Bản án số 962/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 962/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 962/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 962/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế D "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Trần Thanh K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 962/2026/DS-PT Bản án số 962/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 962/2026/DS-PT Bản án số 962/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 962/2026/DS-PT
Ngày: 28-7-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Ông Nguyễn Phước Thanh
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 515/2026/TLPT-DS ngày 25 tháng 6 năm
2026, về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 201/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 485/2026/QĐ-PT ngày
26 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: Số A N, khu phố C, phường L, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh K, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: Số E Quốc lộ B, khu phố B, phường H, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm
1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số E Quốc lộ B, khu phố B, phường H, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở hiện
nay: B, khu phố D, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của H: Ông Trần Thanh K, sinh năm 1979
(có mặt).
Địa chỉ: Số E Quốc lộ B, khu phố B, phường H, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy
quyền ngày 09/02/2026).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Thanh K.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông
Nguyễn Thế D trình bày:
Vào ngày 10/4/2025, ông D cho vợ chồng ông K H vay số tiền
400.000.000 đồng, hẹn tới ngày 10/10/2025 sẽ trả hết nợ gốc; lãi suất thoả thuận
2%/tháng. Vợ chồng ông K chỉ trả lãi được 02 tháng, mỗi tháng 8.000.000 đồng
thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản của vợ ông D, số tài khoản
106000943888 tên Dương Thị Thu H1 vào ngày 24/5/2025 và 19/6/2025, sau đó
không chuyển nữa. Ông D yêu cầu Toà án giải quyết, buộc ông Kbà H trả số
tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng, tính lãi từ 10/7/2025 đến khi trả xong theo mức
2%/tháng.
Bị đơn ông Trần Thanh K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Trần Thị Thu H do ông Trần Thanh K đại diện trình y:
Ông K thừa nhận chữ trong giấy vay tiền ngày 10/4/2025 ông D giao
nộp cho Toà án là chữ ký của ông K và bà H. Theo ông K thì ông có đề nghị ông
D cho vay tiền giấy vay rồi ông D sẽ chuyển tiền sau nhưng ông D không
chuyển nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông D.
Đến ngày 27/01/2026, ông K thay đổi lời khai cho rằng số tiền 400.000.000
đồng theo nội dung giấy vay ông D nộp cho Tán thực ra stiền nợ vợ
chồng ông vay của ông D từ năm 2021. Do vợ chồng ông không trả được nên viết
giấy nợ ngày 10/4/2025 như ông D cung cấp. Vợ chồng ông vay tiền của ông D
từ năm 2021 trả lãi tđó theo mức 3%/tháng, sau khi viết giấy vay ngày
10/4/2025 thì mới thoả thuận lãi mức lãi 2%/tháng đóng lãi được 03 tháng
thì ngưng. Ông K yêu cầu xem xét số tiền lãi vợ chồng ông đã chuyển cho ông D
từ ngày 02/11/2022 tới năm 2022 là 321.000.000 đồng và yêu cầu trừ vào nợ lãi,
nợ gốc.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương
sự không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 201/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026
Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 99a/2026/QĐ-SCBSBA ngày 24 tháng 7
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh đã xử:
Căn cứ vào Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147,
Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ pTòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế D đối với ông Trần
Thanh K và bà Lê Trần Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Trần Thanh K và bà Lê Trần Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho ông
Nguyễn Thế D số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng; tiền lãi 66.666.000 đồng.
Tổng cộng là 466.666.000 đồng.
3
Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền nợ, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B
luật Dân sự 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Thanh K và bà Trần Thị Thu H phải chịu 22.667.000 đồng.
- Ông Nguyễn Thế D không phải chịu án phí, được trả lại tiền tạm ứng án
phí đã nộp là 10.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số
0012328 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự tnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 18/5/2026, bị đơn ông Trần Thanh K kháng cáo không đng ý bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Trần Thanh K xác định nội dung kháng cáo và trình bày: Giấy
nhận nợ đề ngày 10/4/2025 là do vợ chồng ông ký tên, tsau khi viết giấy nợ ông
đã trả 02 tháng tiền lãi theo mức lãi suất 2%/tháng chuyển khoản vào tài khoản
của H1 vợ của ông D 8.000.000 đồng x 2 tháng 16.000.000 đồng thì ngưng
không trả nữa. Tuy nhiên, số tiền nợ 400.000.000 theo giấy nợ là được viết lại của
số nợ cũ 350.000.000 đồng gốc và lãi của khoản nợ vay năm 2021. Trước đó, vợ
chồng ông đã đóng lãi theo mức lãi suất 3%/tháng, đã đóng 292.900.000 đồng, đề
nghị cấn trừ vào tiền vay.
Nguyên đơn ông Nguyễn Thế D trình bày: Vợ ông K bạn đồng nghiệp
dạy cùng trường với ông. Vợ chồng ông K vay của ông nhiều lần. Giấy nợ
ngày 10/4/2025 đây là khoản vay riêng, không liên quan đến khoản vay trước đó.
Ngày 10/4/2025, vợ chồng ông K vay của ông 400.000.000 đồng, ông đã giao đủ
bằng tiền mặt, vợ chồng ông K đã viết giấy nợ, lãi suất 2%/tháng, đã trả lãi 02
tháng chuyển khoản vào tài khoản của H1 vợ của ông thì ngưng không trả
nữa cũng không trả gốc khi đến thời hạn trả tiền. Nhiều lần ông yêu cầu vợ
chồng ông K trả tiền vay thì cố tình không trả và cho rằng chỉ ký tên nhưng chưa
nhận, sau đó lại cho rằng đây nợ không phù hợp. Đề nghị không chấp
nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng n sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo tnh tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án đối với kháng cáo của đương sự:
4
Ông K, H cho rằng đây giấy nợ ngày 10/4/2025 khoản nợ từ năm
2021. Ông D không thừa nhận số tiền 400.000.000 đồng viết giấy nhận nợ ngày
10/4/2025 là tiền vay tnăm 2021. Ông K ngoài lời trình bày thì không có chứng
cứ chứng minh. Như vậy, căn cứ xác định ông K H nợ ông D số
tiền gốc 400.000.000 đồng vay vào ngày 10/4/2025.
Về lãi, mức 2%/tháng vượt mức 20%/năm theo Điều 468 Bộ luật Dân sự
nên lãi trong hạn được tính theo mức 20%/năm. Ông D xác định ông K, bà H đã
thanh toán 16.000.000 đồng tiền lãi; ông K cho rằng đã trả 03 tháng nhưng không
chứng minh được. Sau khi khấu trừ số tiền lãi đã trả, còn phải thanh toán
17.333.000 đồng tiền lãi trong hạn.
Đến hạn ngày 10/10/2025, ông K H không thanh toán nợ gốc nên phải
chịu lãi qhạn từ ngày 11/10/2025. Mức lãi 2%/tháng ông D yêu cầu không vượt
quá mức pháp luật cho phép. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/4/2026, tiền
lãi quá hạn là 49.333.000 đồng.
Đối với số tiền ông K cho rằng đã thanh toán 321.000.000 đồng tại cấp sơ
thẩm và 292.900.000 đồng tại cấp phúc thẩm, ông K không chứng minh được các
khoản tiền này là tiền trả cho khoản vay 400.000.000 đồng ngày 10/4/2025. Ông
D xác định các khoản vay trước đó đã được thanh toán đầy đủ. Vì vậy, không có
căn cứ khấu trừ các khoản tiền này vào khoản nợ đang tranh chấp. Do đó, có căn
cứ xác định ông K H còn nợ ông D 400.000.000 đồng tiền gốc 66.666.000
đồng tiền lãi, tổng cộng 466.666.000 đồng. Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông D là có căn cứ.
Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh K. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Trần Thanh K được thực hiện đúng theo quy định
tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thế D, ông Trần Thanh K mặt,
các đương sự còn lại vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thế D khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh K
Trần Thị Thu H nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thế D stiền nợ gốc
400.000.000 đồng; tiền lãi theo mức lãi suất 2%/tháng tính từ ngày 10/7/2025 là
66.666.000 đồng. Tổng cộng là 466.666.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trần Thanh K kháng cáo không đồng ý
bản án thẩm. Các đương sự còn lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không
kháng nghị.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải
quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo
của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của ông Trần Thanh K, thấy rằng:
[3.1] Về tiền nợ gốc:
Các đương sự trình bày thống nhất giữa ông Nguyễn Thế D với Lê Trần
Thị Thu H ông Trần Thanh K xác lập Giấy nhận nợ (vay tiền) mẫu in sẵn
đề ngày 10/4/2025. Ông K, bà H trình bày chính ông K và bà H ký vào giấy vay.
Tuy nhiên, ông K, bà H không thống nhất số tiền vay. Ông K, bà H cho rằng ông
D không giao tiền vay khoản nợ vay từ năm 2021; do không trả được tiền
nên ký lại giấy vay ngày 10/4/2025.
Xét thấy, ông K bà H thừa nhận chữ tại giấy vay tiền ngày 10/4/2025,
nội dung giấy nợ thể hiện vay ông D 400.000.000 đồng, thời hạn từ ngày
10/4/2025 đến ngày 10/10/2025, lãi suất 2%/tháng đã nhận đủ tiền. Ông cho
rằng đây khoản nợ từ năm 2021 được lập lại giấy vay nhưng không cung cấp
được chứng cứ chứng minh; ông D không thừa nhận. Do đó, có căn cứ xác định
ông K, bà H vay ông D 400.000.000 đồng ngày 10/4/2025.
[3.2] Về tiền lãi:
Nội dung giấy vay tiền thể hiện lãi suất 2%/tháng thời hạn vay từ
ngày 10/4/2025 đến ngày 10/10/2025 n xác định đây hợp đồng vay thời
hạn và có lãi theo quy định tại Điều 470 Bộ luật dân sự.
Về lãi trong hạn: Ông D, ông K, bà H thống nhất lãi vay là 2%/tháng. Theo
quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tcác đương sự được
thỏa thuận mức lãi suất cho vay nhưng không được vượt quá 20%/năm. Mức lãi
các đương sự thoả thuận 2%/tháng vượt quá quy định pháp luật nên lãi trong hạn
được xác định là 20%/năm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D ông K trình bày thống nhất ông K, bà H
đã trả lãi được 02 tháng, thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản của vợ
ông D, số tài khoản 106000943888 tên Dương Thị Thu H1 vào ngày 24/5/2025
và 19/6/2025 với tổng tiền lãi đã trả là 16.000.000 đồng. Sau khi khấu trừ số tiền
lãi đã trả, còn phải thanh toán 17.333.000 đồng tiền lãi trong hạn.
Về lãi quá hạn: Theo quy định tại khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự
2015, lãi suất quá hạn được tính bằng 150% của lãi suất trong hạn. Mức lãi suất
quá hạn ông D u cầu 2%/tháng thấp hơn so với mức pháp luật cho phép, Tòa án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông D là có lợi cho b đơn.
Số tiền lãi quá hạn ông K, bà H phải trả cho ông D từ ngày 11/10/2025 đến
ngày xét xử 15/4/2026 là: 400.000.000 đồng x 2%/tháng x 06 tháng 05 ngày =
49.333.000 đồng.
6
[3.3] Tại Tòa án cấp thẩm ông K cho rằng đã trả lãi cho ông D tổng s
tiền 321.000.000 đồng từ ngày 02/11/2022 đến khi viết giấy nợ mới yêu cầu
trừ vào nợ lãi, nợ gốc. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K thay đổi lời khai cho rằng
đã trả cho D số tiền 292.900.000 đồng. Trong khi đó, ông D xác định các khoản
vay trước tháng 4/2025, ông K, H đã trđủ tiền vay tiền lãi, riêng số tiền
vay theo giấy nợ ngày 10/4/2025 ông K, bà H chỉ trả 02 tháng tiền lãi thì ngưng
không trả nữa nên mới phát sinh tranh chấp. Ông K không chứng minh đã trả i
của khoản vay 400.000.000 đồng nông trình bày nên không căn cứ chấp
nhận yêu cầu khấu trừ tiền lãi của ông K.
Từ những phân tích nêu trên, Bản án thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông D, buộc ông K và bà H trả số tiền vay là 400.000.000 đồng và lãi là
66.666.000 đồng, tổng cộng là 466.666.000 đồng là có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, buộc ông K H trả số tin
vay 400.000.000 đồng lãi 66.666.000 đồng, tổng cộng 466.666.000
đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ông K kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội
dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm
sát viên tham gia phiên tòa.
[4] Về án phí dân sphúc thẩm: Ông K phải chịu án phí do kháng cáo
không được chấp nhận.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh K.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 201/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147,
Điều 217 của B luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án
phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế D đối với ông Trần
Thanh K và bà Lê Trần Thị Thu H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Trần Thanh K và bà Lê Trần Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho ông
Nguyễn Thế D số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng); tiền lãi
là 66.666.000 đồng (sáu mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Tổng
7
cộng 466.666.000 đồng (bốn trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu
nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền nợ, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của s
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của B
luật Dân sự 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Thanh K Trần Thị Thu H phải chịu 22.667.000 (hai
mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.
Ông Nguyễn Thế D không phải chịu án phí, được trả lại tiền tạm ứng án
phí đã nộp là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí
số 0012328 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Thanh K phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012409 ngày 02/6/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Về quyền nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 10 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 10 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 962/2026/DS-PT Bản án số 962/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 962/2026/DS-PT Bản án số 962/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất