Bản án số 386/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 386/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 386/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 386/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 386/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 386/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngày 25 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn ông Nguyễn Huy B có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ngày 22 tháng 9 năm 2025, bị đơn bà Phạm Thị H có đơn kháng cáo, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 386/2026/DS-PT
Ngày: 05/5/2026
V/v tranh chấp “Hp đng đt
cc, bi thường thiệt hại”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Tính.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Ngc Thái Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10/02/2026, 10/3/2026, 15/4/2026, 28/4/2026 và 05/5/2026
tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ
lý số: 1052/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 12 năm 2025 về việc tranh chấp “Hp
đng đt cc, bi thường thiệt hại”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 154/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực xx - Đng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 543/2026/QĐ-PT ngày
19 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 335/2026/QĐ-
PT ngày 10 tháng 02 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số:
389/2026/QĐPT-DS ngày 10 tháng 3 năm 2026; Thông báo về việc thay đổi
thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm số: 100/TB-TA ngày 27 tháng 3 năm
2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 543/2026/QĐPT-DS ngày 15 tháng 4
năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số C Quốc
lộ A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố H Chí Minh. Nay là số
352 Quốc lộ A, Đ, khu phố D, phường T, Thành phố H Chí Minh (có mt).
2. Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C,
tỉnh Tiền Giang. Nay là ấp T, xã B, tỉnh Đng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phan Thái P, sinh năm 1979. Địa
chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nay là ấp T, xã B, tỉnh Đng Tháp
(có mt).
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Đặng Thị Mỹ H1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số B L, Phường F,
thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Nay là số B L, phường T, tỉnh Đng Tháp (vắng
mt).
3.2. Ông Lê Thanh H2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh
Tiền Giang. Nay là ấp T, xã B, tỉnh Đng Tháp (có mt).
3.3. Ông Phan Thái P, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh
Tiền Giang. Nay là ấp T, xã B, tỉnh Đng Tháp (có mt).
3.4. Bà Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện
C, tỉnh Tiền Giang. Nay là ấp A, xã B, tỉnh Đng Tháp (vắng mt).
3.5. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã X, huyện
C, tỉnh Tiền Giang. Nay là tổ H, ấp T, xã B, tỉnh Đng Tháp (vắng mt).
4. Người làm chứng:
4.1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện C, tỉnh
Tiền Giang. Nay là ấp A, xã B, tỉnh Đng Tháp (vắng mt).
4.2. Bà Phương Thị Hồng H3, sinh năm 1989. Địa chỉ thường trú: 12
đường số H, khu C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nay là A đường
số H, khu C, phường T, Thành phố H Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: C đường số A,
khu T, phường T, Thành phố H Chí Minh (có mt).
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Huy B. Bị đơn bà Phạm Thị
H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm:
* Theo đơn khi kiện đề ngày 10/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn ông Nguyễn Huy B trình bày:
Ngày 09/3/2023, ông B đi cùng bà Đng Thị Mỹ H1 (địa chỉ: B L, phường
F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang), bà Phương Thị Hng H3 (địa chỉ: A đường Đ,
khu C, phường C, T, tỉnh Bình Dương) xuống phần đất của bà H để xem đất. Tại
buổi xem đất ngày 09/3/2023 có mt ông B, bà H1, bà H3, bà H, ông Lê Thanh
H2, bà Nguyễn Thị Hng X và ông Phạm Văn H4; thời điểm này ông B chỉ đi
chung với bà H1, người mua đất của bà H là bà H1; giữa bà H1 và bà H thỏa
thuận bán miếng đất diện tích 1.775,6m
2
, thuộc thửa 35, tờ bản đ số 15 ta lạc
tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang với giá 1.850.000.000 đng/01 công;
phía bà H có giao bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1; lúc
này các bên có nói phần đường đi đã hiến để làm đường chưa đưc đo đạc để
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sau này đo đạc lại diện tích còn
lại bao nhiêu sẽ nhân với giá 1.850.000.000 đng/01 công; hẹn 03 ngày sau sẽ
ký hp đng đt cc. Ngày 12/3/2023, tại nhà của ông H4 có mt ông B, bà H1,
bà H3, ông H4, bà X, bà H, ông H2, ông P. Bà H1 và bà H ký hp đng đt cc
3
bằng giấy tay, nội dung là bà H1 giao cho bà H 50.000.000 đng để mua phần
đất diện tích 1.775,6m
2
, thuộc thửa 35, tờ bản đ số 15 ta lạc tại ấp A, xã X,
huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời điểm này ông B có chụp hình lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của bà H, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không thể hiện có hành lang bảo vệ. Thời điểm này ông B có đi tìm hiểu chủ đất
đúng là bà H, có hỏi người quen đưc báo là đất không có quy hoạch nên
khoảng 01 tuần sau ngày 12/3/2023, ông B có đề nghị bà H1 để lại cho ông B
thửa đất bà H1 mua của bà H, do lúc này ông B có 02 thửa đất liền kề với thửa
đất của bà H và bà H1 cũng đang kẹt tiền nên bà H1 đng ý sang lại cho ông B,
việc bà H1 có thông báo cho phía bà H hay không thì ông B không biết nhưng
đến ngày 04/4/2023, ông B và bà H đã ký hp đng đt cc tại Ủy ban nhân dân
xã X, thời điểm ký hp đng đt cc có nêu rõ là phần đất không quy hoạch,
không giải tỏa, không tranh chấp thì ông B mua. Cùng ngày 04/4/2023, ông B
chuyển khoản cho ông H2 số tiền 450.000.000 đng, chuyển khoản trả cho bà
H1 50.000.000 đng bà H1 đã giao cho bà H vào ngày 12/3/2023. Thời điểm ký
hp đng đt cc thỏa thuận phía bà H chịu chi phí đo đạc, tối đa 02 tháng sau
khi ký hp đng đt cc sẽ có bản vẽ để ký hp đng chuyển nhưng, các chi
phí và thủ tục sau khi ký hp đng chuyển nhưng sẽ do bên ông B chịu.
Khoảng 02 tuần sau ngày 04/4/2023, ông B có kêu th xuống cht dừa và làm
bờ kè phần đất bà H bán. Ngày 14/6/2023, ông H2 có điện thoại cho ông B
thông báo là đã có bản vẽ và chụp hình bản vẽ gửi qua zalo cho ông B, kêu ông
B về ký hp đng chuyển nhưng nhưng ông B có đề nghị với ông H2 về kiểm
tra lại do trên bản vẽ nằm toàn bộ trong hành lang bảo vệ, có dính quy hoạch
hay không, ông B sẽ sắp xếp thời gian về. Đến ngày 19/7/2023, ông B có xuống
Ủy ban nhân dân xã X cùng bà H, ông P, ông H2, nhưng do đất nằm toàn bộ
trong hành lang bảo vệ ông B có đề nghị ông P, ông H2 và bà H ngi lại thỏa
thuận lại giá hoc hoàn tiền lại cho ông B nhưng ông P và bà H không chịu một
là tiếp tục chuyển nhưng, hai là mất cc. Ông B có xuống đất để bàn bạc thêm
với bà H, nhưng bà H, bà X khi nói chuyện không hp tác còn la lớn là ông B
hủy hoại tài sản, sẽ báo công an, lúc này có ông B và bà H1, bà H, bà X. Sau
ngày đó không có ai đến mời để làm việc về vấn đề hủy hoại tài sản. Đến ngày
21/7/2023, thì ông B nộp đơn ra Ủy ban nhân dân xã X và đề nghị Ủy ban nhân
dân xã X làm rõ là đất có dính quy hoạch hay không, nhưng Ủy ban nhân dân xã
X lại báo là không có quy hoạch, trong khi toàn bộ thửa đất ông B mua nằm
trong hành lang bảo vệ. Do đó ông B đã khởi kiện ra tòa, ông B cho rằng phần
đất nằm toàn bộ trong hành lang bảo vệ là đất có quy hoạch, mc dù vẫn sang
tên đưc nhưng ông B bị hạn chế quyền sử dụng, không phục vụ đưc mục đích
mua đất của ông B là để kinh doanh (thời điểm mua đất ông B không nói bà H
mục đích mua đất để làm gì, chỉ thỏa thuận không quy hoạch, không giải tỏa,
không tranh chấp là ông B mua) nên ông B yêu cầu đưc hủy Hp đng đt cc
ngày 04/4/2023, buộc bà Phạm Thị H trả lại cho ông B số tiền cc là
500.000.000 đng và đền bù số tiền tương ứng là 500.000.000 đng. Tổng cộng
là 1.000.000.000 đng vì đã vi phạm hp đng.
* Bị đơn bà Phạm Thị H có đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan
Thái P trình bày:
4
Phần đất bà H hứa chuyển nhưng cho ông B có ngun gốc là nhận tng
cho từ ông Phạm Văn C. Ngày 09/3/2023, tại phần đất của bà H, có mt: bà H,
ông B, bà Đng Thị Mỹ H1, bà Phương Thị Hng H3, ông Lê Thanh H2, bà
Nguyễn Thị Hng X và ông Phạm Văn H4 (địa chỉ: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh
Tiền Giang); giữa bà H1 và bà H thỏa thuận bán miếng đất diện tích 1.775,6m
2
,
thuộc thửa 35, tờ bản đ số 15 ta lạc tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang
với giá 1.850.000.000 đng/01 công. Bà H có giao bản photo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà H1, lúc này các bên có nói phần đường đi đã hiến để
làm đường chưa đưc đo đạc để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên
sau này đo đạc lại diện tích còn lại bao nhiêu sẽ nhân với giá 1.850.000.000
đng/01 công, hẹn 03 ngày sau sẽ ký hp đng đt cc. Ngày 12/3/2023, tại nhà
của ông H4; có mt ông B, bà H1, bà H3, ông H4, bà X, bà H, ông H2, ông P.
Bà H1 và bà H ký hp đng đt cc bằng giấy tay, nội dung là bà H1 giao cho
bà H 50.000.000 đng để mua phần đất diện tích 1.775,6m
2
, thuộc thửa 35, tờ
bản đ số 15 ta lạc tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bên bà H đã nhận
đủ 50.000.000 đng của bà H1. Ngày 04/4/2023, bà H và ông B ký hp đng đt
cc, sau khi ký hp đng đt cc xong cùng ngày 04/4/2023, ông B đã chuyển
khoản 450.000.000 đng cho ông H2, số tiền này ông H2 đã giao lại cho bà H.
Việc bà H1 và ông B thỏa thuận sang đất qua lại như thế nào thì bà H không
biết, do từ lúc đầu bà H1 và ông B đều đi chung nên bà H tưởng là hai người
cùng mua nên ngày 04/4/2023 bà H ký hp đng với ông B không có thắc mắc.
Sau khi ký hp đng xong, bên bà H có tiến hành nhờ đo vẽ thửa đất, ngày
14/6/2023 bà H nhận đưc bản vẽ nên nhờ ông H2 điện thoại báo cho ông B và
có chụp hình bản vẽ cho ông B coi, kêu ông B sắp xếp thời gian xuống ký hp
đng chuyển nhưng. Ngày 15/6/2023, bà H1 kêu người xuống cht dừa trên đất
của bà H và làm kè, do ông B hẹn nói để sắp xếp về nên bà H không có ngăn
cản. Sau khi ông H2 nhắn ông B nhiều lần thì ngày 19/7/2023, ông B cùng bà H
xuống Ủy ban nhân dân xã X nhưng ông B không đng ý mua nói do đất dính
quy hoạch. Sau đó ông B có gửi đơn ra xã yêu cầu giải quyết. Lúc hòa giải ở xã,
ông B ủy quyền cho bà H1, tại xã bà H1 nói nếu đất lên thổ cư đưc thì ông B
mới mua. Thời điểm chuyển nhưng cho ông B, bà H không biết phần đất của
mình nằm trong hành lang bảo vệ kênh, do đất sử dụng từ đó đến giờ nên khi
bán không có lên chi nhánh hoc ủy ban để hỏi. Đng thời đất trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thể hiện là đất cây lâu năm, hiện nay vẫn là cây lâu năm
không có thay đổi gì. Đất không có dính quy hoạch, hp đng chuyển nhưng
vẫn đưc thực hiện bình thường, vẫn sang tên đưc nhưng ông B không đng ý
tiếp tục. Do đó với yêu cầu của ông B, nếu ông B đng ý tiếp tục thực hiện hp
đng bà H vẫn đng ý. Nếu hủy bỏ hp đng đt cc, bà H không đng ý trả lại
500.000.000 đng tiền cc và phạt cc 500.000.000 đng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H2 trình bày:
Ngày 09/3/2023, tại phần đất của bà H, có mt bà H, ông B, bà Đng Thị
Mỹ H1, ông H2, bà Nguyễn Thị Hng X và ông Phạm Văn H4; giữa bà H1 và
bà H thỏa thuận bán miếng đất diện tích 1.775,6m
2
, thuộc thửa 35, tờ bản đ số
15 ta lạc tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang với giá 1.850.000.000
5
đng/01 công; phía bà H có giao bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà H1; lúc này các bên có nói phần đường đi đã hiến để làm đường chưa
đưc đo đạc để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên sau này đo đạc
lại diện tích còn lại bao nhiêu sẽ nhân với giá 1.850.000.000 đng/01 công; hẹn
03 ngày sau sẽ ký hp đng đt cc. Ngày 12/3/2023, tại nhà của ông H4; có
mt ông B, bà H1, bà H3, ông H4, bà X, bà H, ông P, ông H2; bà H1 và bà H ký
hp đng đt cc bằng giấy tay, nội dung là bà H1 giao cho bà H 50.000.000
đng để mua phần đất diện tích 1.775,6m
2
, thuộc thửa 35, tờ bản đ số 15 ta
lạc tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang; bên bà H đã nhận đủ 50.000.000
đng của bà H1. Ngày 04/4/2023, bà H và ông B ký hp đng đt cc, sau khi
ký hp đng đt cc xong cùng ngày 04/4/2023, ông B đã chuyển khoản
450.000.000 đng cho ông H2, số tiền này ông H2 đã giao lại cho bà H. Ngày
14/6/2023 bà H nhận đưc bản vẽ nên nhờ ông H2 điện thoại báo cho ông B và
có chụp hình bản vẽ cho ông B coi, kêu ông B sắp xếp thời gian xuống ký hp
đng chuyển nhưng, nhưng ông B kêu để ông B sắp xếp và có yêu cầu ông H2
kiểm tra lại đất có bị dính quy hoạch không. Sau khi ông H2 nhắn ông B nhiều
lần thì ngày 19/7/2023, ông B cùng bà H xuống Ủy ban nhân dân xã X nhưng
ông B không đng ý mua nói do đất dính quy hoạch. Sau đó ông B có gửi đơn ra
xã yêu cầu giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng X trình
bày:
Phía ông B thuê anh T (không rõ h tên, năm sinh) cùng 03 người đi cùng
anh T phụ giúp việc cht dừa, đốn dừa, những người này ngụ tại xã T (không rõ
tổ, ấp), huyện C, tỉnh Tiền Giang. Anh T cùng 03 người phụ giúp đỡ đã tiến
hành việc cht dừa đốn dừa trên mảnh đất đang tranh chấp. Vào buổi sáng,
khoảng từ 08 giờ đến 09 giờ ngày 30/4/2023 âm lịch, anh T cùng những người
giúp phụ việc đã tiến hành cht dừa trên mảnh đất đang tranh chấp. Tại thời
điểm đó, có bà X, bà M, bà H1; phía ông B, ông L là người đưc phía ông B
thuê để cht, đốn dừa tại mảnh đất tranh chấp chứng kiến việc đốn, hạ dừa. Số
lưng dừa bị đốn khoảng 65 cây dừa, trong đó có 35 cây dừa trưởng thành, độ
cao khoảng 8m trở lên, tuổi th khoảng 20 năm tuổi trở lên, dừa này hiện đang
cho trái, số 30 cây dừa còn lại khoảng 01m trở lên, còn nhỏ chưa cho trái tuổi
th khoảng 02 năm tuổi. Khi đốn dừa, số củ hủ khoảng 20 củ hủ, anh T bán số
củ hủ này cho chùa L1 với số tiền 600.000 đng, bà X đã cho chùa L1 mưn
500.000 đng để trả số tiền mua củ hủ. Còn số chuối bị thiệt hại thì không có ai
cht mà do xe cẩu của anh L điều khiển trong quá trình đóng cc làm đè quật
ngã, số lưng khoảng 30 bụi chuối đang cho trái.
* Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông B thuê anh T tiến hành đốn, cht dừa trên phần đất tranh chấp, anh T
không cht chuối, đốn chuối và ông L không biết ai là người đốn chuối. Buổi
sáng khoảng từ 08 giờ đến 09 giờ, ông L không nhớ rõ ngày thực hiện thì anh T
tiến hành cht dừa, đốn dừa trên phần đất đang tranh chấp. Tại thời điểm đó, có
ông L, bà H1 là người của ông B, anh T là người đưc thuê đốn dừa, bà X và bà
6
M có mt chứng kiến. Số lưng dừa bị đốn khoảng 20 cây dừa, độ tuổi khoảng
20 năm tuổi, chiều cao từ 08m trở lên. Khi cht có củ hủ dừa đưc anh T th cưa
tng cho chùa L1 chứ không bán. Ông L là người đưc thuê đóng cừ làm đê.
* Người làm chứng bà Nguyễn Thị M trình bày:
Phía ông B thuê anh T cùng 03 người đi cùng anh T phụ giúp việc cht
dừa, đốn dừa, những người này ngụ tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Anh T
cùng 03 người giúp việc đã tiến hành việc cht dừa, đốn dừa trên mảnh đất đang
tranh chấp. Vào buổi sáng, khoảng từ 08 giờ đến 09 giờ ngày 30/4/2023 âm lịch,
anh T cùng những người giúp phụ việc đã tiến hành cht dừa trên mảnh đất
tranh chấp. Tại thời điểm đó, bà M, bà X, bà H1 phía ông B, ông L là người
đưc phía ông B thuê đóng cc làm đê, anh T và 03 người phụ việc đưc ông B
thuê đốn dừa trên mảnh đất tranh chấp chứng kiến việc đốn hạ dừa. Số lưng
dừa bị đốn khoảng 65 cây, trong đó có 35 cây dừa trưởng thành, độ cao khoảng
8m trở lên, tuổi th khoảng 20 năm tuổi trở lên, dừa này hiện đang cho trái, số
30 cây dừa còn lại khoảng 01m trở lên, còn nhỏ chưa cho trái tuổi th khoảng 02
năm tuổi. Khi đốn dừa, số củ hủ khoảng 20 củ hủ, anh T bán số củ hủ này cho
chùa L1 với số tiền 600.000 đng, bà X đã cho chùa L1 mưn 500.000 đng để
trả số tiền mua củ hủ. Còn số chuối bị thiệt hại thì không có ai cht mà do xe cẩu
của anh L điều khiển trong quá trình đóng cc làm đè quật ngã, số lưng khoảng
30 bụi chuối đang cho trái.
* Người làm chứng bà Phương Thị Hồng H3 trình bày:
Bà H3 chứng kiến việc ông B đt cc mua đất, không liên quan việc đt
cc, chuyển nhưng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông B, số tiền 450.000.000
đng bà H3 chuyển khoản cho ông B là tiền đt cc bà H3 mua lại thửa 35 của
ông B; sau khi ông B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ chuyển
nhưng lại cho bà H3; giấy ủy quyền ngày 03/4/2023 là để làm tin giữa bà H3
và ông B. Ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung gì khác.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 154/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực xx - Đng Tháp, đã áp dụng:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 229, 244, 266, 271 và Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 126, 131, 328, 407 Bộ luật dân
sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Huy B.
Tuyên bố vô hiệu hp đng đt cc chuyển nhưng quyền sử dụng đất
thửa 35, tờ bản đ số 15 tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày
04/4/2023 giữa ông Nguyễn Huy B và bà Phạm Thị H.
7
Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Huy B số tiền
500.000.000 đng (Năm trăm triệu đng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm
thực hiện theo nội dung quyết định này thì hàng tháng phải trả tiền lãi theo mức
lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và
thời gian chậm thi hành án.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Nguyễn Huy B về việc buộc bà Phạm Thị H hoàn trả 500.000.000 đng (Năm
trăm triệu đng) phạt cc.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phạm Thị H.
Buộc ông Nguyễn Huy B có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phạm Thị H giá trị
30 cây dừa là 22.500.000 đng (Hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm
thực hiện theo nội dung quyết định này thì hàng tháng phải trả tiền lãi theo mức
lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và
thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo của đương sự.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn ông Nguyễn Huy B có đơn kháng
cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đng Tháp sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn. Ngày 22 tháng 9 năm 2025, bị đơn bà Phạm Thị H có đơn kháng
cáo, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Huy B trình bày: Tôi vẫn giữ yêu cầu kháng
cáo, không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ mới, đề nghị Hội đng xét xử đánh
giá lại tài liệu, chứng cứ có trong h sơ để sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của tôi.
- Đại diện bị đơn ông Phan Thái P trình bày: Tôi vẫn giữ yêu cầu kháng
cáo, không bổ sung tài liệu, chứng cứ mới. Tôi rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện
phản tố về yêu cầu bên ông B bi thường thiệt hại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H2 trình bày: Tôi
thống nhất theo ý kiến của ông P đại diện cho bị đơn là bà H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký,
Hội đng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng Dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng Điều 148, Khoản 1
Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên
8
đơn ông Nguyễn Huy B và yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị H, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát
viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự về “Hp đng đt cc, bi
thường thiệt hại” là có căn cứ.
[2]. Xét thời hạn kháng cáo: Ngày 15/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực
xx - Đng Tháp ban hành bản án số 154/2025/DS-ST, đến ngày 22 tháng 9 năm
2025, bị đơn bà Phạm Thị H nộp đơn kháng cáo, đến ngày 25 tháng 9 năm 2025,
nguyên đơn ông Nguyễn Huy B nộp đơn kháng cáo. Như vậy, kháng cáo của
ông B và bà H còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự nên đưc xem xét theo thủ tục kháng cáo thông thường.
[3]. Xét nội dung kháng cáo:
[3.1]. Nguyên đơn ông Nguyễn Huy B kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, không chấp
nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà H.
- Ông B yêu cầu hủy hp đng đt cc ngày 04/4/2023 giữa ông và bà H;
đng thời yêu cầu bà H trả lại cho ông số tiền cc mà ông đã giao cho bà H là
500.000.000 đng, đền bù số tiền tương ứng là 500.000.000 đng, tổng cộng
1.000.000.000 đng vì: Ông B cho rằng bà H đã vi phạm nghĩa vụ tại Hp đng
đt cc ngày 04/4/2023, cụ thể: Theo nội dung hp đng đt cc, bà H cam đoan
thửa đất 131 và 132 không nằm trong quy hoạch. Tuy nhiên, qua kết quả đo đạc
hiện trạng thửa đất nói trên theo hp đng đo đạc số 1204/2023/HĐDS/CĐ ngày
04/4/2023 về việc đo đạc địa chính thửa đất số 131, 132 cùng tờ bản đ địa
chính số 15 đưc tách từ thửa 35 tờ bản đ số 15, ta lạc tại A, xã X, huyện C,
tỉnh Tiền Giang: Trn thửa 132 tờ bản đ số 15 nằm trong hành lang bảo vệ
ngun nước và hành lang bảo vệ đê. Trn thửa 131 tờ bản đ số 15 nằm trong
hành lang bảo vệ đê.
Việc phần đất nằm toàn bộ trong hành lang bảo vệ ngun nước và đê
nghĩa là đất có quy hoạch, dù vẫn sang tên đưc nhưng ông B sẽ bị hạn chế
quyền sử dụng, không phục vụ đưc mục đích mua đất của ông là để kinh
doanh.
[3.1.1]. Nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án, cả bà H và ông B đều thống
nhất trình bày trước đây giữa bà H và bà H1 có thỏa thuận chuyển nhưng thửa
35, tờ bản đ số 15 (nay là thửa 131 và 132, tờ bản đ số 15). Sau khi đã giao số
tiền 50.000.000 đng cho bà H, bà H1 mới nhưng lại đất cho ông B nhận
chuyển nhưng và ông B chỉ phải đưa thêm bà H số tiền cc 450.000.000 đng.
Bà H trình bày ông B và bà H1 đã xem xét kỹ, biết rõ về thửa đất số 35, tờ bản
đ số 15. Việc giao kết hp đng hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không
9
bị ép buộc. Tại Biên bản đối chất ngày 14/3/2024, ông B cũng thừa nhận “Ngày
09/3/2023, ông có cùng bà H1 đi xem đất của bà H. Sau đó, ông B có tìm hiểu
và biết chủ đất đúng là bà H, có hỏi người quen được báo là đất không có quy
hoạch nên ngày 12/3/2023, tại nhà của ông H4, có mặt ông B, bà H1, bà H3,
ông H4, bà X, bà H, ông H2, ông P. Ông B đề nghị bà H1 để lại cho ông thửa
đất bà H1 mua của bà H do ông B có 02 thửa đất liền kề và bà H1 cũng đang
kẹt tiền nên đồng ý sang lại cho ông B. Thời điểm này, ông B có chụp hình lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H, trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất không thể hiện có hành lang bảo vệ”. Phía bà H thừa nhận bà không
biết phần đất của mình nằm trong hành lang bảo vệ kênh, do đất sử dụng từ
trước đến giờ nên khi bán không có lên chi nhánh hoc ủy ban để hỏi.
[3.1.2]. Căn cứ công văn số 21/CN.KVII-KTĐC ngày 24/4/2026 của Chi
nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Đng Tháp về việc cung cấp thông tin dữ liệu đất đai,
đối chiếu theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai 2013, thì bà H có đủ điều
kiện để thực hiện quyền chuyển nhưng quyền sử dụng đất. Hp đng đt cc
ngày 04/4/2023 giữa ông B và bà H thể hiện đầy đủ nội dung về đối tưng hp
đng, quyền, nghĩa vụ các bên, thời hạn đt cc, mức phạt cc và đưc ký kết
hoàn toàn tự nguyện, các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm
dân sự nên có hiệu lực pháp luật theo thỏa thuận các bên ngay sau khi hai bên ký
kết (Điều 6). Ông B trình bày không đng ý tiếp tục ký kết hp đng chuyển
nhưng do bà H vi phạm nghĩa vụ hp đng đt cc ngày 04/4/2023 vì đất đã
nằm trong quy hoạch hành lang bảo vệ ngun nước và hành lang bảo vệ đường
đê, ảnh hưởng việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của ông B, nhưng tại Biên
bản xác minh ngày 28/6/2024, ông Nguyễn Toàn N – Công chức địa chính xã X
cung cấp thông tin: Thửa 35, tờ bản đ số 15, ta lạc ấp A, xã X, huyện C, tỉnh
Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00463 cấp ngày
31/12/2010. Từ năm 2018 đến nay không có thông tin quy hoạch. Đối với hành
lang bảo vệ ngun nước đã có từ trước năm 2010. Đối với hành lang bảo vệ
đường đê là 20m. Hiện đường đê đã đưc chuyển đổi thành đường sông Tiền
theo Quyết định số 02 ngày 08/5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C nên hành
lang bảo vệ chỉ còn lại 7,5m. Ngoài phần đất hành lang bảo vệ ngun nước và
hành lang bảo vệ đường đê thì phần đất còn lại vẫn chuyển mục đích sử dụng
lên đất thổ cư bình thường. Mt khác, việc ông B nhận chuyển nhưng quyền sử
dụng đất của bà H để lên thổ cư không đưc thỏa thuận tại hp đng đt cc như
là điều kiện để các bên ký kết hp đng chuyển nhưng quyền sử dụng đất và là
nghĩa vụ của bà H phải đảm bảo việc lên thổ cư cho ông B. Tại phiên tòa sơ
thẩm, ông B và đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Phan Thái P xác nhận:
“Ông B mua đất để đào ao, nuôi cá, không phải để lên thổ cư”. Phía bà H vẫn
đng ý tiếp tục thực hiện hp đng nhưng ông B không đng ý tiếp tục thực
hiện, vì không đạt đưc mục đích nhận chuyển nhưng quyền sử dụng đất.
[3.1.3]. Như đã phân tích, có căn cứ xác định “Hp đng đt cc ngày
04/4/2023 giữa ông B và bà H” đảm bảo về mt hình thức và nội dung nên phát
sinh hiệu lực kể từ thời điểm hai bên xác lập. Căn cứ thỏa thuận tại Điều 3 và
Điều 6 của Hp đng đt cc, bà H không có vi phạm các cam kết trong hp
đng và việc ông B đơn phương hủy hp đng là không có căn cứ nên không có
10
cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cũng như yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
ông B.
[3.2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bà H:
Như nhận định tại mục [3.1] nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà H.
[3.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn ông Nguyễn Thái P1 rút
đơn kiện phản tố đối với yêu cầu ông B bi thường số cây trng là dừa trên đất.
Hội đng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự đình
chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà H.
[4]. Từ phân tích nêu trên, Hội đng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bị đơn bà H, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ông B. Sửa bản án dân sự sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Nguyễn Huy B, đình chỉ yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn
bà Phạm Thị H.
[5]. Về chi phí tố tụng:
[5.1]. Tại cấp sơ thẩm các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội
đng phúc thẩm không xem xét.
[5.2]. Tại cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét thẩm định tại chổ, bị đơn bà H
tự nguyện chịu, bà H đã tạm ứng và quyết toán xong.
[5]. Về án phí:
[5.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông B không đưc chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên phải chịu án phí
dân sự có giá ngạch trên số tiền 1.000.000.000 đng là 42.000.000 đng. Ông B
đưc khấu trừ vào 21.000.000 đng tạm ứng án phí ông B đã nộp theo biên lai
thu số xxxx ngày 17/01/2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện C,
tỉnh Tiền Giang nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực xx, tỉnh Đng Tháp.
Vậy ông B phải nộp tiếp 21.000.000 đng.
- Bà H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trên số tiền 22.500.000 đng
là 1.125.000 đng. Bà H đưc khấu trừ vào 2.425.000 đng tạm ứng án phí bà H
đã nộp theo biên lai thu số xxxx ngày 24/4/2024 của cơ quan Chi cục Thi hành
án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực
xx, tỉnh Đng Tháp. Vậy hoàn lại cho bà H 1.300.000 đng.
[5.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Huy B không đưc chấp nhận kháng cáo nên phải chịu
300.000 đng án phí dân sự phúc thẩm. Ông B đưc khấu trừ vào 300.000 đng
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số xxxx ngày 25/9/2025 của
cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đng Tháp. Vậy ông B đã nộp xong án phí.
- Bà Phạm Thị H đưc chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu 300.000
đng án phí dân sự phúc thẩm. Bà H đưc hoàn lại 300.000 đng tạm ứng án phí
11
phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số xxxx ngày 22/9/2025 của cơ quan Thi
hành án dân sự tỉnh Đng Tháp.
[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp là
có căn cứ một phần về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông B, phù hp với
một phần nhận định của Hội đng xét xử nên đưc chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 229, 244, 266, 271 và Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 328, 407, 423, 424, 425, 426,
427 Bộ luật dân sự 2015; Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Huy B. Chấp
nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số:
154/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực xx –
Đng Tháp:
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Huy B về việc:
- Tuyên bố vô hiệu hp đng đt cc chuyển nhưng quyền sử dụng đất
thửa 35, tờ bản đ số 15 tại ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày
04/4/2023 giữa ông Nguyễn Huy B và bà Phạm Thị H.
- Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Huy B số
tiền 500.000.000 đng (Năm trăm triệu đng) tiền cc và bi thường phạt cc
500.000.000 đng (Năm trăm triệu đng).
1.2 Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phạm Thị H về việc:
Buộc ông Nguyễn Huy B có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phạm Thị H giá trị 30 cây
dừa là 22.500.000 đng.
1.3. Về án phí dân sơ thẩm:
- Ông B phải chịu 42.000.000 đng. Ông B đưc khấu trừ vào 21.000.000
đng tạm ứng án phí ông B đã nộp theo biên lai thu số xxxx ngày 17/01/2024
của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nay là Phòng
Thi hành án dân sự khu vực xx, tỉnh Đng Tháp. Vậy ông B phải nộp tiếp
21.000.000 đng.
- Bà H phải chịu 1.125.000 đng. Bà H đưc khấu trừ vào 2.425.000 đng
tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số xxxx ngày 24/4/2024 của cơ
quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nay là Phòng Thi
12
hành án dân sự khu vực xx, tỉnh Đng Tháp. Vậy hoàn lại cho bà H 1.300.000
đng.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
2.1. Ông Nguyễn Huy B phải chịu 300.000 đng án phí dân sự phúc thẩm.
Ông B đưc khấu trừ vào 300.000 đng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo
biên lai thu số xxxx ngày 25/9/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đng
Tháp. Vậy ông B đã nộp xong án phí.
2.2. Bà Phạm Thị H không phải chịu 300.000 đng án phí dân sự phúc
thẩm. Bà H đưc hoàn lại 300.000 đng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo
biên lai thu số xxxx ngày 22/9/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đng
Tháp.
Trường hp bản án, quyết định đưc thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người đưc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật
thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đưc thực hiện theo qui định tại điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên lúc 15 giờ 15 phút và kết thúc lúc 15 giờ 30 phút cùng ngày có
mt ông B, ông P1, ông H2, bà H3, các đương sự còn lại vắng mt.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc Thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đng Tháp;
- TAND Khu vực xx – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực xx – Đng Tháp;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đng Tháp;
- Công bố bản án CTTĐT;
- Lưu: VT, h sơ vụ án;
DSPT-2026-T (TK Linh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Hữu Tính
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm