Bản án số 1326/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1326/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1326/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1326/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp phần đất thuộc thửa 328, yêu cầu bị đơn trả lại đất do ở nhờ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả đất do nhận chuyển nhượng không hợp pháp từ người ở nhờ đất của nguyên đơn; Bị đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng là của ông bà để lại và từ nhận chuyển nhượng hợp pháp; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan độc lập yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1326/2026/DS-PT Bản án số 1326/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1326/2026/DS-PT Bản án số 1326/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1326/2026/DS-PT
Ngày: 14/9/2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc
Các Thẩm phán: 1/- Ông Võ Bảo Anh.
2/- Ông Phạm Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Trương Minh Diền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1333/2026/TLPT-DS ngày
21/7/2026 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 165/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 1582/2026/QĐXXPT ngày 24/7/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1942. Địa chỉ: ấp T, xã P,
thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đặng Phương C, sinh năm: 1973. Địa chỉ:
ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 18/11/2022).
2. Bị đơn: Ông Trương Văn H, sinh năm: 1946. Địa chỉ: ấp T, xã P, thành
phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn H1, sinh năm: 1970. Địa
chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 27/10/2025).
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1960. Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần
Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Thanh P, Văn phòng
Luật sư Trần Thanh P thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đinh Văn Á, sinh năm: 1959.
- Bà Trần Mỹ T1, sinh năm: 1952.
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1946.
- Bà Võ Thị M, sinh năm: 1961.
2
Cùng trú tại: ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.
- Bà Ngô Hồng T3, sinh năm: 1956. Địa chỉ: ấp T, xã P, thành phố Cần
Thơ.
4. Người làm chứng: Ông Lê Hồng T4, sinh năm: 1977. Địa chỉ: ấp T, xã P,
thành phố Cần Thơ.
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Trương Văn H, ông Nguyễn Văn T và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn Á kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A thông qua người đại diện theo ủy
quyền trình bày:
Năm 1975, cha mẹ chồng bà A có cho bà Võ Thị H2 là mẹ ruột của ông
Trương Văn H ở nhờ. Đến năm 1997 nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ số
03070 ngày 24/8/1997 cho chồng bà A là ông Trương Hiệp T5 đứng tên. Phần
cho bà H2 ở nhờ nằm trên thửa 328, tờ bản đồ số 8, tọa lạc ấp T, xã G, huyện P,
thành phố Cần Thơ. Sau khi bà H2 qua đời, ông H tiếp tục ở. Tuy nhiên, ông H
tự ý chuyển nhượng một phần thửa đất nói trên cho ông Đinh Văn Á và ông Á
tiếp tục chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T (bằng giấy tay). Việc sang
nhượng do các bên tự thực hiện, không hỏi ý kiến của nguyên đơn nên không
hợp pháp. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: đồng ý ổn định và công nhận
phần đất ông H, bà T1 đang sử dụng; Riêng phần đất ông T đang sử dụng diện
tích 215.9m² phải trả lại cho bà, bà đồng ý trả lại tiền bơm cát 40 triệu cho ông T.
* Bị đơn ông Trương Văn H thông qua người đại diện theo ủy quyền trình
bày:
Phần đất này gia đình ông H sử dụng liên tục từ trước năm 1945, nhưng do
phía nguyên đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ đã bao trùm luôn phần đất
của gia đình ông H. Năm 1993 ông H phát hiện nên có làm đơn khiếu nại gửi
UBND xã G mời lên 02 lần để giải quyết nhưng gia đình nguyên đơn không
chịu. Năm 2004 địa chính xã G có mời lên làm việc về việc nộp thuế nông
nghiệp, bà A yêu cầu ông H trả 200.000đ thì sẽ cho ông mượn giấy chứng nhận
QSDĐ để tách bộ. Tuy nhiên, lúc giao tiền thì phía nguyên đơn không chịu nhận
vì cho rằng phần đất này là của nguyên đơn. Năm 1993 ông H chuyển nhượng
phần đất đang tranh chấp tại vị trí A, diện tích 215,9m² cho ông Đinh Văn Á.
Ngày 26/11/2015 ông Á chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T. Ông H có
đơn phản tố yêu cầu công nhận phần đất ông đang sử dụng thuộc quyền của ông.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 26/11/2015 ông nhận chuyển nhượng phần đất chiều ngang 8m, dài
30m = 240m² của ông Đinh Văn Á bằng giấy tay, với giá 60 triệu. Do ông ở gần
đất này nên biết rõ nguồn gốc đất là của gia đình ông H ở đã qua ba đời. Ông H
có chuyển nhượng cho ông Á 240m² (đo đạc thực tế 215,9m
2
) nên ông đồng ý
nhận chuyển nhượng lại từ ông Á. Nay ông yêu cầu bà A tách phần đất này cho
ông sử dụng, vì phần đất này đã cấp giấy lộn thửa cho gia đình bà A, đề nghị
tách trả lại. Ông không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn và có phản tố yêu cầu
công nhận phần đất tại thửa 482 - 501, tờ bản đồ số 14. Riêng thửa 328 ông
3
không biết và không tranh chấp. Ngoài ra, ông xác định tại vị trí A phần đất
tranh chấp, ông có bơm cát với số tiền 40 triệu.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đinh Văn Á trình bày: Ngày 11/12/1993 ông có nhận chuyển
nhượng phần đất chiều ngang 8m x dài 30m = 240m² (đo đạc thực tế 215,9m
2
)
tại thửa 328, tờ bản đồ số 8 của ông Trương Văn H với giá 25.600.000đ. Ngày
26/11/2015 ông chuyển nhượng lại cho ông T với giá 60 triệu. Hiện tại ông T
đang sử dụng phần đất này.
+ Bà Trần Mỹ T1 trình bày: Ngày 02/10/1992 bà có nhận chuyển nhượng
của ông H phần đất ngang 6m x dài 25m = 150m², tại thửa 328, loại đất LUC.
Nay do đạc thực tế tại vị trí C (theo Bản trích đo). Diện tích tranh chấp hiện nay
giảm chỉ còn 92m² do làm đường, sạt lở. Bà yêu cầu công nhận vị trí C cho bà.
+ Bà Ngô Hồng T3, Nguyễn Thị T2, Võ Thị M trình bày: Yêu cầu giải
quyết đúng pháp luật.
Vụ việc hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ
đưa ra xét xử; tại Bản án sơ thẩm số: 165/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 đã tuyên:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A.
Công nhận phần đất tại vị trí A (theo Bản trích đo địa chính số 07/VPĐKĐĐ
ngày 08/01/2024 của Văn phòng ĐKĐĐ thành phố C); diện tích 215,9m², tờ bản
đồ số 08, thửa đất 328; tọa lạc ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ cho bà Nguyễn
Thị Kim A.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trương Văn H. Công
nhận phần đất tại vị trí B (theo Bản trích đo); diện tích 327,3m², tờ bản đồ số 08,
thửa đất 328; tọa lạc ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ cho ông Trương Văn H.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Văn H về việc hủy bỏ
phần đất trên bản đồ 299 do ông Trương Hiệp T5 đứng tên.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Mỹ T1. Công nhận phần đất tại
vị trí C (theo Bản trích đo); diện tích 92m², tờ bản đồ số 08, thửa đất 328; tọa
lạc ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ cho bà Trần Mỹ T1.
Các phần đất tại vị trí A, B, C (theo Bản trích đo); được công nhận cho bà
Nguyễn Thị Kim A, ông Trương Văn H, bà Trần Mỹ Thành Đ sở hữu. Các
đương sự có quyền, nghĩa vụ tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện
thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T. Vô hiệu hợp
đồng công nhận quyền sử dụng đất ngày 11/12/1993 giữa ông Đinh Văn Á với
ông Trương Văn H và vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
26/11/2015 giữa ông Đinh Văn Á, bà Ngô Hồng T3 với ông Nguyễn Văn T.
5. Bà Nguyễn Thị Kim A có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Văn T
40.000.000 đồng tiền hỗ trợ bơm cát tại vị trí A (theo Bản trích đo).
6. Buộc ông Đinh Văn Á và bà Ngô Hồng T3 trả giá trị phần đất tại vị trí A
(theo Bản trích đo) cho ông Nguyễn Văn T số tiền 280.670.000đ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 30/3/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn Á
kháng cáo; ngày 06/4/2026 bị đơn ông Trương Văn H và ông Nguyễn Văn T
4
kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại đất này có nguồn gốc của ông bà
ông H để lại, công nhận đất cho ông H. Còn việc ông H chuyển nhượng cho bà
T1, ông Á và ông Á chuyển nhượng cho ông T các ông bà không có tranh chấp,
tự giải quyết thống nhất với nhau được.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo; nguyên đơn vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày.
Luật sư bảo vệ quyền lợi của bị đơn ông Nguyễn Văn T phân tích việc
nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận QSDĐ là do cấp nhầm, cấp không đúng
đối tượng nên thực tế không sử dụng đất mà do phía bị đơn ông H sử dụng từ
đời ông bà của ông H. Do đó nguyên đơn kiện đòi đất cho rằng gia đình ông H ở
nhờ là không có căn cứ. Còn việc ông H chuyển nhượng cho ông Á, sau đó ông
Á chuyển nhượng lại cho ông T các đương sự không có tranh chấp với nhau, họ
đều đồng ý ổn định tiếp tục sử dụng. Do đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo của
ông T, bác khởi kiện đòi đất của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: đương sự và Tòa án đã thực hiện đúng quy
định pháp luật tố tụng dân sự; Về nội dung: theo các tài liệu chứng cứ có trong
hồ sơ, xét nguyên đơn không chứng minh được cơ sở pháp lý cho gia đình ông
H ở nhờ. Tuy nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận QSDĐ nhưng thực tế
không sử dụng, mà do gia đình ông H sử dụng từ trước năm 1975. Trong quá
trình sử dụng đất, ông H đã chuyển nhượng cho bà T1, ông Á, rồi ông Á chuyển
nhượng lại cho ông T; những người này sau khi nhận chuyển nhượng đã xây
dựng nhà ở kiên cố, trồng cây trên đất, sử dụng ổn định liên tục suốt trên 30
năm nhưng nguyên đơn không ngăn cản hay tranh chấp. Do đó việc nguyên đơn
khởi kiện đòi trả lại đất ở nhờ là không có căn cứ. Còn việc bà T1, ông Á, ông T
nhận chuyển nhượng đất có nguồn gốc từ ông H, tuy hợp đồng không có công
chứng, chứng thực và ông H chưa có giấy chứng nhận QSDĐ là chưa tuân thủ
quy định pháp luật, nhưng sau khi nhận chuyển nhượng đã xây dựng nhà ở kiên
cố, trồng cây lâu năm trên đất, sử dụng ổn định liên tục trên 30 năm cũng đã
được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu tại Điều 236 Bộ luật dân sự. Ngoài ra,
giữa ông H và bà T1, ông Á, ông T không có tranh chấp về việc chuyển nhượng
đất. Xét kháng cáo có cơ sở, đề nghị chấp nhận kháng cáo; sửa bản án sơ thẩm
bác yêu đòi đất cho ở nhờ của nguyên đơn, công nhận và ổn định diện tích đất
các đương sự đang sử dụng để họ có quyền đăng ký theo quy định.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp phần đất thuộc thửa 328, yêu cầu bị
đơn trả lại đất do ở nhờ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả đất do
nhận chuyển nhượng không hợp pháp từ người ở nhờ đất của nguyên đơn; Bị
đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng là của ông bà
để lại và từ nhận chuyển nhượng hợp pháp; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan độc lập yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng. Cấp sơ thẩm
xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nhưng không xác
5
định quan hệ tranh chấp thuộc khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là có
thiếu sót.
* Về nội dung: Xét kháng cáo thấy rằng:
[2] Nguyên đơn kiện đòi bị đơn và người liên quan trong vụ án trả lại đất
thuộc thửa 328 theo giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho chồng của nguyên đơn
là ông Trương Hiệp T5 vào năm 1997. Xét thấy, năm 2003 ông T5 chết, đến
năm 2019 nguyên đơn hoàn tất thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất này. Tuy
nhiên, theo hồ sơ thể hiện thửa đất 328 do phía gia đình bị đơn ông H là người
thực tế sử dụng qua 03 đời (trước năm 1975). Đến năm 1992 ông H chuyển
nhượng một phần diện tích (theo đo đạc thực tế là 92m
2
) cho bà Trần Mỹ T1;
Năm 1993 ông H tiếp tục chuyển nhượng một phần diện tích cho ông Đinh Văn
Á (theo đo đạc thực tế là 215,9m²); Năm 2015 ông Á chuyển nhượng toàn bộ lại
cho ông Nguyễn Văn T. Kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng đất của ông H, thì
bà T1, ông Á và ông T đều xây dựng nhà kiên cố để ở và trồng cây trên đất cho
đến nay. Thế nhưng trước năm 2003 tức là trước khi ông T5 chết, bản thân ông
T5 cũng như gia đình không hề có động thái nào thể hiện có sự tranh chấp, ngăn
cản việc ông H chuyển nhượng đất này cho bà T1, cho ông Á hay ngăn cản khi
những người này xây dựng nhà ở và thậm chí đến năm 2015 ông Á chuyển
nhượng lại cho ông T, nguyên đơn và gia đình cũng không ai tranh chấp, ngăn
cản hay có bất cứ phản ứng nào để chứng tỏ có quan tâm đến phần đất này.
[3] Như án sơ thẩm đã nhận định, tại Phiếu cung cấp dữ liệu số
725/CNVPĐKĐĐ ngày 13/10/2022 (BL 49) của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện P:
theo sổ mục kê 299 thửa 328 diện tích 621m
2
đất 2L ông Trương Hiệp T5 đứng
tên; sổ mục kê 302 thửa 482 diện tích 1.012m
2
đất Q do ông Trương Văn H
đứng tên, thửa 501 diện tích 200m
2
đất T do ông H đứng tên; theo sổ đăng ký
ruộng đất giấy chứng nhận QSDĐ 3070 đã đăng ký thửa 328 diện tích 621m
2
đất
2L ông Trương Hiệp T5, nhưng phiếu này lại chú thích sổ mục kê 302 chưa cập
nhật thửa 482-501. Đến phiếu cung cấp dữ liệu số 285/CNKV6 ngày 29/12/2025
(BL 12) của Chi nhánh VPĐKĐĐ khu vực VI thì theo sổ mục kê 299 thửa 328
diện tích 621m
2
đất 2L ông Trương Hiệp T5 đứng tên và theo sổ đăng ký ruộng
đất giấy chứng nhận QSDĐ 3070 đã đăng ký thửa 328 do ông T5 đứng tên, chưa
cập nhật 302 và không đề cập đến ông Trương Văn H. Đồng thời án sơ thẩm
cũng phân tích: “Về hình thể thửa 328 theo Bản trích đo địa chính số 07/2024
ngày 08/01/2024 khác với hình thể theo giấy chứng nhận QSDĐ số 03070 cấp
ngày 26/9/1997 cho ông Trương Hiệp T5...“; hay “...biên bản hòa giải tranh
chấp về việc nộp thuế nông nghiệp phần đất đăng ký dư thửa của hộ Trương
Hiệp Tấn ngày 11/8/2004 thì kết quả là ông H phải trả số tiền thuế 200.000đ và
bà A có trách nhiệm cho hộ ông H mượn giấy chứng nhận QSDĐ để chuyển
quyền sử dụng thửa 328, tờ bản đồ 08 diện tích 621m
2
cho ông H, có ông Lê
Quang T6 ký tên cùng bà Nguyễn Thị Kim A và ông Trương Văn H“. Từ đó có
đủ cơ sở kết luận việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho nguyên đơn là không
đúng đối tượng, cấp nhầm thửa không đúng quy định pháp luật. Bởi lẽ thửa 328
của nguyên đơn là đất lúa, còn đất của ông H thửa 482 (đất Q), thửa 501 (đất T)
đang tồn tại căn nhà của ông trên đất. Hơn nữa, qua các lần cập nhật sổ mục kê
299 và 302 thì 02 thửa đất 482-501 của ông H biến mất là không phù hợp. Đồng
6
thời cấp sơ thẩm cũng xác định “Do không có thông tin lưu trữ hồ sơ cấp giấy
chứng nhận QSDĐ nêu trên“ và nhận định “Tuy nhiên, xét thấy ông H, bà T1
trực tiếp sử dụng đất trước khi ông T5 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và suốt
quá trình ông H, bà T1 xây nhà ở kiên cố nguyên đơn không ngăn cản, đồng
thời nguyên đơn tự nguyện tách giấy chứng nhận QSDĐ đối với phần đất ông H
đang sử dụng nên ghi nhận sự tự nguyện này công nhận phần đất vị trí B cho
ông H... công nhận vị trí C cho bà T1“, nhưng lại không công nhận cho ông T
trong khi đã công nhận nguồn gốc chuyển giao trước đều là của ông H là không
phù hợp.
[4] Do đã xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc quyền của gia đình
ông H, vì vậy mặc dù ông H chuyển nhượng cho bà T1, ông Á và sau đó ông Á
chuyển nhượng lại cho ông T chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, căn cứ vào điểm b.3 tiểu mục 2.2 và điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thì nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên
nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố … và bên chuyển
nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử
lý vi phạm hành chính theo quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai thì Tòa án công nhận hợp đồng. Hơn nữa các bên
đã thực hiện việc giao nhận tiền xong hay nếu áp dụng việc xác lập quyền sở
hữu theo thời hiệu thì vẫn đủ cơ sở công nhận giao dịch để ổn định diện tích đất
mà ông H đã chuyển nhượng cho bà T1, ông Á và ông T theo quy định tại Điều
129, 236 Bộ luật dân sự năm 2015 để được tiếp tục sử dụng.
[5] Trong vụ án này ông H thừa nhận và đồng ý ổn định diện tích đã
chuyển nhượng, không có tranh chấp với bà T1, ông Á, ông T nên Hội đồng xét
xử không điều chỉnh giao dịch và mối quan hệ giữa các đương sự. Đồng thời, do
chưa xác định cụ thể diện tích đất các đương sự đang thực tế sử dụng là đất nông
nghiệp hay loại đất gì, nhưng các đương sự đã xây dựng nhà ở, trồng cây trên
đất từ rất lâu, nên việc đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ còn liên quan đến
loại đất, diện tích tách thửa… các nội dung này thuộc thẩm quyền của cơ quan
quản lý hành chính nhà nước, nên Tòa án chỉ công nhận giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của các đương sự, chưa thể công nhận quyền sử dụng
đất. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ xin đăng ký để được cơ quan có
thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường
hợp không được cấp giấy riêng cho từng người, thì các đương sự có thể thỏa
thuận đồng sở hữu đứng tên chung giấy chứng nhận QSDĐ. Vì vậy, cần thiết
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi, hủy một phần giấy
chứng nhận QSDĐ của nguyên đơn tại thửa 328 để xem xét cấp giấy chứng
nhận cho ông H, bà T1 và ông T theo quy định của pháp luật.
[6] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bị đơn ông H, ông T và
người liên quan ông Á là có cơ sở nên được chấp nhận; sửa án sơ thẩm theo
hướng phân tích trên như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.
[7] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm: các đương sự đều là người cao tuổi
nên được miễn theo quy định; Chi phí đo đạc định giá, nguyên đơn phải chịu do
khởi kiện không được chấp nhận.
7
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trương Văn H,
ông Nguyễn Văn T và người liên quan có yêu cầu độc lập ông Đinh Văn Á; Sửa
bản án sơ thẩm.
1/- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Kim A đòi ông Nguyễn Văn T trả lại 215,9m
2
đất tại vị trí (A).
2/- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trương Văn H.
Công nhận phần đất tại vị trí (B) diện tích 327,3m² cho ông Trương Văn H.
3/- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T.
Công nhận giao dịch chuyển nhượng phần đất tại vị trí (A) diện tích 215,9m
2
cho ông Nguyễn Văn T.
4/- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Mỹ T1. Công nhận giao dịch
chuyển nhượng phần đất tại vị trí (C) diện tích 92m² cho bà Trần Mỹ T1.
Các phần đất tại vị trí (A), (B), (C) theo Bản trích đo địa chính số
07/VPĐKĐĐ ngày 08/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C,
thuộc tờ bản đồ số 08, thửa đất 328; tọa lạc tại ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan thẩm quyền để thực hiện thủ
tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp ông H, ông T, bà T1
không được cấp giấy riêng cho từng người, thì các đương sự có quyền đồng sở
hữu đứng tên chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kèm theo Bản trích đo
số 07/VPĐKĐĐ ngày 08/01/2024).
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi, hủy một
phần giấy chứng nhận QSDĐ của nguyên đơn tại thửa 328 để xem xét cấp giấy
chứng nhận cho ông H, bà T1 và ông T theo quy định của pháp luật. Trường hợp
nguyên đơn không nộp lại giấy chứng nhận QSDĐ, thì cấp giấy chứng nhận cho
ông H, bà T1 và ông T theo quyết định của bản án.
5/- Chi phí đo đạc, định giá: 6.000.000 đồng nguyên đơn phải chịu; đã nộp
tạm ứng và chi xong.
6/- Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm: các đương sự được miễn; không có thu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các
Điều 6, 7, 36 và 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận : Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
- Các đương sự
8
- VKSND.TPCT (Đã ký)
- TAND KV3.
- THADS. TPCT
- Lưu (HS - 2b). Trần Tuấn Quốc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1326/2026/DS-PT Bản án số 1326/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1326/2026/DS-PT Bản án số 1326/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất