Bản án số 143/2026/HS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 143/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 143/2026/HS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 143/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyen Minh H va dp
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 143/2026/HS-PT Bản án số 143/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 143/2026/HS-PT Bản án số 143/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 143/2026/HS-PT
Ngày: 15-7-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Bà Phạm Thị Thanh Giang
- Thư phiên tòa: Thị Bảo Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Hoàng Phận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 13/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng
02 năm 2026 đối với các bị cáo Nguyễn Minh H và đồng phạm do có kháng cáo
của các bị o đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST, ngày 25 tháng
12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Minh H, sinh ngày: 06/7/1993; Nơi cư trú: Ấp T, xã K, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh H1
Đoàn Thị N; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thùy T có 01 người con sinh 2014;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 11/11/2009 bị Ủy ban nhân dân huyện V đưa vào trường giáo dưỡng
24 tháng về hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Ngày 05/01/2017 bị tòa án huyện V xử phạt 09 thángvề tội cố ý làm
hỏng tài sản
Ngày 20/6/2025 bị cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an L4 khởi tố về tội cố
ý gây thương tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ này 27/5/2025 đến ngày 30/5/2025 chuyển tạm giam,
cho đến 20/8/2025 cho bảo lãnh (có mặt).
2
2. Nguyễn Văn C, sinh ngày: 10/11/1988; Nơi cư trú: Ấp C, xã V, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M
Nguyễn Thị D (chết); Bị cáo vợ Mai Thị Ánh T1 02 người con, lớn
sinh 2009, nhỏ sinh 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày
11/02/2025 đến ngày 20/02/2025 chuyển tạm giam cho đến 29/8/2025 cho bảo
lĩnh đến nay (có mặt).
3. Nguyễn Trung T2, sinh ngày: 09/10/1991; Nơi trú: Ấp T, T, tỉnh
Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trung T3
(chết) và bà Trương ThN1; Bị cáo có vợ Trần ThCẩm T4 01 người con sinh
2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày
20/02/2025 chuyển tạm giam cho đến 20/8/2025 cho bảo lĩnh đến nay (có mặt).
4. Đoàn Công H2, sinh ngày: 02/7/1991; Nơi trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Công H3 Trần
Thị Ngọc L; Bị cáo có vợ Trần Thị Nhật H4 có 02 người con, lớn sinh 2012,
nhỏ sinh 2024; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Ngày 03/2/2016 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện V áp dụng biện pháp giáo
dục tại xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
Ngày 14/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xử hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng
Ngày 22/5/2025 bị quan Cảnh sát điều tra khởi tố về tội Buôn lậu theo
khoản 1 Điều 188 Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025 chuyển tạm giam
đến ngày 17/7/2025 cho bảo lĩnh đến nay (có mặt).
5. Lê Văn Đ, sinh ngày: 20/10/1982; Nơi cư trú: ấp R, xã V, tỉnh Tây Ninh;
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H5 Trần Thị P.
(đã chết); bị cáo có vợ là Tiêu Thị Bé T5 và có 02 người con, lớn sinh 2012, nh
sinh 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 30/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh
Long An xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều
321 Bộ luật Hình sự;
Bị o bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025 chuyển tạm
giam, đến ngày 17/7/2025 cho bảo lĩnh đến nay (có mặt).
6. Nguyễn Văn T6, sinh ngày: 01/01/1984; Nơi cư trú: Ấp T, xã K, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn a: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N2
3
Nguyễn Thị H6; bị cáo vợ Tạ Thị T7(đã ly hôn) 02 người con, lớn
sinh 2005, nhỏ sinh 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/12/2023 bị Công an
huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi buôn bán
hàng cấm;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025 chuyển giam đến
ngày 30/10/25 cho bảo lĩnh đến nay (có mặt).
7. Nguyễn Út D1, sinh ngày: 27/7/1991; Nơi trú: Ấp T, xã K, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M1
Thị Kim T8; bị cáo vợ Nguyễn Thị Tuyết N3 01 người con sinh
2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú (có mặt).
8. Mai Minh C1, sinh ngày: 10/9/1990; Nơi trú: Ấp T, xã K, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn Đ1 (chết)
Thị C2; bị cáo vợ Nguyễn Thị Thu T9 (đã ly n) 01
người con sinh 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
9. Phan Thị Mỹ T10, sinh ngày: 06/8/1988; Nơi trú: Ấp T, T, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn M2 (chết)
Nguyễn Thị T11; bị cáo chồng tên Hứu S; Tiền án, tiền sự: không; Bị
cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
10. Nguyễn Thị T12, sinh ngày: 13/10/1979; Nơi trú: Ấp T, T, tỉnh
Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh
L1 và bà Đoàn Thị D2; bị cáo có chồng Nguyễn Thanh T13 và có 02 người con,
lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
11. Nguyễn Thị Cẩm T14, sinh ngày: 21/5/2004; Nơi trú: Ấp T, R,
tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Nguyễn Thị Bích
L2, cha không xác định; Bị cáo chưa có chồng; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
12. Trần Hữu T15, sinh ngày: 01/02/2000; Nơi cư trú: Ấp R, xã V, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Bình N4
Nguyễn Thị P1; Bị cáo chưa vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
13. Trần Minh B, sinh ngày: 03/9/2001; Nơi trú: Ấp B, V, tỉnh Tây
Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới
4
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Trần Trung V và bà Hồ
Thị P2; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
14. Văn N5, sinh ngày: 20/8/1986; Nơi trú: Ấp C, V, tỉnh Tây Ninh;
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N6Lê Thị
C3; Bị cáo có vợ là Phan Thị H7 và 02 người con, lớn sinh 2014, nhỏ sinh 2016;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
Ngày 05/2/2020 bCông an huyện V xphạt 1.500.000đ về hành vi đánh
bạc
Ngày 24/5/2023 bị Công an V, huyện V xử phạt 1.500.000đ về hành vi
đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025 chuyển tạm
giam, đến ngày 17/7/2025 cho bảo lĩnh đến nay (có mặt).
15. Hoàng Thị Hồng D3, sinh ngày: 15/5/1972; Nơi trú: Ấp C, xã V, tỉnh
Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Minh D4
(chết) bà Lường Thị C4; bị cáo sống chung như vợ chồng với ông Lê Văn N7;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 24/5/2023 bị Công an V, huyện V xử phạt 1.500.000đ
về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025 chuyển tạm
giam, đến ngày 25/4/2025 cho bảo lĩnh đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Đ: Ông Võ Đình Trí D5 - Luật sư Công
ty L5 và cộng sự; thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Công H2: Ông Lê Văn L3 - Luật ng
ty L6 tại thành phố T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh B: Ông Nguyễn Văn T16- Luật
Công ty L7, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Ngoài ra trong vụ án còn các bị cáo khác, và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không có kháng cáo, kháng nghị. Toà không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/02/2025 (nhằm ngày mùng 08 tháng 01 âm lịch) T5, Hiện, T2, C
đến nhà gặp Đoàn Công H2 thỏa thuận với Đoàn Công H2, sinh 02/7/1993,
trú ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An (nay là ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh) đến nhà
5
kho của H2 để tổ chức đánh bạc để lấy tiền "xâu" chia nhau tiêu xài, H2 đồng ý.
Hình thức tổ chức là sử dụng loại bài tây 52 lá để đánh bài cào 3 lá, một tụ bài sẽ
làm "cái", những người chơi còn lại sẽ đặt cược số tiền theo quy định của nhà cái
trước mỗi ván chơi và phải công khai trên chiếu bạc. Nếu tổng điểm của 3 lá bài
cao hơn nhà cái thì sẽ thắng được số tiền đã đặt cược, nếu thấp hơn nhà cái thì sẽ
thua số tiền đã đặt cược và có tổng số điểm 10 được quy ước thấp nhất là bù (10
điểm), cao nhất ba cào (sở hữu 3 bài J, Q, K bất kỳ). C T2 nhiệm vụ
rủ rê, lôi kéo các con bạc đến tham gia đánh bạc. Kho nằm trên đất do Trần
Thị Ngọc L trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho H2 trực tiếp quản
lý. Thời gian tổ chức là từ khoảng 12 giờ ngày hôm trước đến khoảng 02 hoặc 03
giờ sáng ngày hôm sau. Số tiền "xâu" thu được mỗi ngày tổ chức đánh bạc giao
T5 giữ. Sau khi trừ các chi phí thì chia tiền thu lợi là Hoàng 2, T5 Hiện 35%,
Cương 30%, T. T5 thuê Huỳnh Văn K, sinh ngày 16/10/2004, Nguyễn Chí H8,
sinh 15/11/2001 (cả hai là cháu của T5), Nguyễn Văn N8, sinh ngày 01/01/1989
(anh rể của T5), Trần Duy T17, sinh ngày 23/7/1991, Nguyễn Duy Q, sinh ngày
01/01/1990, Trịnh Chí B1, sinh ngày 19/4/1995. Cương thuê Ngô Văn H9, sinh
ngày 30/4/1996 Ngô Văn N9, sinh ngày 21/11/1989. Nguyễn Minh H thuê
Trần Văn T18, sinh ngày 10/9/1997 Phạm Văn T19, sinh ngày 26/11/2000.
Sau khi thuê các đối tượng trên, Hiện, T5 phân công như sau: Trịnh Chí B1 đi
chợ mua đồ ăn, nước uống, thuốc hút nấu ăn; Trần Duy T17 phục vụ nước
uống, thuốc hút, giúp kiểm đếm sván chơi để thu tiền "xâu"; Phạm Văn T19 giữ
phương tiện của những người đến tham gia đánh bạc; Trần Văn T18 cảnh giới
khu vực đậu xe, khi lực lượng chức năng hoặc người lạ thì báo lại; Nguyễn
Văn N8 cảnh giới, mở, khóa cổng ra vào cho những người đến tham gia đánh bạc;
Ngô Văn H9 cảnh giới tại khu vực cổng ra vào; Nguyễn Chí H8 cảnh giới trước
cửa nhà kho nơi tổ chức đánh bạc; Ngô Văn N9, Nguyễn Duy Q, Huỳnh Văn K
cảnh giới xung quanh khu vực cửa sau dưới mép sông. Những người này được
trả tiền công mỗi người từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày.
Khoảng 18 giờ ngày 10/02/2025 (ngày 13 tháng 01 âm lịch), Hiện điều khiển
xe mô tô hiệu Honda, loại Dream biển số 62AC- 025.61, chở T5 đi đến nhà của
H2 để cùng C T2 tổ chức đánh bạc. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, Văn
Đ mang theo 35.000.000 đồng, bắt đầu làm cái bài cào 3 cho những người tham
gia đặt cược gồm: Nguyễn Văn T6, Mai Minh C1, Nguyễn Út D1, (C1, D1 hùn
với nhau 10.000.000 đồng chơi 01 tụ), Nguyễn Thị T12, Phan Thị Mỹ T10 (T12,
T10 hùn với nhau 5.000.000 đồng chơi 01 tụ), Nguyễn Thị Cẩm T14 mang theo
3.500.000 đồng để đánh bạc, C và H n mỗi người 3.000.000 đồng tham gia 01
tụ đlôi kéo những người chơi khác. Thời điểm này, tổng cộng 06 tụ bài (9
người), Đường quy định số tiền đặt cược của mỗi tụ bài từ 500.000 đồng đến
1.000.000 đồng, tổng số tiền đặt cược mỗi ván của các tụ bài từ 3.000.000 đồng
- 6.000.000 đồng.
Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Trung Thủ M3 của T5
10.000.000 đồng, dùng 7.200.000 đồng tham gia đánh bạc, đặt ké tụ của T14 (
gồm có 6 tụ, 10 người).
6
Khoảng 15 phút sau T14, C nghỉ đánh bạc. T14 thắng được 2.000.000 đồng,
C để lại tiền trên chiếu bạc cho H tiếp tục đánh bạc ( 6 tụ 8 người).
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Minh B cùng Trần Hữu T15 đến
tham gia đánh bạc. B mang theo 3.600.000 đồng, B chuyển 16.000.000 đồng vào
tài khoản ngân hàng của T5 để lấy tiền mặt đánh bạc, B mua số 700.000 đồng,
còn lại 18.900.000 đồng. B và T15 chia số tiền này ra, mỗi người đánh bạc 01 tụ
riêng. Lúc này, chiếu bạc 08 tụ bài tham gia đánh bạc, Đ tăng mức đặt cược
lên, thấp nhất 1.000.000 đồng, cao nhất 2.000.000 đồng, tổng số tiền đặt
cược mỗi ván của các tụ bài từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng (8 tụ, 10
người).
Khoảng 21 giờ cùng ngày, Lê Văn N5, mang theo 7.000.000 đồng đến đánh
bạc. No tham gia đánh bạc 01 tụ riêng, giữa tụ của T2 và B (9 tụ, 11 người).
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Văn N7 mang theo 9.500.000 đồng,
cùng vợ là Hoàng Thị Hồng D3 mang theo 5.100.000 đồng đến đánh bạc. Nông,
D3 tham gia đánh bạc mỗi người 01 tụ riêng. Lúc này Nguyễn Thị Bích L2 (mẹ
của T14) đang bán số đây tham gia đặt cược tụ của Nông mỗi ván 500.000
đồng. Thời điểm này, chiếu bạc 11 tụ bài, tổng số tiền đặt cược mỗi ván của
các tụ bài từ 15.000.000 đồng – 20.000.000 đồng. Đường thua hết số tiền
35.000.000 đồng nên mượn của T5 30.000.000 đồng để tiếp tục m cái đánh bạc
(11 tụ, 14 người).
Khoảng 22 giờ cùng ngày, T2 đánh bạc thua 2.500.000 đồng nên nghỉ.
Khoảng 15 phút sau, đến lượt Hiện nghỉ (tham đánh bạc 12 người).
Khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày thì T15, B nghỉ. Lúc này, Đ kiểm đếm
thấy thắng được nhiều tiền nên trả T5 30.000.000 đồng gửi T5 giữ giùm
10.000.000 đồng. Hiện thấy vậy, đề nghị hùn làm cái với Đ, Đ đồng ý. (số người
tham gia đánh bạc 11 người)
Đến 23 giờ 30 phút ngày 10/02/2025, Phòng C5 Công an tỉnh L4 tổ chức
kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang tại địa điểm nhà của Đoàn Công H2, ở ấp T, xã
T, huyện V, tỉnh Long An đang tham gia đánh bài gồm Lê Văn Đ, Nguyễn Minh
H (chạy thoát) Nguyễn Văn T6, Mai Minh C1, Nguyễn Út D1, Nguyễn Thị T12,
Phan Thị Mỹ T10, Văn N7, Nguyễn Thị Bích L2, Hoàng Thị Hồng D3,
Văn N5 (11 người), đang đánh bạc dưới hình thức đánh bài ăn tiền. Số tiền thu
trên chiếu bạc 59.900.000 đồng, thu trong thùng carton chứa tiền xâu
10.900.000 đồng cùng các vật dụng sử dụng cho việc đánh bạc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST, ngày 25 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh đã xử:
A. Căn cứ vào điểm a, d khoản 1 Điều 322, Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với 15 bị cáo.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Văn C,
Nguyễn Trung T2, Đoàn Công H2, Trần Duy T17, Trịnh Chí B1, Huỳnh Văn K,
7
Nguyễn Văn N8, Nguyễn Chí H8, Trần Văn T18, Ngô n N9, Nguyễn Duy Q,
Phạm Văn T19, Ngô Văn H9 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s, r khoản 1, khoản 2, Điều 51; Các
Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
1. Xử phạt Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Các
Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
2. Xử phạt Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
3. Nguyễn Trung T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ điểm a, b, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51;
Các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm
2025).
4. Xử phạt Đoàn Công H2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu
trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến ngày 17/7/2025.
B. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321, Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình
sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) đối với 16 bị cáo.
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Trung T2, Văn Đ,
Văn N5, Nguyễn Thị Bích L2, Mai Minh C1, Nguyễn Út D1, Nguyễn Thị
T12, Văn N7, Phan Thị Mỹ T10, Hoàng Thị Hồng D3, Nguyễn Văn T6,
Nguyễn Thị Cẩm T14, Trần Hữu T15, Trần Minh B phạm tội “Đánh bạc”.
1.Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản
1 Điều 52 và Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình snăm 2015 (Sửa đổi, bổ sung
năm 2025).
Xử phạt Lê Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian
bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến 17/7/2025.
2.Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 17,
38, 50, 55, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Minh H 03 (ba) năm.
Tổng hợp hình phạt của tội Tổ chức đánh bạc” 01 (một) năm 06 (sáu) tháng
tội Đánh bạc” 03 (ba) năm tù, hình phạt chung 04 (bốn) năm 06 (sáu)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bcáo đi thi hành
án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2025 đến
ngày 20/8/2025.
3. Xử phạt Nguyễn Văn C 03 (ba) năm tù.
8
Tổng hợp hình phạt của tội Tổ chức đánh bạc” 01 (một) năm 06 (sáu) tháng
tội “Đánh bạc” 03 (ba) năm tù, hình phạt chung 04 (bốn) năm 06 (sáu)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bcáo đi thi hành
án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến
ngày 29/8/2025.
4. Xử phạt Nguyễn Trung T2 03 (ba) năm tù.
Tổng hợp hình phạt của tội Tổ chức đánh bạc” 01 (một) năm 06 (sáu) tháng
tội “Đánh bạc” 03 (ba) năm tù, hình phạt chung 04 (bốn) năm 06 (sáu)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bcáo đi thi hành
án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến
ngày 20/8/2025.
5.Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 17,
38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Lê Văn N5 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian
bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến 17/7/2025.
6. Xử phạt Hoàng Thị Hồng D3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được
khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến 25/4/2025.
7. Xử phạt Nguyễn Văn T6 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu
trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến 30/10/ 2025.
8. Xử phạt Mai Minh C1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
9. Xử phạt Nguyễn Út D1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
10. Xử phạt Nguyễn Thị T12 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
11. Xử phạt Phan Thị Mỹ T10 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
12. Xử phạt Nguyễn Thị Cẩm T14 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
13. Xử phạt Trần Hữu T15 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
14. Xử phạt Trần Minh B 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án thẩm n tuyên về hình phạt của các bị cáo khác, về
xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham
gia tố tụng.
9
Ngày 26/12/2025, bị cáo Trần Hữu T15 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
được hưởng án treo. Ngày 29/12/2025, các bị cáo Phan Thị Mỹ T10, Mai Minh
C1, Nguyễn Thị Cẩm T14, Nguyễn Thị T12, Nguyễn Văn T6, kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Ngày 30/12/2025, Nguyễn Văn C kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Ngày 31/12/2025, các bị cáo
Lê Văn Đ, Nguyễn Út D1, Nguyễn Minh H, Đoàn Công H2, kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Ngày 05/01/2026, bị cáo Nguyễn Trung T2
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Ngày 06/01/2026, bị
cáo Trần Minh B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Ngày
07/01/2026, các bị cáo Hoàng Thị Hồng D3, Lê Văn N5 kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm
đã xét xử và xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức đánh
bạc” theo quy định tại điểm a, d khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự tội “Đánh
bạctheo quy định khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự đúng, không oan. Các
bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật quy định nên
Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có
căn cứ.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi
phạm tội của mình như nội dung án sơ thẩm đã nêu và phù hợp với các chứng cứ
trong hồ vụ án nên có đủ sở xác định các bị cáo phạm tội về tội “Tổ chức
đánh bạc” theo quy định tại điểm a, d khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự tội
“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và điều luật trên
là đúng người, đúng tội, không oan.
Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào
khác nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ y bản án hình
sự thẩm số 27/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của tòa án Khu vực 9 Tây Ninh.
Luật Văn L3 bào chữa cho bị cáo H2 trình bày: Thống nhất về tội
danh Tòa án cấp thẩm xét xử đối với bcáo H2, đề nghị hội đồng xét xử
xem xét bị cáo H2 thật thà khai báo và ăn năng hối cải, bị cáo kháng cáo có cung
cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có chính quyền
địa phương xác nhận, cha ruột người công là các tình tiết giảm nhẹ được qui
định ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật Đình Trí D5 bào chữa cho bị cáo Văn Đ trình bày: Về tội
danh luật sư thống nhất không có ý kiến, bị cáo Đ thật thà khai báo, đồng thời bị
cáo cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới như bị cáo có hoàn cảnh khó khăn,
10
lao động chính, có tham gia đóng góp giúp đỡ người dân địa phương có hoàn
cảnh khó khăn, chú ruột Văn H10 liệt sĩ, chú Văn H5 thương binh,
nên đnghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sgiảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo,
Luật sư Nguyễn Văn T16 bào chữa cho bị cáo Trần Minh B trình bày: Về
tội danh luật không ý kiến, đề nghị hội đồng xét xử xem xét bị cáo B
nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo thật thà khai báo
và ăn năng hối hận về hành vi của mình, khi kháng cáo bị cáo cung cấp thêm tình
tiết giảm nhẹ như bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật tại địa phương được
xác nhận, bị cáo có nợi cư trú rỏ ràng nên đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng
án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn quy định, nội dung kháng cáo phù
hợp Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình snên Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời
khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng
cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận:
Lúc 23 gi 30 phút ngày 10/2/2025 ti nhà kho ca Đoàn Công H2 ta lc
ti p T, xã T, huyn V, tnh Long An Văn Đ, Nguyễn Văn T6, Mai Minh C1,
Nguyn Út D1, Nguyn Th T12, Phan Th M T10, Văn N7, Nguyn Th
Bích L2, Hoàng Th Hng D3, Lê Văn N5 đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào
03 được thng thua bng tin thì b bt qu tang. Trước đó Nguyn Minh H,
Nguyễn Văn C, Nguyn Trung T2, Nguyn Th Cm T14, Trn Hu T20, Trn
Minh B cùng tham gia đánh bc trên chiếu bc nầy nhưng nghĩ trưc. Khi Công
an bt qu tang Hin, C, T2, T14, T20, B vẫn còn đng ti chiếu bc. Tng s
tin thu gi ti chiếu bạc 59.900.000đ, T21 tin trong thùng carton cha tin
xâu là 10.900.000đ.
Chiếu bc trên do Nguyn Minh H, Nguyn Th Thùy T, Nguyễn Văn C,
Nguyn Trung T2 Đoàn Công H11 cùng nhau t chc cho các con bc tham
gia đánh bạc đ thu tin xâu, các b cáo còn thuê thêm Huỳnh Văn K, Nguyn
Chí H8, Nguyễn Văn N8, Trn Duy T17, Nguyn Duy Q, Trnh Chí B1, Ngô n
H9, Ngô Văn N9, Trần Văn T18, Phm Quang T22 cùng nhau phc v thức ăn,
c ung, gi xe, cnh gii, thu tiền xâu đ đưc tr công t 200.000đ đến
300.000đ/ngày.
Hành vi nêu trên ca các b cáo Nguyn Minh H, Nguyn Th Thùy T,
Nguyễn Văn C, Nguyn Trung T2 và Đoàn Công H11 đã phạm vào ti t chc
11
đánh bạc, các b cáo Huỳnh Văn K, Nguyn Chí H8, Nguyễn Văn N8, Trn Duy
T17, Nguyn Duy Q, Trnh Chí B1, Ngô Văn H9, Ngô Văn N9, Trần Văn T18,
Phm Quang T22 phm ti t chức đánh bạc vi vai trò giúp sc.
Các b cáo Nguyn Minh H, Nguyễn Văn C, Nguyn Trung T2, Lê Văn Đ,
Văn N5, Nguyn Th Bích L2, Nguyễn Văn T6, Mai Minh C1, Nguyn Út D1,
Nguyn Th T12, Phan Th M T10, Văn N7, Hoàng Th Hng D3, Nguyn
Th Cm T14, Trn Hu T15, Trn Minh B đã phạm tội đánh bạc.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các b cáo v tội danh và điều luật như
trên là có căn cứ, đúng pháp luật và không oan.
Hành vi vi phm pháp lut do các b cáo gây ra nguy him cho hi,
xâm phạm đến trt tng cng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trt t tr
an địa phương, gây bt bình trong cộng đồng dân cư, hành vi ca các b cáo
cũng là nguyên nhân dẫn đến s gia tăng của các ti phm khác nên cn phi x
lý nghiêm.
[3] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp thẩm đã áp dụng các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt đối với các bị cáo
như án thẩm s27/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 căn cứ, tương xứng với
tính chất, mức độ do hành vi của các bị cáo gây ra. Tuy nhiên đối với bị cáo
Nguyễn Minh H khi cơ quan điều tra phát hiện vụ án, bị cáo trốn chạy, sau đó ra
trình diện, như vậy bị cáo đến quan Công an trình báo khi vụ án đã bị phát
hiện, nên bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ đầu thú được quy định tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ
người phạm tội tự thú được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
để quyết định hình phạt đối với bị cáo là không đúng quy định của pháp luật, cấp
sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[4] Các bị cáo kháng cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng án treo,
xét thấy:
Các bcáo Hiện, H2, T2, C phạm tội với vai ttổ chức cho các con bạc
tham gia đánh bạc, lấy tiền xâu chia nhau tiêu xài.
Bị cáo Hiện nhân thân xấu, một lần bị xử phạt hành chính, một lần bị
xét xử 09 tháng tù và ngày 20/6/2025 bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích, n
Tòa án cấp thẩm tuyên phạt bị cáo 01 năm 06 tháng về tội “Tổ chức đánh
bạc” và 03 năm tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở
thành người ích cho hội. Đồng thời khi áp dụng hình phạt cấp thẩm áp
dụng tình tiết giảm nhẹ tại diểm r khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo là không đúng, bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào
khác nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt như án
thẩm đã tuyên.
Bị cáo Thủ tuy không tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội Đánh bạc”
“Tổ chức đánh bạc”, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm
nhẹ nào khác, nên không căn cứ giảm nhẹ hình phạt, do cùng một lần bị cáo
12
phạm nhiều tội nên bị cáo không được hưởng án treo theo quy định tại Điều 3
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao, do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo H2 tuy phạm một tội “Tchức đánh bạc”, nhưng bị cáo nhân
thân xấu, 02 lần bị xử phạt hành chính ngày 22/5/2025 bị Công an huyện V
khởi tố vtội buôn lậu nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Bị cáo
xin giảm nhẹ hình phạt cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới hoàn cảnh khó
khăn chính quyền địa phương xác nhận, cha người công tình tiết
giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo C phạm tội Tổ chức đánh bạc” phạm tội “Đánh bạc”, tuy
nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự nhưng bị cáo cũng không đủ điều kiện được
hưởng án treo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm tình
tiết giảm nhẹ mới là có ba ruột là người có công với nước nên xem xét giảm nhẹ
một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Tổ chức đánh bạc”.
Các bị cáo Hoàng Thị Hồng D3, Phan Thị Mỹ T10, Mai Minh C1, Nguyễn
Thị Cẩm T14, Nguyễn Thị T12, Nguyễn Văn T6, Văn N5 phạm tội “Đánh
bạc” được quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự có mức khởi điểm của
khung hình phạt 03 năm tù, các bị cáo chmột tình tiết giảm nhẹ điểm s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo T10, N5, C1 tình tiết giảm nhẹ tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là gia đình có công, riêng bị cáo T6, N5, D3
nhân thân xấu (đã bị xử phạt hành chính), các bị cáo kháng cáo không cung cấp
thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét,
nên không căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức án mà
cấp sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc” lần này thuộc trường hợp tái phạm,
Tòa án ấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
diểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng
tương xứng với tính chất, mức đhành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo
cung cấp thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự như
bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính nuôi 02 con còn nhỏ (sinh 2012,
2023), tham gia đóng góp, tặng quà cho người dân hoàn cảnh khó khăn
địa phương được ghi nhận, có chú ruột Văn H10 là liệt sĩ, chú Lê Văn H5 là
thương binh, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới nên khi quyết định hình phạt
xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Bị cáo Trần Hữu T15, Trần Minh B bị cáo Nguyễn Út D1, phạm tội
“Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng
tình tiết giảm nhẹ như thật thà khai báo điểm s khoản 1 Điều 51 tình tiết
giảm nhkhoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt mỗi bị cáo 03 năm tù, xét
thấy các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, các bị
cáo kháng cáo cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới như bị cáo D1 xác
nhận của UBND K lao động chính, hoàn cảnh khó khăn, chấp hành chính
13
sách pháp luật của địa phương, có ông Nguyễn Văn T23 được tặng thưởng huân
chương kháng chiến hạng 3. Bị cáo Trần Hữu T15 cung cấp giấy xác nhận của
UBND V, bản thân không tiền án, tiền sự; chấp hành tốt chủ trương, đường
lối, chính sách địa phương; ông nội và bà nội được tặng thưởng huân chương
kháng chiến hạng nhất, hạng nhì; có cha, bác, cô ruột có nhiều đóng góp cho địa
phương xác nhận. Bị cáo Trần Minh B cung cấp giấy xác nhận của địa phương
nhân than tốt, chấp hành tốt chính sách pháp luật địa phương, Do đó đối
với bị cáo T15, B và bị cáo D1 xét thấy không cần thiết cách ly khỏi hội các
bị cáo cũng có thể tự cải tạo bản thân trở thành người ích cho xã hội, nên chấp
nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số
27/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 cho bị cáo T15, B bị cáo D1 được hưởng án
treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo H, T2, D3, T10, C1, T14, T12, T6, N5 mỗi bị cáo phải nộp
200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo H2, C, Đ, T15, D1, B không phải chịu án phí phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm hiệu lực sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1, Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Chấp nhận một phần kháng cáo của bcáo Đoàn Công H2, Nguyễn Văn C,
Lê Văn Đ, Nguyễn Út D1, Trần Hữu T15, Trần Minh B.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Trung
T2, Hoàng Thị Hồng D3, Phan Thị Mỹ T10, Mai Minh C1, Nguyễn Thị Cẩm
T14, Nguyễn Thị T12, Nguyễn Văn T6, Lê Văn N5.
Giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sthẩm số 27/2025/HS-ST,
ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh, đối với
các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Trung T2, Hoàng Thị Hồng D3, Phan Thị
Mỹ T10, Mai Minh C1, Nguyễn Thị Cẩm T14, Nguyễn Thị T12, Nguyễn Văn
T6, Lê Văn N5.
Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 27/2025/HS-ST, ngày 25 tháng 12
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9- Tây Ninh về hình phạt đối với các bị
cáo Đoàn Công H2, Nguyễn Văn C, Văn Đ, Nguyễn Út D1, Trần Hữu T15,
Trần Minh B.
14
2. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Văn C, Nguyễn Trung T2,
Đoàn Công H2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Các
Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Minh H 01(một) năm 06 (sáu) tháng vtội “Tổ chức đánh
bạc”.
- Căn cứ điểm a, b, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51;
Các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm
2025).
Xử phạt Đoàn Công H2 01 (một) năm về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời
hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được
khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến ngày 17/7/2025.
- Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Các
Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Văn C 01(một) năm về tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Các
Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Trung T2 01(một) năm 06(sáu) tháng về tội “Tổ chức đánh
bạc”.
3. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Minh H, Nguyễn n C, Nguyễn Trung T2,
Văn Đ, Văn N5, Mai Minh C1, Nguyễn Út D1, Nguyễn Thị T12, Phan Thị
Mỹ T10, Hoàng Thị Hồng D3, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Thị Cẩm T14, Trần Hữu
T15, Trần Minh B phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38,
50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Minh H 03 (ba) năm về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của tội Tổ chức đánh
bạc” và tội Đánh bạc” buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt của hai tội là 04
(bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày
bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ
ngày 27/5/2025 đến ngày 20/8/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38,
50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Trung T2 03(ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của tội Tổ chức đánh
bạc” tội Đánh bạc”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội
là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ
15
ngày bị cáo thi hành án, nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam t
11/02/2025 đến ngày 20/8/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17, 38, 50, 55, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Văn C 03(ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của tội Tổ chức đánh
bạc” và tội “Đánh bạc”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04
(bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi
hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025
đến ngày 29/8/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17, 38, 50, 55, 58, điểm h khoàn 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa
đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Lê Văn Đ 03(ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án,
nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến
17/7/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 17,
38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Lê Văn N5 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc”. Thời
hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng
được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến 17/7/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 17,
38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Hoàng Thị Hồng D3 03 (ba) năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng
được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến 25/4/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 17,
38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt Nguyễn Văn T6 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính tngày bắt bị cáo đi thi hành án,
nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2025 đến
30/10/ 2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 17,
38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt:
+ Mai Minh C1 03 (ba) năm tù vtội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
16
+ Nguyễn Thị Cẩm T14 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
+ Nguyễn Thị T12 03(ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
+ Phan Thị Mỹ T10 03(ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 17,
38, 50, 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2025).
+ Xử phạt Nguyễn Út D1 03 (ba) năm về tội “Đánh bạc”, nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
+ Xử phạt Trần Hữu T15 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
+ Xử phạt Trần Minh B 03 (ba) năm về tội Đánh bạc”, nhưng cho hưởng
án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Út D1 cho Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Tây Ninh; Giao
bị cáo Trần Hữu T15 bị cáo Trần Minh B cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Tây
Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú tthực hiện
theo quy định tại Điều 100 Luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội
Buộc các bị cáo H, T2, D3, T10, C1, T14, T12, T6, No mỗi bị cáo phải nộp
200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo H2, C, Đ, T15, D1, B không phải chịu án phí phúc thẩm.
5. Các khoản khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- Thi hành án tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 9;
- VKSND khu vực 9;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lương Minh Trí
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 143/2026/HS-PT Bản án số 143/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 143/2026/HS-PT Bản án số 143/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất