Bản án số 02/2025/HNGĐ ngày 17/02/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2025/HNGĐ

Tên Bản án: Bản án số 02/2025/HNGĐ ngày 17/02/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Phúc
Số hiệu: 02/2025/HNGĐ
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/02/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Tạ Thị L và anh Ngô Đức T kết hôn tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 07/10/1999, trên cơ sở tự do tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng gia đình chồng anh T tại thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng khoảng năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Cùng năm đó, anh T đi sang Đài Loan để làm kinh tế, kể từ đó vợ chồng ly thân, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau. Nay, chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 02/2025/HNGĐ - ST
Ngày 17-02-2025
“V/v Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim Thúy;
Ông Nguyễn Quang Bằng.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Hoàng Thị Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3
năm 2024, về việc tranh chấp hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị L, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện
T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Ngô Đức T, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã Đ,
huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ hiện nay: Số H tầng A đoạn C đường T, thôn
Đ, xã Đ, huyện C, Đài Loan. Địa chỉ dịch sang tiếng anh: 1, N.88, S, Zhongshan
R, D, C, T1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Tạ Thị L trình bày:
Chị anh Ngô Đức T kết hôn ngày 07/10/1999 tại UBND Đ trên
sở tự nguyện, tự do tìm hiểu tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau
khi cưới, chị về chung sống với gia đình anh T tại thôn G (nay L), Đ,
huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Thời gian đầu chung sống vchồng sống hạnh phúc.
Cuối năm 2019, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến năm 2022, chị
với anh T xảy ra mâu thuẫn, khoảng cách địa xa không tiếng nói chung
2
trong hôn nhân. Sau khoảng 2 tháng từ khi sang Đài Loan, anh T có mối quan hệ
khác tại Đài Loan, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không nói chuyện
với nhau, không thăm hỏi, động viên, quan tâm tới nhau. Do tình cảm hôn nhân
không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Đức T.
Về con chung: chị anh T 02 con chung cháu Ngô Đức T2 (sinh
năm 1999) Ngô Thị Vân A (sinh năm 2002). Hiện nay các cháu đều trên 18
tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng; vay nợ; công sức đóng góp: Không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Ngô Đức T: Tòa án đã xác minh tại cục X thể hiện anh
T đi xuất cảnh lần cuối vào ngày 15/01/2020 qua cửa khẩu N1, Nội nhưng
chưa nhập cảnh về Việt Nam (BL 37). Tòa án cũng đã gửi cho Văn phòng K để
tống đạt các văn bản tố tụng, đăng thông báo niêm yết theo địa chỉ chị L
cung cấp đề nghị phối hợp lấy lời khai thể hiện quan điểm của anh T nhưng
chưa nhận được phản hồi nào. a án cũng đã thực hiện các thủ tục niêm yết
văn bản tố tụng tại Tòa án, cũng đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết tại
nơi cư trú của anh Ngô Đức T, tuy nhiên anh T đều vắng mặt không có lý do nên
không có lời khai.
Tòa án tiến hành xác minh thông tin vanh T qua mẹ đẻ của anh
Nguyễn Thị T3, sinh năm 1947, trú tại: thôn L, Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh
Phúc. Theo đó, T3 cũng trình bày về tình trạng hôn nhân của anh T chị L
như chị L trình bày trên. Tòa án đã gửi giấy triệu tập các văn bản tố tụng
khác cho anh T về địa chT3, T3 đã thông báo lại toàn bộ nội dung các
văn bản cho anh T, nhưng không biết địa chỉ của anh T. Tuy nhiên, theo
T3 do anh T đang sinh sống và lao động tại Đài Loan nên không có điều kiện v
để tham gia tố tụng theo quy định pháp luật. Anh T nhờ T3 trình bày quan
điểm của anh T về việc chị L xin ly hôn như sau:
Về tình cảm: Anh T đồng ý ly hôn với chị L;
Về con chung: T3 cũng thống nhất như chị L khai, nay các cháu đã
trưởng thành, trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh T, chị L không có
gì.
T3 đề nghị những văn bản tố tụng, bản án của Tòa án gửi về cho bà để
bà gửi cho anh T.
Tòa án đã tiến hành làm việc với Ngô Đức T2 (sinh năm 1999) Ngô
Thị Vân A (sinh năm 2002) con của chị Tạ Thị L, anh Ngô Đức T, đã cung
cấp những nội dung sau:
Bố, mẹ của anh T2, chị Vân A kết hôn năm 1999 tại UBND xã Đ. Sau khi
kết hôn bố, mẹ của anh, chị về chung sống cùng nhau thôn L, xã Đ, huyện T,
tỉnh Vĩnh Phúc. Về tình cảm bố mẹ của anh chị ban đầu chung sống hạnh phúc
3
không mâu thuẫn gì. Đến khoảng cuối năm 2019 đầu năm 2020, bố của anh,
chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ khi đi đến nay vẫn chưa về nhà. Do bố
mẹ khoảng cách quá xa, không nhiều thời gian hỏi han chăm sóc nhau, tình
cảm dần phai nhạt, thời gian bố anh, chị đi Đài Loan lâu cũng chưa biết khi nào
về nước. Các anh, chị vẫn thường xuyên liên lạc (do bố gọi về), nhưng về địa ch
cụ thể nơi hiện nay đang sinh sống và làm việc đâu; số điện thoại, địa chỉ anh
chị không biết do bố anh, chị không nói, do vậy không cung cấp được địa chỉ và
số điện thoại liên hệ của bố. Do tình cảm bố mẹ không còn, cũng không liên lạc
nữa, mẹ của anh, chị yêu cầu xin ly hôn bố thì anh, chị đồng ý không ý
kiến gì. Nay anh, chị đều trên 18 tuổi nên không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
Tòa án và nguyên đơn, bị đơn, đương sự đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Bị đơn không mặt tại Việt Nam nên không thực hiện các quyền
nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong ván này,
Cục X- Bộ C đã ng văn trả lời: Anh Ngô Đức T, sinh ngày 02/3/1977,
thông tin nhập cảnh nhiều lần (05 lượt), lần cuối xuất cảnh ngày 15/01/2020 qua
cửa khẩu N1 bằng hộ chiếu số B8863008, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Mẹ
anh T là bà T3 cũng khẳng định hiện anh T đang lao động, làm việc ở Đài Loan.
Tòa án tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành ủy thác cho Văn phòng K1 tại Đ tống đạt,
niêm yết các văn bản tố tụng nhưng không kết quả. Tòa án cũng đã yêu cầu
T3 cung cấp địa chỉ của anh T, tuy nhiên T3 khẳng định gia đình vẫn liên
lạc với anh T, nhưng anh T không cung cấp địa chỉ nên gia đình bà T3 không
địa chỉ của anh T để cung cấp cho Tòa án. Căn cứ hướng dẫn tại Công văn số
253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND tối cao về việc giải quyết vụ án
ly hôn bị đơn người Việt Nam nước ngoài nhưng không địa chỉ thì
trong vụ án này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành thụ lý, niêm yết các
văn bản tố tụng tại Tòa án tỉnh, trụ sở UBND Đ, nhà anh T đưa vụ án ra
xét xử theo thủ tục chung là có căn cứ và đúng quy định.
Về việc giải quyết đối với vụ án, đề nghị: Căn cứ các Điều 147, Điều 227,
Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy banThường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án; đề ngh Hội đồng xét x, x: Cho ch T Th L đưc ly hôn anh Ngô
Đức T; Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: không
xem xét giải quyết. Về án phí: Chị TThị L phải chịu án phí ly hôn thẩm
300.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án tại phiên toà, Hội
đồng xét xử nhận định:
4
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị L anh T là vợ chồng, kết hôn trên sở tự nguyện, hợp pháp; hiện
căn cứ khẳng định anh T đang xuất cảnh lao động nước ngoài, chưa nhập
cảnh về Việt Nam. Chị L đơn đề nghị ly hôn, nên xác định quan htranh
chấp “Hôn nhân gia đình”. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Quá trình tiến hành tố tụng nguyên
đơn chị Tạ Thị L đã được Tòa án TAND tỉnh Vĩnh Phúc tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng; chị L đã bản tự khai và đơn xin vắng tại các buổi hòa giải,
xét xử. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xvụ án theo quy định tại khoản 1
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác
minh tại cục X thể hiện anh T đi xuất cảnh lần cuối vào ngày 15/01/2020 qua
cửa khẩu N1, Hà Nội nhưng chưa nhập cảnh về Việt Nam (BL 37). Tòa án cũng
đã gửi cho Văn phòng K để tống đạt các văn bản tố tụng, đăng thông báo niêm
yết theo địa chchL cung cấp đề nghị phối hợp lấy lời khai thhiện
quan điểm của anh T nhưng chưa nhận được phản hồi nào. Thông qua mẹ của
anh T Nguyễn Thị T3 hai con Ngô Đức T2 Ngô Thị Vân A thì
căn cứ xác định anh T vẫn liên hệ với gia đình ở Việt Nam nhưng gia đình anh T
không cung cấp được địa chỉ, tin tức của anh T cho Tòa án. vậy, coi đây là
trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những
tài liệu cần thiết. Căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày
26/11/2018 của TAND tối cao Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành thụ lý,
niêm yết các văn bản tố tụng tại Tòa án tỉnh, trụ sở UBND Đ, nhà anh T
đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là có căn cứ.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn anh T; và Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự,
Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Xét về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về yêu cầu xin ly hôn của chị Tạ Thị L:
Chị TThị L anh Ngô Đức T kết hôn tại Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh
Phúc vào ngày 07/10/1999, trên sở tự do tìm hiểu, hoàn toàn tnguyện. Sau
khi kết hôn, vợ chồng sống cùng gia đình chồng anh T tại thôn L, Đ, huyện
T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc
nhưng khoảng năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không
hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. ng năm đó, anh T đi sang Đài
Loan để làm kinh tế, kể từ đó vợ chồng ly thân, không còn quan tâm, chia sẻ với
nhau. Nay, chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không
hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn với anh T.
5
Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện có căn cứ anh T ở nước ngoài nhưng chị
L chỉ cung cấp địa chỉ cuối cùng ở Việt Nam; nguyên đơn cũng như gia đình nhà
bị đơn không cung cấp được địa chỉ của anh T nước ngoài. Áp dụng hướng
dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND tối cao v
việc giải quyết vụ án ly hôn bị đơn người Việt Nam nước ngoài nhưng
không địa chỉ, cụ th“Vụ án ly hôn bđơn người Việt Nam nước
ngoài là một trường hợp đặc thù; quyền ly hôn là một trong các quyền nhân thân
trong hôn nhân gia đình được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 39 Bộ
luật Dân sự năm 2015, Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Do vậy,
trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước
ngoài chỉ cung cấp được địa chỉ nơi trú cuối cùng Việt Nam của bị đơn
không cung cấp được địa chỉ của bị đơn nước ngoài, nếu thông qua thân
nhân của bị đơn căn cứ để xác định họ vẫn liên hệ với thân nhân
trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn
cho Tòa án thì coi đây trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai
báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến lần
thứ hai thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị
đơn cho Tòa án thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục
chung”.
Vợ chồng giữa chị L và anh T đã xa cách nhau lâu (từ năm 2020 đến nay),
không còn quan tâm nhau, không thể hiện được sự gắn kết, không thực hiện
được nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ với nhau của vợ chồng; mâu thuẫn vợ
chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không
thể kéo dài. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình,
Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị L được ly hôn với anh T.
[2.2] Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung Ngô Đức T2, sinh
năm 1999 Ngô Thị Vân A sinh năm 2002, cả hai con nay đã trưởng thành
trên 18 tuổi, tự lập nên Tòa án không giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị Tạ Thị L
không yêu cầu Tòa án giải quyết; hiện anh T vắng mặt, chưa lời khai, quan
điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết sẽ được xem xét, giải
quyết sau nếu có yêu cầu.
[3] Về án phí: Chị Tạ Thị L phải chịu án phí ly hôn thẩm theo quy
định của pháp luật.
Quan điểm về giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa
có căn cứ, phù hợp pháp luật cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều
273; Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
6
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án, xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Tạ Thị L được ly hôn anh Ngô Đức T.
2. Vcon chung: các con của anh T, chị L đều trên 18 tuổi, trưởng thành
nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không xem xét, giải
quyết.
4. Về án phí hôn nn gia đình thẩm: Chị TThị L phải chịu 300.000
đồng án ply hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007321 ngày 14/3/2024 của Cục
Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc (do anh Đỗ Văn H nộp thay). Xác nhận chị
Tạ Thị L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa được kháng cáo
bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể
từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
- UBND xã Đạo Tú, huyện Tam
Dương;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Phòng HCTP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Văn Mạnh
Tải về
Bản án số 02/2025/HNGĐ Bản án số 02/2025/HNGĐ

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2025/HNGĐ Bản án số 02/2025/HNGĐ

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất