Bản án số 262/2026/DS-PT ngày 07/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 262/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 262/2026/DS-PT ngày 07/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 262/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K;- Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn bà Nguyễn Thị V, ông Đỗ Mạnh T1 và bà Đỗ Thị Bích N;- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 262/2026/DS-PT
Ngày: 07 5 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và Yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ do người chết để lại
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Triết;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn, ông Nguyễn Văn Hồng.
- Thư ghi biên bản phiên toà: Đỗ Thị Minh Chi Thư Toà án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại din Vin kim t nhân dân tỉnh Đắk Lk: Nguyn Th Mai
Liên Kim sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến
hành t xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 545/2025/TLPT-DS
ngày 01/12/2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” do Bản án dân sự sơ
thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 23/6/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 Đắk
Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2026/QĐXXPT-
DS ngày 12/01/2026 Quyết định hoãn phiên toà số 135/2026/QĐ-PT ngày
09/02/2026, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1972; Đa ch: Thôn B,
Đ, tỉnh Đắk Lk. (có mt)
Người bo v quyn, li ích hp pháp của nguyên đơn: Luật Nguyn
Tiến T Văn phòng L1, thuc Đoàn luật sư tỉnh Đ; Địa ch: S C N, phường T,
tỉnh Đắk Lk. (có mt)
* B đơn:
- Bà Nguyn Th V, sinh năm 1951; (vắng mt)
- Ch Đỗ Th Bích N, sinh năm 1997; (vắng mt)
Cùng địa ch: Thôn B, xã Đ, tỉnh Đắk Lk.
- Anh Đỗ Mnh T1, sinh năm 1995; Địa ch: Xóm A, H, tnh Ninh
Bình. (vng mt)
Người đại din theo u quyn ca V, ch N anh T1: Ông Nguyn
Thanh T2, sinh năm 1973; Địa ch: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mt)
2
* Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
- Đặng Th H, sinh năm 1975; Đa ch: Thôn B, Đ, tỉnh Đắk Lk;
(có mt)
Người đại din theo u quyn ca bà H: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm
1972; Địa ch: Thôn B, xã Đ Đắk Lk; (có mt)
- Nguyn Th H1, sinh năm 1983; Địa ch: Thôn E, Đ, tỉnh Đắk
Lk; (vng mt)
- Bà Hoàng Th L; Địa ch: S A N, phường E, tỉnh Đắk Lk. (vng mt)
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K các b đơn
Nguyn Th V, bà Đ Th Bích N, ông Đỗ Mnh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa,
nguyên đơn ông Nguyễn Văn K trình bày:
Ông nhn chuyển nhượng đất ca ông Đ Văn N1 02 ln, c th như sau:
- Ln 1: Ngày 13/6/2016 ông nhn chuyển nhượng ca ông N1 din tích
đất khong 160m2 (Rng 04 mét, dài khong 40 mét), v trí đất ngay phía trong
cng chào thôn B, giáp ranh vi thửa đt s 241 của gia đình ông. Giá chuyển
nhượng 65.000.00 (tính giá 16.250.000đ/mét ngang), hai bên tha thun
ông tr trước 50.000.000đ, còn lại 15.000.000đ sẽ tr vào ngày 02/12/2016, khi
ông N1 làm xong th tục sang tên QSD đt cho ông. Ti giy chuyển nhượng
đất không ghi c th thông tin thửa đất, nhưng sau đó ông đã tìm hiểu được
biết phn din tích mà ông nhn chuyển nhượng là 1 phn din tích ca thửa đất
s 243, t bản đồ s 48, đã đưc UBND huyn K cp giy chng nhận QSD đất
s BG 657836 ngày 18/3/2023, mang tên ông Đỗ Văn N1.
- Ln 2: Ngày 22/12/2018 ông tiếp tc nhn chuyển nhượng ca ông N1
diện tích đất khong 200m2 (Rng 05 mét, dài khong 40 mét) phần đất này
nm lin k diện tích đất mà ông nhn chuyển nhượng ca ông N1 năm 2016.
Giá chuyển nhượng 125.000.000đ, ông đã tr 75.000.000đ, còn 50.000.000đ
s tr sau khi ông N1 làm xong th tc tách thửa, sang tên QSD đất cho ông.
Sau khi nhn chuyển nhượng thì ông N1 đã bàn giao đất cho gia đình ông
để s dụng. Trong đó phần diện tích đt chuyển nhượng năm 2016 thì ông đã
xây tường rào bao quanh và s dng làm sân bê tông, còn phần đất nhn chuyn
nhượng năm 2018 thì gia đình ông đã rào lưới B40 bao quanh.
Hin nay ông mi phát hin phn diện tích đất mà ông N1 nhn chuyn
nhưng cho ông không phải đt ông N1, mà đt ca ông Phan Công H2
bà Nguyn Th H1.
Mặc ông đã giao một phn tin nhn chuyển nhượng ca c 02 đất
cho ông Đỗ Văn N1, sau đó ông đã nhiều ln yêu cu ông N2 thc hiện nghĩa vụ
sang tên quyn s dụng đất cho ông, ông s thanh toán s tin còn lại, nhưng
3
ông N1 không thc hiện. Ông cũng đã nhiều ln khi kin ông N1 ti Tòa án,
nhưng ông N1 c tình trn tránh, không hp tác.
Ông Đỗ Văn N1 đã chết ngày 31/12/2022, những người tha kế thuc
hàng tha kế ca ông N1 gm m Nguyn Th V, các con Đỗ Mnh T1
Đỗ Th Bích N. Còn v ông N1 Hoàng Th L đã ly hôn năm 2014, b
ông N1 chết đã lâu.
Nay ông khi kiện đối vi Nguyn Th V, anh Đỗ Mnh T1 ch Đỗ
Th Bích N, yêu cu Tòa án công nhn hợp đồng chuyển nhượng quyn s dng
đất ngày 13/6/2016 gia tôi vi ông N1 hiu lc pháp lut, yêu cu nhng
ngưi tha kế thuc hàng tha kế th nht ca ông N1 phi làm th tc sang tên
quyn s dụng đất cho ông. Trường hợp Tòa án xác định không đủ điu kin
công nhn hiu lc ca hợp đồng thì đ ngh Tòa án tuyên hiu gii quyết
hu qu ca hợp đồng vô hiu.
Đối vi phần đt nhn chuyển nhượng theo giấy sang nhượng đt lp
ngày 22/12/2018: Nay đã xác định đưc phần đất này không thuc quyn s
dng ca ông Đ Văn N1 s tiền 75.000.000đ ông đã giao cho ông N1
tin tr trước, nhưng trong giấy sang nhượng do nhm lẫn nên đã ghi là tin cc,
vậy ông đề nghị: Trường hợp Tòa án xác đnh là tin tr trước thì đề ngh
tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất hiu gii quyết hu qu ca hợp đng
hiệu; Trường hp Tòa án xác định s tiền ông đã giao tiền đặt cọc, thì đề
ngh tuyên hợp đồng đặt cc vô hiu và gii quyết hu qu ca hợp đồng đặt cc
vô hiu.
* B đơn bà Đỗ Th Bích N trình bày:
Trong thời gian vừa qua gia đình chị (Chị, anh trai nội Nguyễn
Thị V) có nhận được các thông báo của Tòa án, thông báo gia đình chị đến Tòa
án để giải quyết việc chuyển nhượng đất giữa bchị (Ông Đỗ Văn N1, đã mất)
với ông Nguyễn Văn K. Tuy nhiên, do điều kiện công việc nên hôm nay chị mới
đến Tòa án làm việc được. Về việc ông K khởi kiện với gia đình chị, chị ý
kiến như sau:
Việc bố chị chuyển nhượng đất cho ông K như thế nào chị không biết.
Theo tài liệu Tòa án đã cho chị xem thì bố chị chuyển nhượng đất cho
ông K 2 lần. Đối với việc chuyển nhượng đất năm 2016 thì chị không biết vì giai
đoạn đó chị đã về quê tại tỉnh Nam Định. Đối với việc chuyển nhượng đất năm
2018 thì trước khi bố mất bố báo cho chị biết bố bán 01 đất tại khu
vực cột điện gần cổng chào thôn B cho một người tại khu vực đồi 900 Đ
(không rõ tên, địa chỉ cụ thể).
Đối với Giấy chứng nhận QSD đt s BG 657836, do y ban nhân dân
huyn K cp ngày 18/3/2013, mang tên ông Đỗ Văn N1: Khi b ch mt thì b
4
ch không giao lại cho người nhà, ch không biết bn gc hiện đang đâu. Chị
s có trách nhim tìm hiu và cung cp thông tin cho Tòa án.
V ni dung khi kin ca ông K đối vi ni ch em ch: Ch đề
ngh Tòa án tm dng vic xét x, cho ch đưc trc tiếp làm vic vi ông K để
làm rõ các ni dung liên quan.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Thị H trình bày:
đồng ý với ý kiến của chồng bà (Ông Nguyễn Văn K) không bổ sung gì thêm.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Năm 2013 bà và chồng là ông Phan Công H2 nhn chuyển nhượng ca v
chng ông Đỗ n N1 01 đất din tích 180m2 ti thôn B, E, huyn K.
đất nhn chuyển nhượng ca v chng ông N1, thuc mt phn trong din
tích đất mà h ông N1 đang sử dng (Không rõ là thửa đất nào).
Sau khi nhn chuyển nhượng thì v chồng đã đưc y ban nhân dân
huyn K cp giy chng nhận QSD đất s BG 657578 ngày 01/01/2013 mang
tên Phm Công H3 và Nguyn Th H1, thửa đất nhn chuyển nhượng là thửa đất
s 242, t bản đồ s 48. Ti thời điểm điểm nhn chuyển nhượng thì thửa đất có
cạnh phía Tây giáp đường, 03 cnh còn li giáp phần đất khác ca h ông Đỗ
Văn N1.
Sau khi nhn chuyn nhưng, do không có nhu cu s dng nên v chng
vẫn đ không cho đến nay, nên cũng không biết phn diện tích đt còn li
ca ông N1 giáp ranh với đất ca bà hiện nay ai đang sử dng.
Nay Tòa án thông báo thửa đất 242 của bà đã bị ông Đỗ Văn N1 viết
giy tay chuyển nhưng cho ông Nguyễn Văn K vào năm 2018, hiện nay ông K
đã làm hàng rào lưới B40 bao quanh, đng thi ông K khi kin nhng người
tha kế ca ông N1 ti Tòa án, yêu cu công nhn hợp đồng hiu lc thì
mi biết.
Nay ông K vi những người tha kế ca ông N1 liên quan đến vic
chuyển nhượng đất năm 2018 tý kiến nsau: Thửa đất s 242, t bn
đồ s 48, din tích 180m2 mà bà nhn t ông Đỗ Văn N1 là tài sn hp pháp ca
v chồng bà, chưa chuyển nhượng thửa đất trên cho ai. Vic ông N1 và ông K
chuyển nhượng đất với nhau như thế nào thì bà không biết và không liên quan.
Thửa đất ca hin mi ch hàng rào bao quanh nên, không có công
trình kiên c nên không yêu cầu gì. Trường hợp xác định ông K đang sử
dng trái phép diện tích đất ca bà, thì s yêu cu gii quyết bng mt v án
khác
Hin nay chng là ông Phan ng H2 đang đi lao đng c ngoài,
bà không biết địa ch, nên không th cung cấp địa ch ca ông H2 cho Tòa án.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk đã quyết định:
5
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 147, các
Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Điều 271 Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 127, 128, 134, 136, 137, 219, 691, 697, 698 Bộ luật dân
sự năm 2005; các Điều 126, 328, 615, 623 688 Bộ luật dân sự 2015; các
Điều 166, 167 Luật Đất đai 2013 Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn K về việc công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy sang nhượng đất” lập
ngày 13/6/2016 giữa ông Nguyễn Văn K với ông Đỗ Văn N1 hiệu lực pháp
luật.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy sang
nhượng đất) lập ngày 13/6/2016 giữa ông Nguyễn Văn K với ông Đỗ Văn N1
vô hiệu.
- Buộc Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 chị Đỗ Thị Bích N phải
nghĩa vụ dùng phần di sản của ông Đỗ Văn N1 để trả cho ông Nguyễn Văn K số
tiền 320.617.528đ (Ba trăm hai mươi triệu sáu trăm mười bảy ngàn m trăm
hai tám đồng), bao gồm: Tiền hoàn trả do hợp đồng vô hiệu là 50.000.000đ, tiền
bồi thường do lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu 255.384.360đ, tiền bồi thường
các công trình trên đất là 15.233.168đ.
2. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc theo “Giấy sang nhượng đất” lập ngày
22/12/2018 giữa ông Nguyễn Văn K với ông Đỗ Văn N1 là vô hiệu.
Buộc Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 chị Đỗ Thị Bích N phải
nghĩa vụ dùng phần di sản của ông Đỗ Văn N1 đtrả cho ông Nguyễn Văn K
75.000.000đ tiền nhận cọc.
Ngoài ra, Bản án thẩm n giải quyết về chi phí tố tụng, án p
tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn K kháng cáo đề nghị Toà
án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy sang
nhượng đất” lập ngày 13/6/2016 giữa ông Nguyễn Văn K và ông ĐVăn N1
hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp Toà án tuyên “Giấy sang nhượng đất”
trên bị vô hiệu thì đề nghị Toà án thẩm định, định giá lại tài sản.
- Xác định “Giấy sang nhượng đất” lập ngày 22/12/2018 giữa ông
Nguyễn Văn K ông Đỗ Văn N1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tuyên bhợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này hiệu,
đồng thời giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng hiệu theo quy định của
pháp luật.
6
Ngày 14/10/2025, bị đơn Nguyễn Thị V, Đỗ Thị Bích N ông Đ
Mạnh T1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Bác yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu của nguyên đơn đối
với hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất theo “Giấy sang nhượng đất”
lập ngày 13/6/2016 giữa ông Nguyễn Văn K và ông Đỗ Văn N1.
- Bác yêu cầu giải quyết hậu quhợp đồng hiệu của nguyên đơn đối
với hợp đồng đặt cọc theo “Giấy sang nhượng đất” lập ngày 22/12/2018 giữa
ông Nguyễn Văn K và ông Đỗ Văn N1.
Tại phiên a phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đơn
kháng cáo ý kiến nđã trình bày trong qtrình giải quyết tại cấp
thẩm. Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày ncấp sơ thẩm nội
dung kháng cáo. Đồng thời, các đương sự không tự hòa giải được với nhau về
việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng,
các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng
cáo của các đương sự đã nộp trong thời hạn luật định.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310
Bộ luật Tố tụng dân sự:
+ Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K.
+ Huỷ Bản án dân sự thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án đã được thẩm
tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến
Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K các bị đơn
Nguyễn Thị V, bà Đỗ Thị Bích N, ông Đỗ Mạnh T1 đã được nộp trong thời hạn
luật định đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên xem xét, giải quyết theo trình
tự phúc thẩm là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với quyền và nghĩa vụ của bà Hoàng Thị L, xét thấy:
Ông Đỗ Văn N1 Hoàng Thị L được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 243, tờ bản đsố 48, theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số BG 657836, cấp ngày 18/3/2023 (sau đây viết tắt thửa đất số
243) trong thời kỳ hôn nhân. Mặc hồ sơ không thể hiện việc hai bên đã phân
chia tài sản chung sau ly hôn, nhưng ông N1 và L đã ly hôn từ năm 2014,
7
trước thời điểm ông N1 chết vào năm 2022. Vì vậy, Hoàng Thị L không phải
là người thừa kế của ông N1 không có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do
ông N1 để lại.
Trong vụ án này, các đương sự không có yêu cầu giải quyết tranh chấp tài
sản chung sau ly hôn giữa ông N1 L; quá trình giải quyết ván cấp
thẩm, L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không ý kiến trình bày hoặc yêu
cầu độc lập về phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, Tòa án chỉ xem
xét nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản mà ông N1 để lại và xác định bà V (m
đẻ của ông N1), anh T1 chị N (các con đcủa ông N1) những người
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông N1 để lại, trong phạm vi khối di sản
thừa kế của ông N1.
[2.2] Xét “Giấy sang nhượng đất” lập ngày 13/6/2016, thì thấy:
[2.2.1] Hợp đồng trên được lập bằng giấy viết tay, không được công
chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết. Đồng
thời, nội dung giao dịch còn vi phạm quy định về định đoạt tài sản chung tại
Điều 44 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Mặt khác, thửa đất 243 tổng
diện tích 180m
2
(chiều ngang tiếp giáp đường 5m) nhưng hai bên chỉ thỏa
thuận chuyển nhượng 160m
2
(chiều ngang tiếp giáp đường 4m) không đảm
bảo điều kiện để tách thửa đất theo quy định tại Quyết định s36/2014/QĐ-
UBND ngày 17 tháng 10 năm 2014 của UBND tỉnh Đ. Như vậy, “Giấy sang
nhượng đất” đã vi phạm quy định về hình thức nội dung nên Toà án cấp
thẩm tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu là có căn cứ theo Điều 123 và Điều 129 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
[2.2.2] Về hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu:
Căn cứ khoản 2khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, do Giấy
sang nhượng đất” lập ngày 13/6/2016 bị hiệu n các bên phải hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận. Cthể, buộc những người thừa kế của ông N1 phải tr
lại cho ông K số tiền 50.000.000 đồng mà ông N1 đã nhận từ ông K.
Ngoài ra, xét về lỗi dẫn đến hợp đồng bị hiệu thì thấy: Ông N1
người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều kiện nghĩa vụ
phải biết nh trạng pháp của tài sản, biết phần diện tích chuyển nhượng
không đủ điều kiện tách thửa nhưng vẫn giao kết hợp đồng, nhận tiền giao
đất cho ông K sử dụng. Ông K khi giao kết hợp đồng đã không yêu cầu công
chứng, chứng thực không tìm hiểu đầy đủ tình trạng pháp lý của thửa đất,
mặc ông K nhận thức được đây là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nhưng chỉ được lập bằng giấy tay đối tượng chuyển nhượng một phần
của thửa đất do ông N1 được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Như vậy,
cả ông N1 và ông K đều phải nhận thức được việc giao dịch không tuân thủ quy
định về hình thức, đối tượng chuyển nhượng không đủ điều kiện pháp lý để thực
8
hiện, nhưng vẫn tự nguyện xác lập và thực hiện giao dịch. Do đó, cần xác định
lỗi của ông N1 ông K ngang nhau và mỗi bên chịu 50% hậu quả xảy ra do
“Giấy sang nhượng đất” lập ngày 13/6/2016 bị vô hiệu
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án cấp sơ thẩm và Chứng thư
thẩm định giá số 205/2026/THJDC/073 ngày 13/3/2026 của ng ty cổ phần T3
thể hiện: Thửa đất số 243 kích thước thực tế 05m chiều ngang mặt tiền
36m chiều sâu, tổng diện tích 180m², trị giá 721.800.000 đồng. Do đó, phần ông
K quản lý, sử dụng 04m chiều ngang mặt tiền nên hiện nay giá trị
577.440.000 đồng. So với giá thỏa thuận 65.000.000 đồng tại thời điểm giao kết
“Giấy sang nhượng đất” thì giá trị chênh lệch là 512.440.000 đồng.
Ông K đã thanh toán 50.000.000 đồng/65.000.000 đồng, tương ứng
76,923% giá trị tài sản theo thoả thuận. Phần giá trị tăng thêm tương ứng số tiền
đã trả là 512.440.000 đồng x 76,923% = 394.184.221 đồng. Do đó, những người
thừa kế của ông N1 phải bồi thường cho ông K giá trquyền sử dụng đất với số
tiền 394.184.221 đồng.
Ngoài ra, trên đất hàng o và n do ông K tạo lập, giá trcòn lại của
tường rào và sân 19.041.460 đồng nhưng quá trình xét xcấp phúc thẩm,
ông K không yêu cầu định giá lại tài sản y nên cần áp dụng kết quả định giá
tài sản ngày 10/4/2025 của Toà án cấp thẩm. vậy, những người thừa kế
của ông N1 phải bồi thường cho ông K giá trị còn lại của các tài sản trên là
19.041.460 đồng x 50% = 9.520.730 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà V, ông T1 N phải hoàn trả bồi
thường cho ông K là: 50.000.000 + 394.184.221 đồng + 9.520.730 đồng =
403.754.951 đồng. Nghĩa vụ này được thực hiện trong phạm vi di sản của ông
N1.
[2.3] Đối với “Giấy sang nhượng đất” lập ngày 22/12/2018 giữa ông
Nguyễn Văn Kông Đỗ Văn N1, thì thấy:
Nội dung văn bản thể hiện rõ đây là thỏa thuận đặt cọc. Tại thời điểm xác
lập ông K và ông N1 ký kết “Giấy sang nhượng đất” trên thì toàn bộ thửa đất số
242, tờ bản đồ số 48 đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số BG 657578 ngày 01/01/2013 cho ông Phan Công H2 Nguyễn
Thị H1 (sau đây viết tắt thửa đất số 242), do đó ông N1 không quyền định
đoạt việc nhận đặt cọc đối với tài sản này. vậy, Toà án cấp thẩm tuyên
giao dịch vô hiệu là phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự.
Xét thấy, chỉ ông K giao stiền 75.000.000 đồng cho ông N1 để đảm
bảo việc các bên sẽ ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông
N1 chưa giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên cũng như
chưa bàn giao đất cho ông K; đồng thời, ông K không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh có thiệt hại thực tế phát sinh ngoài số tiền đã giao. Do đó,
9
căn cứ đToà án cấp thẩm tuyên buộc những người tha kế của ông N1
phải hoàn trả số tiền 75.000.000 đồng cho ông K, trong phạm vi di sản của ông
N1.
Đối với tài sản hàng rào do ông Nguyễn Văn K tạo lập trên thửa đất số
242 thì trong quá trình giải quyết ván, Nguyễn Thị H1 xác định thửa đất số
242 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng hiện chưa yêu cầu
độc lập đối với ông Nguyễn Văn K vviệc buộc trả lại đất, tháo dỡ i sản hoặc
bồi thường thiệt hại. Đồng thời, ông Phan Công H2 là đồng chủ sử dụng đất hiện
đang lao động nước ngoài, chưa tham gia ttụng cũng chưa ý kiến, yêu
cầu liên quan đến việc giải quyết tài sản trên đất.
Do đó, trong vụ án này, Hội đồng xét xử không xem xét quyền sở hữu đối
với hàng rào, ng như không giải quyết việc quản lý, sử dụng thửa đất s242
giữa ông Nguyễn n K với Nguyễn Thị H1 và ông Phan Công H2. Trường
hợp các bên tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài
sản gắn liền với đất hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại thì quyền khởi kiện
bằng vụ án dân sự khác nếu có đủ điều kiện khởi kiện.
Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của các bị đơn Nguyễn
Thị V, ông Đỗ Mạnh T1 Đỗ Thị Bích N không sở để chấp nhận
mà cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K, sửa
một phần bản án sơ thẩm về nghĩa vụ thanh toán.
[3] Về chi phí tố tụng:
Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 và chị Đỗ Thị Bích N phải nghĩa
vụ dùng phần di sản của ông Đỗ Văn N1 nộp tổng cộng 20.960.000 đồng chi phí
giám định thẩm định, định gtài sản. Do ông Nguyễn Văn K đã nộp chi phí
tố tụng nên ông K được nhận lại số tiền trên từ Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh
T1 và chị Đỗ Thị Bích N.
[4] Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn Nguyễn Thị V, ông Đỗ
Mạnh T1 và bà Đỗ Thị Bích N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do kháng cáo
được chấp nhận một phần nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn K không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K;
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn Nguyễn Thị V, ông Đỗ
Mạnh T1 và bà Đỗ Thị Bích N;
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 23/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Đắk Lắk.
10
Tuyên xử:
- Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 147; các Điều
157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Điều 271
Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 117; Điều 126; Điều 131; Điều 328; Điều 615; Điều
623 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 166; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội:
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K về việc
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy sang nhượng
đất” lập ngày 13/6/2016 giữa ông Nguyễn Văn K với ông Đỗ Văn N1 hiệu
lực pháp luật.
[1.1] Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy sang
nhượng đất) lập ngày 13/6/2016 giữa ông Nguyễn Văn K với ông Đỗ Văn N1
vô hiệu.
[1.2] Buộc bà Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 và chị Đỗ Thị Bích N phải
trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 403.754.951 đồng (bốn trăm lẻ ba triệu bảy
trăm năm mươi nghìn chín trăm năm mươi mốt đồng), bao gồm: Tiền hoàn
trả do hợp đồng hiệu 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), tiền bồi
thường do lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu 394.184.221 đồng (ba trăm chín
mươi tư triệu một trăm tám mươi tư nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng), tiền bồi
thường các ng trình trên đất 9.520.730 đồng (chín triệu m trăm hai mươi
nghìn bảy trăm ba mươi đồng), trong phạm vi di sản do ông Đỗ Văn N1 để lại.
[2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K:
[2.1] Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc theo “Giấy sang nhượng đất” lập ngày
22/12/2018 giữa ông Nguyễn Văn Kông Đỗ Văn N1 là vô hiệu.
[2.2] Buộc bà Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 và chị Đỗ Thị Bích N phải
trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền ông N1 đã nhận đặt cọc của ông K
75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng), trong phạm vi di sản do ông Đỗ
Văn N1 để lại.
K t ngày tiếp theo ca ngày xét x sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
hàng tháng bên phi thi hành án còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn
phi thi hành án theo mc lãi sut quy định ti khoản 1 Điều 468 B lut dân s
năm 2015.
[3] Về chi phí tố tụng:
Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 chị Đỗ Thị ch N phải nộp tổng
cộng 20.960.000 đồng (hai ơi triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng) chi phí
11
giám định xem xét, thẩm định, định giá tài sản, trong phạm vi di sản do ông
Đỗ Văn N1 để lại. ông Nguyễn Văn K đã nộp các chi phí trên nên ông K
được nhận lại số tiền trên từ Nguyễn Thị V, anh Đỗ Mạnh T1 chị Đỗ Thị
Bích N.
[4] Về án phí:
Nguyn Th V, anh Đỗ Mnh T1 ch Đ Th Bích N phi np
25.376.695 đồng (hai mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm chín
mươi lăm đồng) án phí dân sự thẩm 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng)
án phí dân sự phúc thẩm, trong phạm vi di sản do ông ĐVăn N1 để lại, nhưng
được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng tại các Biên lai thu số 0002310, số
0002311 và số 0002312, cùng ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk
Lắk.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn K 11.000.000 đồng (mười mt triệu đồng)
tm ứng án phí thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tm ng án phí
phúc thẩm đã nộp ti các Biên lai thu s 0011853 ngày 24/10/2024 ca Chi cc
Thi hành án dân s huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lk (nay là Phòng Thi hành án
dân s khu vc 10 Đắk Lk) và Biên lai thu s 0001512 ngày 06/10/2025 ca
Thi hành án dân s tỉnh Đắk Lk.
[5] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhn: TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
- TANDTC tại Đà Nẵng; THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
- VKSNDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lk;
- THADS tỉnh Đắk Lk; (đã ký)
- TAND khu vc 10 Đắk Lk;
- VKSND khu vc 10 Đắk Lk;
- Phòng THADS khu vc 10 Đắk Lk; Nguyễn Đình Triết
- Các đương sự;
- Công thông tin điện t Tòa án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Tải về
Bản án số 262/2026/DS-PT Bản án số 262/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 262/2026/DS-PT Bản án số 262/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất