Bản án số 25/2026/HNGĐ-PT ngày 07/05/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 25/2026/HNGĐ-PT ngày 07/05/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 25/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/05/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Vũ Thùy L; giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân
Vũ Thị Bích Diệp
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xphúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số: 22/2026/TLPT-
HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2026 về việc: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 20/2026/HNGĐ-ST ngày 12
tháng 2 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 24/2026/QĐ-PT ngày 07
tháng 4 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà số 19/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng
04 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Hữu D, sinh năm 1992; Số CCCD: 031092015381;
nơi cư trú: Số I L, phường G, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Phạm Hữu D:
Ông Nguyễn Quang C, Luật sư ng ty L2 - Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt;
- Bị đơn: Chị Thùy L, sinh năm 1992; Số CCCD: 031192000952; nơi
trú: Số C đường A, phường G, thành phố Hải Phòng; có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 25/2026/HNGĐ-PT
Ngày 07-5-2026
V/v thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người kháng cáo: Bị đơn chị Vũ Thùy L, sinh năm 1992; Số CCCD:
031192000952; nơi cư trú: Số C đường A, phường G, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án
và tại phiên toà, nguyên đơn là anh Phạm Hữu D trình bày:
Anh Phạm Hữu D chị Thùy L đã ly hôn theo Quyết định công nhận
thuận tình ly hôn sự thỏa thuận của các đương sự số 370/2019/QĐST-HNGĐ
ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng, theo đó chị L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Bảo L1, sinh ngày
19/1/2019.
Từ tháng 11/2019 đến tháng 6/2024, anh D chuyển tiền đều đặn hàng tháng số tiền
cấp dưỡng tiền ăn học tại trường học của cháu L1 sang cho chị L số tiền từ 4 triệu
đến 5 triệu đồng/tháng.
Khi cháu L1 được 21 tháng tuổi, anh D thấy cháu L1 nhiều biểu hiện khác những
đứa trẻ bình thường cùng lứa tuổi. Anh đưa cháu đi khám bệnh thì bác bệnh
viện N kết luận cháu bị mắc chứng bệnh rối loạn phổ tự kỷ”. Anh D thường
xuyên phụ giúp cùng chị L đưa cháu đến các nơi để cháu học can thiệp, thăm khám
bệnh, mua sắm sữa, bỉm, quần áo, vật dụng, đồ chơi cho cháu, quan tâm và có trách
nhiệm với cháu. Đón cháu về chơi và chăm sóc khi chị L đi vắng gửi cháu sang nhà
anh.
Từ tháng 7 năm 2024 cháu L1 được đưa vào Trung tâm giáo dục chuyên biệt dành
cho trẻ em tự kỷ để học bán trú. Hàng tháng anh đều đặn chuyển đủ toàn bộ số tiền
học ăn bán trú cần đóng góp cho Trung tâm cháu Lâm H sang cho chị L với số
tiền từ 8.000.000đ (tám triệu đồng) đến 18.000.0000đ (mười tám triệu đồng) để chị
L chuyển nộp tiền chi phí cho cháu tại Trung tâm.
Tháng 7/2025 lúc này cháu L1 hơn 6 tuổi, nhưng theo đánh gia của chuyên môn thì
nhận thức của cháu tương đương với trẻ khoảng 4 tuổi. Chị L đã tự ý cho cháu nghỉ
học tại Trung tâm chuyên biệt này đđưa cháu vào học lớp 1 trường tiểu học. Gia
đình tôi đã bảo chị L nhiều lần chưa nên cho cháu L1 vào học lớp 1 nên để
cháu ở lại chỗ học cũ 1 đến 2 năm sau theo khuyến cáo của Trung tâm.
Ngày 19/9/2025, trong đợt chị L đi chơi gửi cháu L1 về nhà anh thì anh thấy cháu
L1 sức khoẻ sa sút quá nhiều, cháu la hét cả ngày lẫn đêm, nhìn thấy bất cđồ vật
thể cầmm được cháu cầm ném lên phía trần nhà kèm theo tiếng hét lớn.
Đêm ngủ giật mình, cháu dùng 2 tay đấm vào mặt và đánh người. Ngoài ra cháu bị
táo bón nặng không đi vệ sinh được, mỗi khi buồn đi vệ sinh là kêu khóc và một số
biểu hiện như trẻ thần kinh tăng động. Thấy cháu như vậy anh cùng mlà bà Đỗ Thị
Thu H1, cho cháu đi bệnh viện N để khám bệnh cho cháu được các bác kết luận
3
cháu bị: Táo bón nặng mãn tính; ảnh hưởng thần kinh; Hội chứng rối loạn phổ tự
kỷ (bệnh cũ) phát triển nặng hơn do áp lực của việc học tập không phù hợp. Bác sĩ
có chỉ định: Cần cân nhắc lại việc học lớp 1 của cháu và đưa cháu trở lại Trung tâm
chuyên biệt để tiếp tục học lại, điều trị bệnh táo bón theo lộ trình thuốc được bác sĩ
kê đơn, thuốc trợ giúp hỗ trợ cho thần kinh bớt bùng phát từ 6 tháng đến 01 năm.
Sau khi kết quả của bác sĩ, anh D đã bàn bạc với chị L để cháu lại nhà anh để
anh cho cháu đi chữa bệnh. Chị L đã đồng ý để lại cháu bên nhà anh cho cháu
học lại Trung tâm chuyên biệt nơi học của cháu để cháu tiếp tục học tại đó cho
đến nay.
Chị L từ trước cũng như hiện tại không có thu nhập ổn định, thời gian làm việc thất
thường, lúc đi sớm về khuya, vẫn nhờ với nhà bố mẹ, việc sắp xếp thời gian chăm
sóc, nuôi dưỡng cháu L1 còn nhiều hạn chế bởi cháu L1 một đứa trẻ tự kỷ; s
nhận thức, định hướng cũng như kinh tế trong việc chăm sóc cháu L1 ở độ tuổi mà
giới chuyên môn đã thường nhắc nhở là từ 01 đến 06 tuổi (giai đoạn vàng với một
đứa trẻ tự kỷ), chị L chưa nhận thức đầy đủ và quyết tâm cao để chữa bệnh cho L1.
Về phần anh D, hiện tại công việc ổn định, mức thu nhập trung bình khoảng
43.000.000 đồng/tháng; Mặt khác anh cùng con được sự giúp đỡ rất lớn từ mẹ đẻ là
Đỗ Thị Thu H1. Bà là chủ sở S hạ thảo Đỗ Hà Gia T, thu nhập ba tháng gần
nhất 121.000.000 đồng, 128.600.000 đồng, 134.700.000 đồng trong khi chỉ lo cho
cháu L1. Gia đình anh đã bố trí không gian để cháu nơi vui chơi, sinh hoạt gần
gũi với thiên nhiên.
Anh D được biết “giai đoạn vàng” từ 2 đến 10 tuổi quyết định việc cứu chữa bệnh
tự kỷ cho cháu L1 nên anh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, thay đổi
người trực tiếp nuôi con Phạm Thiên H2 (nay đổi tên thành Phạm Bảo L1), sinh
ngày 19/01/2019 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại bản tự khai quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án tại phiên tòa
thẩm, bị đơn chị Vũ Thùy L trình bày:
Năm 2019, khi chị Vũ Thùy L anh D thuận tình ly hôn theo đó giao con
cho tôi nuôi dưỡng.
Đến đầu tháng 7/2024 sức khỏe của chị có yếu, chnói chuyện với bà H1 (m
anh D) và H1 chủ động đề nghị đón cháu về chăm sóc và nhà bà sẽ đóng toàn bộ
học phí cho cháu. Chị đồng ý giao con cho bên nội chăm sóc để bản thân thời
gian nghỉ ngơi bồi dưỡng sức khỏe, nhưng bên nội nhận con về được 3 tuần lại
giao trả cho gia đình chị vì H1 đau ốm không đủ sức khỏe để trông cháu. Từ đó
đến tháng 8/2025, chị vẫn trực tiếp nuôi con, chi trả các khoản học phí thêm bên
ngoài, các khoản sinh hoạt, ăn uống hàng tháng của con, còn anh D vẫn chu cấp
khoản học phí tại trường can thiệp cháu đang học bán trú, tiền ấy anh D gửi trực tiếp
vào tài khoản của nhà trường.
4
Ngày 19/09/2025 chị giao con cho anh D đón cháu về chơi 2 ngày cuối
tuần thứ 7 chủ nhật như thường lệ nhưng ngày thứ 2 (ngày 22/09/2025) anh D
không trả cháu về cho gia đình chị mà chỉ nhắn lại cho cháu đi chữa bệnh.
Nay tôi đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Toà án đã tiến hành thu thập chứng cứ, c minh tại địa phương, thể hiện:
Cháu L1 ngoan ngoãn, nghe lời bố và bà nội.
Toà án đã tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại nơi cháu đang học
Trung tâm H3, thể hiện: Cháu L1 mắc chứng Rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn hành vi
chậm phát triển trí tuệ. Khi mới vào học (khoảng 04 tuổi) thì khả năng nhận thức
thích ứng của cháu khoảng 1,5 tuổi. Tháng 8 năm 2025 chị L cho cháu Lâm thôi học
tại Trung tâm. Trước khi thôi học thì tinh thần ổn định, vui vẻ; khả năng nhận thức,
thích ứng của cháu là hơn 04 tuổi. Trung tâm cũng tư vấn là chưa nên cho cháu học
lớp 01 tại trường tiểu học thực tế cháu đã trên 06 tuổi nhưng nhận thức chưa đủ,
cháu cũng đang quen với môi trường một kèm một tại trung tâm nên cố gắng để cháu
theo học tiếp trung tâm 01 đến 02 năm nữa để cháu thể đi học tiểu học. Đến
cuối tháng 9/2025 sau khi phát hiện tình trạng của cháu khi mang về nuôi, gia đình
anh D đưa cháu đến học lại thì tinh thần hoảng loạn, có nhiều hành vi bạo lực đối
với các giáo viên cũ của cháu và trung tâm đánh giá cháu Lâm thời điểm đó bị thụt
lùi về nhận thức, thích ứng so với thời gian học trước đó. Hiện tại sức khoẻ cháu tốt
hơn, không còn bị o bón nặng như trước, tuổi nhận thức, thích ứng hiện nay của
cháu cũng dần phát triển lên lại đạt gần 04 tuổi.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 20/2026/HNGĐ-ST ngày
12/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 81; 82;
83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí,
lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Hữu D về việc thay
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao con chung cháu Phạm Bảo L1, sinh ngày 19/01/2019 cho anh Phạm
Hữu D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phạm Bảo L1 đủ 18 tuổi hoặc sự
thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
5
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo
dục con mà không ai được cản trở. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm
dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Sự thay đổi vngười trực tiếp nuôi dưỡng con chung này được thay thế cho
phần Quyết định về con chung của Quyết định công nhận thuận tình ly hôn s
thỏa thuận của các đương sự số 370/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019
của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Các bên có quyền yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp
nuôi con trên cơ sở lợi ích của con chung.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các
đương sự.
Sau đó, bđơn chị Thùy L đơn kháng cáo, đề nghị Toà án cấp phúc
thẩm sửa Bản án thẩm số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng, theo hướng giao lại quyền nuôi con chung
cho bị đơn và nguyên đơn chu cấp 8.000.000đồng/tháng để cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự giữ nguyên quan điểm đã trình bày ở
cấp sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Tại phiên toà sơ thẩm, nhận thức của cháu Phạm Bảo L1 chỉ đạt mức 3,5 đến
4 tuổi. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn được bố đẻ anh Phạm Hữu D trực tiếp
chăm sóc và can thiệp đúng phương pháp thì theo kết quả đánh giá mới nhất của
sở G (đầu tháng 5/2026), cháu L1 đã có nhận thức tương đương trẻ 5 tuổi. Ngoài ra,
cháu L1 bị táo bón mãn tính suốt 3 năm (từ khi với mẹ) dẫn đến chảy máu tươi
nhưng không được điều trị dứt điểm, điều này vi phạm Điều 15 Luật trem 2016 về
quyền được chăm sóc sức khoẻ. Chị Thùy L tự ép cháu L1 vào lớp 1 khi nhận
thức của cháu mới mức 3 tuổi, gây hoảng loạn và thụt lùi nhận thức của cháu. Đây
sai lầm nghiêm trọng trong phương pháp giáo dục đối với trẻ tự kỷ, trái với lời
khuyên của y bác sĩ và cơ sở giáo dục chuyên biệt. Chị L còn bỏ mặc cháu để đi du
lịch trong khi con đang phát bệnh.
Thay vào đó, anh Phạm Hữu D thu nhập ổn định hơn cụ thể khoảng 42
triệu đồng/tháng đã chứng minh bằng việc anh D người chi trả t15-18 triệu
đồng/tháng cho việc can thiệp chuyên biệt của con. Trong khi chị L lao động tự
do, thu nhập không ổn định, phải nhờ nhà bố mẹ đẻ. Tại bản án sơ thẩm chị L vẫn
đề nghị anh D phải hỗ trợ mỗi tháng 8 triệu đồng mới có thể nuôi và chămc cháu
6
L1. Về môi trường sống, tại số A Vọng H anh D đã thiết lập “hệ sinh thái” chăm sóc
gồm: Phòng vui chơi riêng, chế độ ăn chữa bệnh táo bón sự htrợ tài chính
mạnh mtừ nội (thu nhập trên 100 triệu đồng/tháng) nên cháu L1 sẽ môi
trường sống và chế độ chăm sóc tốt hơn khi ở với bố. Anh Phạm Hữu D quan
Công an nên lối sống chuẩn mực cam kết dành trọn vẹn thời gian ngoài giờ
làm việc để đồng hành cùng con trong “giai đoạn vàng” phát triển.
vậy, căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 nguyên tắc
“Ưu tiên lợi ích tốt nhất của trẻ em” tại Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016, đề nghị Hội
đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Thùy L, giữ nguyên bản
án thẩm giao cháu Phạm Bảo L1 cho nguyên đơn anh Phạm Hữu D trực tiếp
nuôi dưỡng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Việc thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ
quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm đối với kháng cáo của bị đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Toà án cấp thẩm đã thu thập đầy đủ
chứng cứ, quyết định của Bản án sơ thẩm đã đúng quy định của pháp luật. vậy,
căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Ttụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Thùy L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số
20/2026/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Hải Phòng.
Về án phí: Bị đơn chị Vũ Thùy L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem
xét tại phiên tòa căn cứ kết quả tranh tụng, Hồi đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Đây ván tranh chấp
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Do vụ án kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo điểm b khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn chị Vũ Thùy L:
[2.1] Anh Phạm Hữu D và chị Vũ Thùy L đều là người có trách nhiệm và rất
yêu thương con chung cháu Phạm Bảo L1; cùng tha thiết yêu cầu được trực tiếp
nuôi dưỡng cháu. Xét thấy, yêu cầu đó là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với đạo lý
7
và đúng quy định của pháp luật; do vậy khi xem xét giao con cho ai nuôi dưỡng cần
xem xét đến quyền lợi về mọi mặt của con theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và
gia đình.
[2.2] Theo Trung tâm H3 thì cháu Phạm Bảo L1 mắc chứng Rối loạn phổ tự
kỷ, rối loạn hành vi chậm phát triển trí tuệ. Trung tâm cũng vấn chưa nên
cho cháu học lớp 01 tại trường tiểu học thực tế cháu đã trên 06 tuổi nhưng nhận
thức chưa đủ, cháu cũng đang quen với môi trường một kèm một tại trung tâm nên
cố gắng để cháu theo học tiếp ở trung tâm 01 đến 02 năm nữa để cháu có thể đi học
tiểu học.
Tuy nhiên, tháng 8/2025 chị L cho cháu nghỉ học tại Trung tâm và cho cháu
học lớp 1. Sau thời gian ngắn, cháu biểu hiện hoảng loạn, hành vi bạo lực với
giáo viên bạn học; thụt lùi nhận thức, phải quay lại Trung tâm điều trị. Như
vậy, việc chL cho cháu Lâm học chương trình lớp 1 là chưa phù hợp với tình trạng
sức khỏe và khả năng tiếp nhận của cháu L1.
[2.3] Trong khi anh Phạm Hữu D điều kiện về vật chất đảm bảo tốt hơn
cho cuộc sống, học tập sự phát triển toàn diện của cháu L1: Cụ thể, theo bảng
lương, hợp đồng cho thuê nhà, sao ngân hàng thì thu nhập của anh D n định,
trung bình khoảng 43.000.000 đồng/tháng. Mặt khác anh D cháu L1 được sự giúp
đỡ rất lớn từ mẹ đẻ của anh D là bà Đỗ Thị Thu H1. Bà H1 là chủ Cơ sở Đỗ Hà Gia
T, chuyên sản xuất kinh doanh Nấm Đông trùng hạ thảo, thu nhập ba tháng gần
nhất là 121.000.000 đồng, 128.600.000 đồng, 134.700.000 đồng. Gia đình anh D đã
bố trí được không gian riêng để cháu nơi vui chơi, sinh hoạt gần gũi với thiên
nhiên.
[2.4] Theo tài liệu trong hồ thì chị Thùy L chưa chứng minh được
mức lương thu nhập n định, trong khi chi phí của cháu L1 cho các khoản ăn học
chữa bệnh là rất cao, khoảng 40.000.000 đồng/tháng.
Mặt khác, anh D cũng đề xuất nếu chị L đồng ý việc tiếp tục cho cháu theo
học tại Trung tâm H3; điều trị theo liệu trình điều trị bệnh chi trả tất cả chi phí
học tập, chữa bệnh và sinh hoạt của cháu L1 thì anh D cũng đồng ý để chị L tiếp tục
nuôi con. Tuy nhiên, chị L không đồng ý cho rằng việc học tập, chữa bệnh của
cháu chị không xác định cụ thể, học ở đâu là do chị tự quyết định.
[2.5] Từ những phân tích trên, xét thấy Toà án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn anh Phạm
Hữu D là có căn cứ theo Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, Hội đồng
xét xử phúc thẩm xét không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Thùy L, giữ
nguyên bản án sơ thẩm số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
8
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn chị
Vũ Thùy L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không
bịkháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 38; điểm a
khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 148, Điều 273, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng o của bị đơn chị Vũ Thùy L; giữ nguyên Bản án
hôn nhân gia đình thẩm số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Hữu D về việc thay
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Giao con chung cháu Phạm Bảo L1, sinh ngày 19/01/2019 cho anh Phạm
Hữu D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phạm Bảo L1 đủ 18 tuổi hoặc có s
thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo
dục con mà không ai được cản trở. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm
dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Sự thay đổi về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung này được thay thế cho
phần Quyết định về con chung của Quyết định công nhận thuận tình ly hôn s
thỏa thuận của các đương sự số 370/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019
của Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Các bên có quyền yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp
nuôi con trên cơ sở lợi ích của con chung.
2. Về án phí:
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Phạm Hữu D phải nộp 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
9
nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0005978 ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Anh Phạm Hữu D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Bị đơn chị Vũ Thùy L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số
0002082 ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Chị L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
20/2026/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 2 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải
Phòng không kháng cáo, kháng nghị nênhiệu lực pháp luật kể tngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
-VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 3 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 3 - Hải Phòng;
- THADS TP Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Tải về
Bản án số 25/2026/HNGĐ-PT Bản án số 25/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2026/HNGĐ-PT Bản án số 25/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất