Bản án số 987/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 987/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 987/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 987/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T "Tranh cháp hợp đồng vay tài sản" Phạm Thị Hồng L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 987/2026/DS-PT Bản án số 987/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 987/2026/DS-PT Bản án số 987/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 987/2026/DS-PT
Ngày: 31-7-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh y
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 508/2026/TLPT-DS ngày
19 tháng 6 năm 2026, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 484/2026/QĐ-PT ngày 26
tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Trần Thị T, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: G, ấp E, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số H V, đường A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: số nhà H, đường C, khu phố N, phường L, tỉnh Tây Ninh.
- hoặc Ông Trần Văn T1, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: số A ấp B, xã M, tỉnh Tây Ninh.
(Văn bản ủy quyền ngày 09/01/2026)
2. Bị đơn:Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã M, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969
(có mặt).
Địa chỉ: số H ấp L, xã M, tỉnh Tây Ninh.
2
(Văn bản ủy quyền ngày 20/5/2026)
- Người kháng cáo: Phạm Thị Hồng L là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2025, bản tự khai trong quá trình tham gia
tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị T do ông Trần Văn T1 đại diện trình bày:
Ngày 19/6/2025, T cho Phạm Thị Hồng L vay số tiền 500.000.000
đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 05 ngày kể từ ngày 19/6/2025 đến ngày
23/6/2025, trả gốc và lãi một lần vào ngày 23/6/2025 và ký hợp đồng vay tiền được
công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 1.001 Quyển số 02/2025TP/CC-
SCC/HĐGD. Theo đó, T đã đưa cho bà L 500.000.000 đồng tiền mặt vào cùng
ngày tại nhà của bà L địa chỉ ấp P, xã P huyện C, tỉnh Long An (nay là ấp P, xã M,
tỉnh Tây Ninh). Tuy nhiên, đến thời hạn thì L không trả tiền cho T cho bà
T đã đôn đốc nhắc nhở nhiều lần. Việc Phạm Thị Hồng L đã nhận đủ tiền vay
nhưng không trả nợ cho bà T đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T
Vì vậy, T khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Hồng L phải trả cho bà Trần Thị
T một lần số tiền 538.333.333 đồng ngay khi Bản án/Quyết định của Tòa án nhân
dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật. Trong đó:
- Số tiền nợ gốc là: 500.000.000 đồng
- Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả tính từ ngày 19/6/2025 đến ngày
23/6/2025 là: 500.000.000đ × 1%/30 ngày × 5 ngày = 833.333 đồng.
- Tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 24/6/2025 đến ngày xét xử 30/3/2026 là:
500.000.000 Đồng x (10%/12 tháng) x 9 tháng = 37.500.000 đồng.
Bị đơn Phạm Thị Hồng L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
nên không ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T và không cung cấp tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương sự
không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh đã xử:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị Quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; các Điều 357, Điều 463, 466, Điều
468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên x:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T v vic
tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Phạm Thị Hồng L.
3
Buộc bà Phạm Thị Hồng L có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị T tổng
số tiền 538.333.333 đồng, trong đó nợ gốc: 500.000.000 đồng, tiền lãi: 38.333.333
đồng.
Khi bản án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án)
bên nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi
hành khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015 tương ứng với số tiền thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các n
có thỏa thuận khác.
2. V án phí dân sự thẩm: Bị đơn bà Phạm Thị Hồng L phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm là 25.533.333 đồng. H li cho nguyên đơn bà Trần Thị T số tiền tm ng
án phí dân sự thẩm là: 12.400.000 theo biên lai thu tin tm ng án phí số 0009156
ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 20/5/2026, bị đơn bà Phạm Thị Hồng L kháng cáo không đồng ý bản án
sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người
kháng cáo không t yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn bà Phạm Thị Hồng L do ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện theo ủy
quyền trình bày: Do cần tiền nên bà L hỏi T vay tiền. Ngày 19/6/2025, bà T
bà L ký hợp đồng vay số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay
05 ngày ktừ ngày 19/6/2025 đến ngày 23/6/2025, trả gốc lãi một lần vào ngày
23/6/2025 theo hợp đồng vay tiền được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng
1.001 Quyển số 02/2025TP/CC-SCC/HĐGD. Tuy nhiên, T chưa giao tiền cho bà
L, nhiều lần L liên lạc yêu cầu T giao tiền nhưng T không tiền để cho
vay. Sau đó, nhiều lần L liên hệ yêu cầu T ra phòng công chứng hủy hợp đồng
vay tiền nhưng bà T không thực hiện. Do đó, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của T.
Nguyên đơn Trần Thị T do ông Trần Văn T1 người đại diện theo ủy
quyền trình bày:
T đã giao cho L 500.000.000 đồng tiền mặt vào cùng ngày tại nhà của
L địa chỉ ấp P, P huyện C, tỉnh Long An (nay ấp P, M, tỉnh Tây Ninh).
Tuy nhiên, đến thời hạn thì L không trả tiền cho bà T cho T đã đôn đốc nhắc
nhở nhiều lần nên T mới khởi kiện tại Tòa án, trong suốt quá trình giải quyết vụ
án tại tòa án cấp thẩm L cố tình không đến. Do đó, đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
4
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm
đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của đương
sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án đối với kháng cáo của bđơn Phạm Thị
Hồng Ltài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:
Bà T khởi kiện và cung cấp chứng cứ là “Hợp đồng vay tiền” ngày 19/6/2025
(BL 21-23) giữa bà Trần Thị T Phạm ThHồng L được công chứng tại Văn
phòng C. Hợp đồng vay tiền thể hiện nội dung: T cho bà L vay số tiền 500.000.000
đồng, thời hạn vay 05 ngày, kể từ ngày 19/6/2025 đến hết ngày 23/6/2025, lãi suất
1%/tháng, trả gốc và lãi ngày 23/6/2025. Vì vậy có cơ sở xác định, bà L có vay của
bà T số tiền 500.000.000 đồng.
Về yêu cầu tính lãi: theo hợp đồng vay tiền ngày 19/6/2025, hai bên thỏa thuận
lãi suất 1%/tháng từ ngày 19/6/2025 đến ngày 23/6/2025, vậy T yêu cầu tính
lãi từ ngày 19/6/2025 đến ngày 23/6/2025 với mức lãi suất 1%/tháng với số tiền
833.333 đồng tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm tạm tính từ ngày
24/6/2025 đến ngày xét xử 30/3/2026 là: 37.500.000 đồng sở chấp nhận, phù
hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Bà T cho rằng từ ngày vay đến nay, bà L chưa trả tiền gốc và lãi cho bà.L
đã được a án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa
án, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T, buộc
L trả cho T số tiền 538.333.333 đồng, bao gồm tiền vay gốc 500.000.000 đồng,
tiền lãi trong hạn 833.333 đồng, tiền lãi quá hạn 37.500.000 đồng là có cơ sở.
L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của bà Phạm Thị Hồng L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi,
bổ sung năm 2025 đề nghị giữ nguyên Bản án thẩm số 57/2026/DS-ST ngày
30/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn Phạm Thị Hồng L được thực hiện đúng theo quy
định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị T ủy quyền cho ông Nguyễn
Tuấn D, ông Trần Văn T1 nội dung ủy quyền ông D hoặc ông T1 được quyền
mặt; bị đơn bà Phạm Thị Hồng L ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ. Ông T1, ông Đ
có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 296 B
luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
5
Nguyên đơn bà Trần Thị T yêu cầu bà Phạm Thị Hồng L trả tiền vay tổng số
tiền 538.333.333 đồng, trong đó nợ gốc: 500.000.000 đồng, tiền lãi: 38.333.333
đồng. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét
xử thẩm, bị đơn kháng cáo không đồng ý bản án thẩm, đề nghị không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự còn lại không kháng cáo, Viện
kiểm sát không kháng nghị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải
quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của
đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Hồng L, thấy rằng:
[3.1] Tại phn tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình
bày rằng giữa bà Phạm Thị Hồng L và bà Trần Thị T có ký Hợp đồng vay tiền ngày
19/6/2025 được công chứng tại Văn phòng C, nhưng sau khi hợp đồng thì T
không giao số tiền vay 500.000.000 đồng nên giữa các bên thực tế chưa phát sinh
quan hệ vay tài sản. Theo bị đơn, nhiều lần L yêu cầu T giao tiền hoặc cùng
đến Văn phòng công chứng để hủy hợp đồng nhưng T không thực hiện. Từ đó, bị
đơn cho rằng mình không nghĩa vụ trả nợ đề nghị sửa Bản án thẩm theo
hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét thấy, các đương sự trình bày thống nhất ngày 19/6/2025 bà Trần Thị T và
Phạm Thị Hồng L đã ký kết Hợp đồng vay tiền được công chứng tại Văn phòng
C, số công chứng 1001, quyển số 02/2025TP/CC-SCC/HĐGD. Theo nội dung hợp
đồng, Phạm Thị Hồng L vay của Trần Thị T số tiền 500.000.000 đồng; thời
hạn vay 05 ngày, kể từ ngày 19/6/2025 đến ngày 23/6/2025; lãi suất 1%/tháng; gốc
lãi được thanh toán một lần khi đến hạn. Tại phiên tòa phúc thẩm, Phạm Thị
Hồng L do ông Đ đại diện xác định chữ trong hợp đồng của mình, việc giao kết
hợp đồng là có thật, không bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép. Như vậy, giao
dịch vay tài sản giữa các bên được xác lập hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện.
Nội dung Hợp đồng vay không chỉ ghi nhận sự thỏa thuận vviệc vay tài sản,
còn quy định cụ thể phương thức giao nhận tiền. Tại Điều 5 của hợp đồng, các
bên xác đnh bên cho vay giao cho bên vay bằng tiền mặt số tiền 500.000.000 đồng
vào ngày 19/6/2025 tại nơi cư trú của bên vay. Điều 6 quy định thời điểm, địa điểm
phương thức hoàn trả khoản vay ngày 23/6/2025 tại nơi trú của bên vay.
Điều 9 các bên tiếp tục cam kết toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng là đúng sự thật
và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết đó. Những nội dung này là sự
xác nhận thống nhất của chính các bên tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 (Điều 6 Luật Công
chứng năm 2024) quy định những tình tiết, sự kiện được ghi nhận trong văn bản công
chứng có giá trị chứng cứ. Đến nay, hợp đồng vay tiền ngày 19/6/2025 không bị cơ
quan thẩm quyền hủy bỏ hoặc tuyên hiệu. Mặc cho rằng chưa nhận tiền vay,
nhưng bị đơn không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho
lời trình bày của mình. Bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu thể hiện việc đã
yêu cầu nguyên đơn giao tiền, yêu cầu hủy hợp đồng hoặc khiếu nại đến Văn
phòng công chứng, cơ quan có thẩm quyền về việc hợp đồng không được thực hiện.
6
Những lời khai này chỉ được đưa ra sau khi Tòa án cấp thẩm đã xét xử cũng
không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, mặc đã được
Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng L đều vắng mặt, không
gửi văn bản trình bày ý kiến, không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
cũng không đưa ra quan điểm cho rằng chưa nhận tiền vay. Chỉ đến khi kháng cáo
và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn mới đưa ra tình tiết này. Đây là tình tiết mới do bị
đơn trình bày nhưng không chứng minh nên không đủ căn cứ làm thay đổi nội dung
vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định bà Trần Thị T đã giao cho bà
Phạm Thị Hồng L số tiền vay 500.000.000 đồng theo đúng nội dung các bên đã xác
lập hợp đồng vay. Đến thời hạn ngày 23/6/2025, bà Phạm Thị Hồng L không thanh
toán khoản vay theo cam kết, vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại Điều
466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn buộc bà Phạm Thị Hồng L thanh toán số tiền gốc 500.000.000
đồng cho T là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.2] Về yêu cầu thanh toán tiền lãi:
Tại Điều 3 của Hợp đồng vay tiền ngày 19/6/2025, các bên thỏa thuận mức lãi
suất 01%/tháng, thời hạn vay 05 ngày, kể t ngày 19/6/2025 đến hết ngày
23/6/2025 và bên vay có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi một lần khi đến hạn. Mức
lãi suất này tương đương 12%/năm, không vượt quá mức lãi suất tối đa 20%/năm
theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đến ngày 23/6/2025, Phạm Thị Hồng L không thực hiện nghĩa vụ thanh
toán theo cam kết. Theo khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi đến hạn
bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì phải thanh toán tiền lãi đối với khoản
nợ gốc theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong thời hạn vay đối với thời
gian chậm trả, phải chịu lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Đối chiếu quy định nêu trên với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng,
nguyên đơn chỉ yêu cầu tính tiền lãi trong hạn từ ngày 19/6/2025 đến ngày 23/6/2025
theo mức lãi suất đã thỏa thuận là 01%/tháng và yêu cầu tính tiền lãi chậm trả kể từ
ngày 24/6/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/3/2026) theo mức 10%/năm quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Yêu cầu này hoàn toàn phù hợp
với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và được hướng dẫn tại
Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
Cụ thể, tiền lãi trong hạn được xác định như sau:
500.000.000 đồng × 01%/30 ngày × 05 ngày = 833.333 đồng.
Tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tính từ ngày 24/6/2025 đến ngày
xét xử sơ thẩm (ngày 30/3/2026) là 09 tháng:
500.000.000 đồng × 10%/12 tháng × 09 tháng = 37.500.000 đồng.
Tổng số tiền lãi bà Phạm Thị Hồng L phải thanh toán là 38.333.333 đồng.
7
Do đó, a án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của T về việc buộc L
thanh toán 538.333.333 đồng, gồm nợ gốc: 500.000.000 đồng, tiền lãi: 38.333.333
đồng căn cứ, đúng pháp luật. Phạm Thị Hồng L kháng cáo nhưng không
cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận.
Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị
đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Hồng L.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 30 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 357, Điều 463, 466, Điều 468, Điều 469 của
Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị Quyết
326/2017/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Điều 5 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn
áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên x :
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T v vic
tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Phạm Thị Hồng L.
Buộc bà Phạm Thị Hồng L có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị T tổng
số tiền 538.333.333 đồng, trong đó nợ gốc: 500.000.000 đồng, tiền lãi: 38.333.333
đồng.
Khi bản án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án)
bên nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi
hành khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015 tương ứng với số tiền thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các n
có thỏa thuận khác.
2. V án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bị đơn Phạm Thị Hồng L phải chịu án phí dân sự thm
25.533.333 đồng.
8
H lại cho nguyên đơn bà Trần Thị T số tiền tm ng án phí dân sự sơ thẩm là
12.400.000 theo biên lai thu tin tm ng án phí số 0009156 ngày 23/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc bà Phạm Thị Hồng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm,
khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011434 ngày
22/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 7 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 7 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 987/2026/DS-PT Bản án số 987/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 987/2026/DS-PT Bản án số 987/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất