quyển số
02/2023-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 26/6/2023 giữa
ông Đặng Đăng Trọng K và ông Phạm Văn T.
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1612, quyển số
02/2023-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 chứng thực ngày 18/8/2023 giữa
ông Phạm Văn T và ông Phạm Văn H.
Vô hiệu hợp đồng thế chấp QSDĐ số 90b/HĐTC ngày 25/10/2023 giữa ngân
hàng N và ông Phạm Văn H, bà Đặng Thị Thu T5 do Văn phòng C3 chứng nhận
đối với thửa đất số 253, tờ bản đồ số 4 tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.
2. Buộc ông Phạm Văn T hoàn trả cho ông Đặng Đăng Trọng K số tiền
2.035.920.200đ (hai tỷ, không trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi nghìn,
hai trăm đồng).
Kể từ ngày ông K có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T chưa trả số tiền trên
thì ông T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Buộc ông Đặng Đăng Trọng K trả cho ông Phạm Văn T số tiền
1.158.117.300đ (một tỷ, một trăm năm mươi tám triệu, một trăm mười bảy nghìn,
ba trăm đồng).
Kể từ ngày 26-9-2025, ông Đặng Đăng Trọng K còn phải tiếp tục trả khoản
tiền lãi đối với số tiền nợ chưa thanh toán cho ông Phạm văn T cho đến khi thanh
toán xong số tiền còn nợ, theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 Bộ
luật Dân sự
4. Ông Phạm Văn H được tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 253, tờ bản
đồ số 4 tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An (nay là xã V, tỉnh Tây Ninh).
5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Đăng Trọng K yêu cầu ông Phạm
Văn T bồi thường thiệt hại số tiền 1.054.000.000đ (một tỷ, không trăm năm mươi
bốn triệu đồng).
6. Chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn T phải nộp số tiền 1.500.000đ (Một triệu
năm trăm nghìn đồng) trả cho ông Đặng Đăng Trọng K.
7. Án phí dân sự:
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Đặng Đăng Trọng K phải nộp số tiền 81.142.300 (tám mươi mốt triệu,
một trăm bốn mươi hai nghìn, ba trăm) đồng sung vào ngân sách nhà nước nhưng
được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp 21.810.000đ (Hai mươi mốt triệu, tám trăm
mười nghìn đồng) theo biên lai 0002991 ngày 14/8/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh và 1.200.000đ (Một triệu, hai trăm nghìn đồng) theo biên lai
0009775 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh
Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5-Tây Ninh). Ông K nộp còn
phải nộp tiếp số tiền 58.132.300 (năm mươi tám triệu, một trăm ba mươi hai
nghìn, ba trăm) đồng.
- Ông Phạm Văn T phải nộp số tiền 72.718.400 (bảy mươi hai triệu, bảy
trăm mười tám nghìn, bốn trăm) đồng sung vào ngân sách nhà nước nhưng được
khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 22.933.000đ (Hai mươi hai triệu, chín trăm
ba mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0016763 ngày 11/6/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 5-Tây Ninh). Ông Phạm Văn T còn phải nộp tiếp số tiền
49.785.400 (bốn mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn, bốn trăm) đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Hoàn trả cho ông Đặng Đăng Trọng K 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
kháng cáo theo biên lai thu số 0008591 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh.
Hoàn trả cho ông Phạm Văn H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng
cáo theo biên lai thu số 0007992 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND Khu vực 5 -TN;
- THADS tỉnh TN;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hữu Chiến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm