Bản án số 22/2026/HS-PT ngày 29/05/2026 của TAND tỉnh Lào Cai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 22/2026/HS-PT ngày 29/05/2026 của TAND tỉnh Lào Cai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 22/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lý A P - Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 22/2026/HS-PT
Ngày 29-5-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân
Bà Hoàng Hải Anh
- Thư phiên tòa: Đoàn Khánh Nguyệt - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa:
Lê Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 22/2026/TLPT-HS ngày
20/4/2026 đối với bị cáo Lý A P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình
sự thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Lào Cai.
- Bị cáo kháng cáo: A P; Sinh ngày 16/01/1990 tại phường S, tỉnh
Lào Cai; Số CCCD số 010090000978, ngày cấp 18/9/2023, nơi cấp: Cục cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1.
Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường S, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động
tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Công
giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A C (Lý A T) Lồ Thị M; vợ
Thào Th P1 (Thào Th P2) và có 03 con (ln nhất sinh năm 2013, nhỏ nht sinh
năm 2023); Tiền án, Tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/10/2025,
hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh L; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
+ Bà Lý Ngọc K - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước tỉnh L; Có mặt.
+ Ông Sùng Văn N - Luật sư thuộc đoàn Luật sư Thành phố H;
Địa chỉ: Trung tâm T2, số C đường N, tổ D phường P, tỉnh Thái Nguyên;
Có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9/2025, do muốn tìm mua súng hơi để sử dụng, A P đã
sử dụng điện thoại nhân vào mạng xã hội Youtube tìm kiếm nội dung “Súng
hơi”, trên ứng dụng hiện lên Video nội dung liên quan đến súng hơi. Phừ vào
xem thấy trên đó 01 người đàn ông rao bán súng hơi kèm theo số điện
thoại để liên hệ. P gọi cho số điện thoại trên Video để hỏi mua súng hơi
thỏa thuận giá khẩu súng 3.500.000 đồng. Người đàn ông nói phải đặt cọc từ
300.000 đến 500.000 đồng đọc số tài khoản ngân hàng để P chuyển tiền đặt
cọc. Phừ đã chuyển vào số tài khoản của người đàn ông trên làm 02 lần với tổng
số tiền 500.000 đồng, người đàn ông bảo P đọc địa chỉ nói 03 ngày sau sẽ
nhận được hàng.
Khoảng 03 ngày sau, P nhận được điện thoại của người đàn ông nói,
hàng gửi đến hỏi địa chỉ để giao, P nói mang đến “Sâu Chua” (là một địa
danh thuộc phường S, tỉnh Lào Cai) đgiao hàng. Đến khoảng 00 giờ 00 thì
người đàn ông gọi điện thoại cho P, nói đã đến nơi bảo P ra nhận hàng. Sau
khi trả nốt cho người đàn ông số tiền 3.000.000 đồng, người này đưa cho P 01
hộp bìa cát tông được dán kín, P hộp bìa cát tông, kiểm tra bên trong thì thấy
một khẩu súng. Phừ mang hộp bìa cát tông về nhà, mở ra kiểm tra thì thấy
bên trong 01 khẩu súng hơi màu đen, không nòng và 01 hộp đạn, bên
trong khoảng 40 đến 50 viên đạn chì. Phừ cất giấu khẩu súng, hộp đạn vào
gầm tủ quần áo trong nhà mình, không cho ai biết. Phừ lấy nòng súng mua trên
mạng hội từ trước lắp vào khẩu súng không nòng vừa mua được mang
khẩu súng đó lên đồi cây sau nhà để bắn chim khoảng 3 đến 4 lần, P không nhớ
rõ bắn chim ở những vị trí cụ thể nào.
Do sự tranh chấp đất đai giữa gia đình P Công ty tại khu vui chơi
cầu trượt leo núi B thuộc tổ dân phố C, phường S, tỉnh Lào Cai. Ngày
15/10/2025, P đã đeo khẩu súng nêu trên ở sau lưng và dùng 01 máy cắt điện để
cắt hàng rào bảo vệ của Công ty cổ phần I (Công ty D, giải trí). Bảo vcủa
Công ty đã trình báo với Công an phường S, tỉnh Lào Cai. Công an phường đã
lập biên bản thu giữ của A P khẩu súng trên cùng một số đồ vật liên
quan đồng thời chuyển toàn bộ hồ cùng vật chứng liên quan đến quan
An ninh điều tra Công an tỉnh L để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đã ra Lệnh khám xét
khẩn cấp (số E) chỗ ở của Lý A P thu giữ:
3
- 17 vòng cao su màu đen, gồm: 01 vòng cao su đường kính 4,5 cm; 04
vòng cao su đường kính 3,2 cm; 09 vòng cao su đường kính 4,07 cm; 03
vòng cao su có đường kính 4,03 cm.
- 01 máy bơm nhãn hiệu ACEEAGLE, thân máy màu xanh dương.
Tại Kết luận giám định số 709/KL-KTHS ngày 17/10/2025 của Phòng K1
Công an tỉnh L kết luận:
+ Khẩu súng thu giữ của Lý A P là súng nén hơi, nén khí sử dụng bình nén
hơi, nén khí, thuộc danh mục khí quân dụng được quy định tại Mục II, Phụ
lục I “Danh mục k quân dụng” ban hành kèm theo Thông số
75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1. Hiện khẩu súng còn
sử dụng để bắn được khả năng gây sát thương, nguy hại đến tính mạng,
sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất.
+ Trong băng đạn nòng của khẩu súng gửi giám định 10 viên đạn
kim loại (Bên trong băng đạn màu xanh 04 viên, bên trong nòng súng 06
viên đạn), loại đạn hình nấm, cỡ 5,5mm, loại đạn sử dụng cho các loại súng
nén hơi, nén khí, thuộc danh mục khí quân dụng được quy định tại Mục II,
Phụ lục I “Danh mục khí quân dụng” ban hành kèm theo Thông s
75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1. 10 viên đạn trên đều
lắp vào được khẩu súng gửi giám định và sử dụng để bắn được.
+ 01 máy bơm nhãn hiệu ACEEAGLE gửi giám định không phải là vũ khí.
+ 17 vòng cao su màu đen gửi giám định các vòng cao su kích thước
khác nhau, không phải là khí, không phải thành phần cấu tạo của khẩu
súng gửi giám định.
+ Đã sử dụng 05 viên đạn để tiến hành thực nghiệm, hoàn trả lại các mẫu
cần giám định còn lại cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L.
Tại Bản án hình sự thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/3/2026 Thông
báo sửa chữa, bổ sung bản án số 04/2026/TB-TA ngày 13/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo A P phạm tội “Tàng trữ trái phép khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo A P 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tính từ
ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2025.
Ngoài ra, bản án còn quyết định vvật chứng, án phí; tuyên quyền kháng
cáo theo quy định.
Ngày 16/3/2026, bị cáo Lý A P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Bị cáo A P bổ sung kháng cáo xin được hưởng án treo thừa nhận
toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định.
4
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình thức:
Căn cứ Điều 331, Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự; Kháng cáo của bị cáo
trong hạn luật định, chấp nhận đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung của bị cáo.
- Về nội dung:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo A P về việc xin
hưởng án treo, không chấp nhận kháng cáo về xin giảm nhẹ hình phạt; sửa Bản
án hình sự sơ thẩm số 12/2026/HS-ST ngày 10/3/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 7 - Lào Cai theo hướng: Giữ nguyên mức hình phạt tù, cho bị cáo được
hưởng án treo.
Tuyên bố bị cáo Lý A P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo A P 02 (Hai) năm nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự; Trả tdo cho bị cáo tại phiên
toà nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.
Giao bị cáo A P cho Ủy ban nhân dân phường S, tnh Lào Cai giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đề nghị giữ nguyên.
* Người bào chữa của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65
của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý A P 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo,
ấn định thời gian thử thách. Riêng người bào chữa Sùng Văn N đề nghị hội đồng
xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo tại phiên
toà nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo A P trong hạn luật định, nội dung
hình thức phù hợp các Điều 331, 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo A P đã khai nhận toàn bộ hành vi
5
phạm tội của mình như Bản án thẩm đã xác định, phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ đã được thu thập trong hồ vụ án. Như vậy, đã đầy đủ sở kết
luận: Do sự tranh chấp đất đai từ trước nên ngày 15/10/2025, A P đeo 01
khẩu súng nén hơi, kèm theo 10 viên đạn, thuộc danh mục “Vũ khí quân dụng”
được quy định tại Mục II, Phụ lục 1 “Danh mục khí quân dụng” ban hành
kèm theo Thông số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1
để đe dọa không ai dám ngăn cản Phừ cắt hàng rào của Công ty cổ phần I (Công
ty D, giải trí).
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lý A P về tội “Tàng trữ trái phép
khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự đúng
người, đúng tội.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lý A P, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của
mình nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản của
Nhà nước về vũ khí quân dụng nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, việc xử
lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật là cần thiết.
Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo áp dụng cho bị cáo
được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo,
03 con đều dưới 15 tuổi được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự để xphạt bị cáo 02 năm là phù hợp. Kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo P đã cung cấp chứng cứ bđbị
cáo ông A T (tức A C) được Trung ương hội giáo chức Việt Nam tặng
“Kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng và phát triển cựu giáo chức Việt Nam”.
Đồng thời đơn trình bày của chị Thào Th P1 (Thào Th P2) v b cáo được
chính quyền địa phương xác nhận về hoàn cảnh gia đình khó khăn nuôi 03 con
nhỏ, bản thân bị cáo dân tộc thiểu số không biết chữ, sống ở vùng kinh tế đặc
biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình,
đây là những tình tiết mới của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử coi đây là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nơi
trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà cho bị
cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công
dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của
bị cáo.
6
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
cáo của bị cáo A P; sửa Bản án hình sự thẩm s12/2026/HS-ST ngày
10/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai theo hướng giữ nguyên
mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát người bào chữa cho bị cáo tại
phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp
nhận. Xét đề nghị của người bào chữa ông Sùng Văn N, đề nghị Hội đồng xét xử
áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình skhông căn cứ, không
được chấp nhận.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo A P; sửa Bản án hình sự sơ
thẩm s12/2026/HS-ST ngày 10/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào
Cai như sau:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo A P phạm tội “Tàng trữ trái phép
khí quân dụng”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo A P 02 (hai) năm cho hưởng án treo. Thời gian thử
thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Lý A
P ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm
khác.
Giao bị cáo A P cho Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Lào Cai giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo trách nhiệm phối hợp
với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo; nếu bị cáo thay
đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình
sự.
7
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lý A P không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- Phòng hồ sơ CA tỉnh Lào Cai;
- VKSND khu vực 7 - Lào Cai;
- TAND khu vực 7 - Lào Cai (3);
- THA dân sự tỉnh Lào Cai;
- Bị cáo;
- Người bào chữa (2);
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Chí Thiện
Tải về
Bản án số 22/2026/HS-PT Bản án số 22/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HS-PT Bản án số 22/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất