Bản án số 109/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 109/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 109/2026/DS-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 109/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tiền
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 109/2026/DS-PT Bản án số 109/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 109/2026/DS-PT Bản án số 109/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH NINH BÌNH
Bn án s: 109/2026/DS-PT
Ngày: 14 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp T do Hnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng
Các Thẩm phán: ông Đinh Huy Lưỡng và bà Trần Thị Sâm
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Ánh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: bà Vũ Thị Thanh Vân
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm công khai v án thụ số: 38/2026/TLPT-DS ngày 09 tháng 6
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 102/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2026/QĐ-PT ngày
29 tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 97/2026/QĐ-
PT ngày 14 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Vũ Văn H1 sinh năm 1957 và Trần Thị D sinh năm
1965; địa chỉ: thôn A (thôn B H cũ), xã H, tỉnh Ninh Bình.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị
S1 Luật n phòng L, thuộc Đoàn luật tỉnh N; địa chỉ: khu tái định
V, tỉnh Ninh Bình.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị G sinh năm 1973; địa chỉ: thôn A (thôn C H cũ),
xã H, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị G: anh Đỗ Văn H sinh năm
1994; địa chỉ: thôn A (thôn B H cũ), xã H, tỉnh Ninh Bình là người đại diện theo
ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/5/2026).
2
3. Người làm chứng: ông Mai Văn N sinh năm 1959; thôn A, xã H, tỉnh
Ninh Bình.
4. Người kháng cáo:Nguyễn Thị G là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2025 trong qtrình tham gia tố tụng,
nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng ông Vũ Văn H1, bà Trần Thị D và bà Nguyễn Thị G là hàng xóm
quen biết nhau. m 2018, G đã vay tiền của vợ chồng ông H2, D 03 lần
để mua thức ăn chăn nuôi lợn, cụ thể:
Lần thứ nhất: ngày 20/01/2018 âm lịch (ngày 07/3/2018 dương lịch) vay
40.000.000 đồng, G cam kết trả trong vòng 03 ngày nên không tính lãi. Sau
03 ngày, G không trả được số tiền đã vay nên các bên thống nhất chuyển
thành tiền vay trong thời hạn 30 ngày. Ông Văn H1 đã viết giấy vay yêu
cầu bà G ký, ghi rõ họ tên vào giấy biên nhận.
Lần thứ hai: ngày 27/3/2018 âm lịch (ngày 12/5/2018 dương lịch) vay
20.000.000 đồng.
Lần thứ ba: ngày 10/5/2018 âm lịch (ngày 23/6/2018 dương lịch) vay
40.000.000 đồng. Cả hai lần vay đều thỏa thuận vay có lãi, thời hạn vay đến khi
nào cần thì bên vay phải trả; G đã ký, ghi họ tên vào giấy biên nhận do
Trần Thị D viết.
Tổng cộng 03 lần G đã vay của vợ chồng ông H1, D số tiền gốc
100.000.000 đồng. Bà G đã trả lãi của 03 khoản vay 2%/tháng đến tháng
10/2018 thì dừng lại với do gia đình khó khăn về kinh tế hứa khi các con
ăn học xong đi làm strả nợ (thỏa thuận lãi bằng lời nói, không giấy tờ về
việc trả lãi). Trước Tết âm lịch năm 2025 ngày 27/9/2025, vợ chồng ông H1,
D đã đến đòi nợ nhưng G lấy lý do bị lừa nên không đồng ý trả. vậy,
ông H1, D khởi kiện yêu cầu G phải trả số tiền nợ gốc 100.000.000
đồng; tiền lãi của khoản vay 20.000.000 đồng ngày 12/5/2018 tính từ ngày
13/5/2020 đến ngày xét xử thẩm; tiền lãi của khoản vay 40.000.000 đồng
ngày 23/6/2018 tính từ ngày 24/6/2020 đến ngày xét xử thẩm (vợ chồng ông
H1 chấp nhận thời gian tính lãi theo ý kiến của G) với mức lãi suất theo quy
định của pháp luật. Đối với khoản vay 40.000.000 đồng ngày 20/01/2018 âm
lịch (ngày 07/3/2018 dương lịch) hết thời hiệu tính lãi nên ông H1, D
3
không yêu cầu tính lãi.
Tại Biên bản làm việc ngày 28/11/2028, bị đơn Nguyễn Thị G trình
bày: bà G đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án. Bà G không anh
em họ hàng với vợ chồng ông H1, D chỉ hàng xóm với nhau. Năm
2018 G vay của vchồng ông H1, bà D tổng số tiền 100.000.000 đồng.
Khi vay, hai bên không viết giấy tờ chỉ thỏa thuận miệng với lãi suất
3.000 đồng/1 triệu/1 ngày đã trả lãi trong vòng 02 năm. Sau đó, do làm ăn
không có tiền trả lãi nữa, bà đã nói với vợ chồng ông H1, bà D cho chị xin vì đã
trả lãi rất nhiều.
Tại văn bản ngày 13/8/2026 ông Mai Văn N trình bày: trong buổi làm việc
theo Biên bản làm việc ngày 28/11/2025 ông N chỉ được gặp ông Tuấn T
Thư ký, buổi làm việc hôm đó không cóNguyễn Thị H3 Thẩm phán. Ngày
28/11/2025 ông N có ký xác nhận chữ ký của bà Nguyễn Thị G. Ông N xin vắng
mặt tại phiên tòa vì bận Hội nghị Nông dân.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 102/2026/DS-ST ngày 27/3/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình quyết định:
Căn cứ các Điều 357, 463, 466 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các
Điều 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn H1 Trần Thị D
về việc đòi nợ đối với bà Nguyễn Thị G.
2. Buộc Nguyễn Thị G phải trả cho vợ chồng ông Văn H1, Trần
Thị D số tiền nợ gốc i 134.768.000 đồng; trong đó, nợ gốc
100.000.000 đồng và lãi là 34.768.000 đồng.
3. Về án phí: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí lệ phí Toà án, buộc bà Nguyễn Thị G phải nộp 6.738.000 đồng án phí dân sự
sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm thi hành án; quyền, nghĩa
vụ thi hành án và quyền kháng o của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
* Ngày 01/5/2026, Nguyễn Thị G kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự
thẩm số: 102/2026/DS-ST ngày 27/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 -
4
Ninh Bình. Lý do: bản án sơ thẩm chưa đúng quy định của pháp luật, xâm phạm
đến quyền lợi ích hợp pháp của G. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy
toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Ngày 06/7/2026, anh Đỗ Văn H người đại diện theo ủy quyền của
Nguyễn Thị G đơn trình bày: Nguyễn Thị G chỉ thừa nhận vay của vợ
chồng ông H1, D 02 khoản tiền gồm: 20.000.000 đồng vay ngày 12/5/2018
và 40.000.000 đồng vay ngày 23/6/2018 thể hiện tại bút lục số 37.
Đối với giấy vay tiền ngày 20/01/2018 tại t lục số 38 G khẳng định
không giấy vay, không nhận số tiền 40.000.000 đồng; chữ mang tên
“Nguyễn Thị G” không phải chữ của G. Do vậy đề nghị Tòa án trưng
cầu giám định chữ ký “Gấm” và chữ viết “Nguyễn Thị G” tại bút lục 38 so sánh
với chữ ký, chữ viết mang tên “Nguyễn Thị G” tại bút lục 37 trong hồ sơ;
Hợp đồng tín dụng số 3207-LAV-201903105 đề ngày 05/9/2019; Phụ lục hợp
đồng nhận tiền vay định kỳ hạn trả nợ ngày 05/9/2019 01 hợp đồng uỷ
quyền đề ngày 23/9/2020 có phải do cùng một người ký, viết ra không?
* Tại Kết luận giám định số: 3734/KL-KTHS ngày 28/7/2026 Phòng K
Công an tỉnh N kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị G trên mẫu cần
giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị G trên mẫu so
sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ký, viết ra.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Văn H1 và Trần Thị D trình bày: năm 2018, vợ
chồng ông H2, D cho G vay tiền 03 lần cthể: ngày 07/3/2018 cho vay
40.000.000 đồng; ngày 12/5/2018 cho vay 20.000.000 đồng; ngày 23/6/2018 cho
vay 40.000.000 đồng. Lần vay thứ nhất G cam kết trả nợ trong vòng 03 ngày
nên không tính lãi. Sau 03 ngày, G không trả được nnên hai bên đã thống
nhất chuyển thành tiền vay trong thời hạn 30 ngày. Hai lần vay sau, hai bên
không thống nhất ngày trả nợ nhưng thống nhất G phải trả nợ khi nào ông
H1, bà D cần. Lãi suất hai bên thống nhất cả 03 khoản vay 2%/tháng. Trong
cả 03 lần vay hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập hợp đồng bằng văn
bản nhưng sau mỗi lần nhận tiền bà G đều ký vào giấy vay tiền (bút lục số 37 và
38). Sau khi vay tiền, G chưa trả tiền gốc chthanh toán được mấy tháng
tiền lãi, sau đó không trả nữa. Các lần G trả lãi, do không giấy tgì n
ông H1, bà D không nhớ được cụ thể các lần và số tiền bà G đã trả cũng như nội
5
dung ghi cuối trang giấy vay tiền ngày 23/6/2018. Bà G khai lãi 3.000đ/1 triêu/1
ngày đã trả 129.600.000 đồng tiền lãi không đúng. Do không giấy tờ
về tiền lãi nên ông H1, bà D chấp nhận ý kiến của bà G, đề nghị tính lãi suất của
02 lần vay sau theo quy định của pháp luật, thời gian tính lãi sau khi vay 02 năm
đến khi xét xử sơ thẩm.
Trước Tết âm lịch năm 2025 ngày 27/9/2025, vchồng ông H1, D
đến đòi nợ nhưng bà G lấy lý do bị lừa nên không có tiền trả nợ. Vì vậy, ông H1,
D mới phải đi khởi kiện. Sau xét xử thẩm, bà G con trai anh H đến
nhà ông H1 đề nghị trả 50.000.000 đồng nhưng ông không nhất trí. Ông H1,
bà D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Anh Đỗ Văn H trình bày: G chỉ thừa nhận 02 khoản vay của vợ chồng
ông H1, D gồm: vay 20.000.000 đồng ngày 12/5/2018 vay 40.000.000
đồng ngày 23/6/2018. G phải trả lãi suất của 02 khoản vay nêu trên 3.000đ/1
triêu/1 ngày trong thời gian 02 năm và đã trả số tiền lãi là 129.600.000 đồng. Bà
G không có giấy tờ gì để chứng minh cho việc đã trả tiền lãi nêu trên.
Đối với khoản vay 40.000.000 đồng ngày 07/3/2018 (20/01/AL), chữ
trong giấy vay tiền do G nhưng thực tế G không vay khoản tiền này
đó tiền lãi ông H1, bà D cộng vào, do G không biết chữ nên đã vào
đó.
Sau nhận được bản án thẩm, G anh H đến nhà ông H1 đề nghị
trả 50.000.000 đồng nhưng ông H1, D không nhất trí yêu cầu phải trả
100.000.000 đồng tiền gốc nên hai bên không tự giải quyết được. Nay G giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, đnghTòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm
để giải quyết lại, vì lý do:
+ Chưa đủ điều kiện khởi kiện: khoản vay ngày 12/5/2018 và khoản vay
ngày 23/6/2018 của G vay không kỳ hạn. Trước khi khởi kiện, ông H1,
D chưa yêu cầu G trả nợ. Trong hồ vụ án không bất kỳ tài liệu, chứng
cứ nào thể hiện D đã yêu cầu G thanh toán khoản vay trước khi nộp đơn
khởi kiện, như: Văn bản hoặc thông báo yêu cầu trả nợ; Tin nhắn, ghi âm, email
hoặc tài liệu thể hiện việc đòi nợ; Người làm chứng xác nhận việc yêu cầu trả
nợ, hoặc bất kỳ tài liệu nào khác chứng mình G đã nhận được yêu cầu thanh
toán.
6
+ Tòa án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong thu thập chứng cứ:
Biên bản làm việc ngày 28/11/2025 thể hiện buổi lấy lời khai được tiến hành tại
nhà Nguyễn Thị G với sự tham gia của Nguyễn Thị H3 Thẩm phán, ông
Tuấn T Thư Tòa án, ông Mai Văn N Trưởng thôn Nguyễn Thị
G. Ông N đã Văn bản xác nhận: tại buổi làm việc chỉ có ông Tuấn T
Thư Tòa án Nguyễn Thị G; Thẩm phán Nguyễn Thị H3 không mặt
trong quá trình lấy lời khai. Việc c nhận Biên bản làm việc không được
thực hiện tại nhà bà G mà được ký tại nhà ông N.
Ngoài ra, Tòa án thẩm chưa làm các nội dung ghi chú trên Giấy vay
tiền ngày 23/6/2018, tại phần cuối giấy vay có nhiều nội dung ghi chú như: “Hết
T7 nlại 1.600.000 đồng (Hậu trả cho) 1.500.000 nợ lại 100, Hết 25/8, 25/8 nợ
1.000.000, 25/9, 25/10/18 (5.900) cùng một số nội dung đã bị gạch xóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của
những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc
thẩm đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
+ Không chấp nhận kháng cáo của Nguyn Th G, gi nguyên Bản án sơ
thẩm số: 102/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân vực
11 Ninh Bình.
+ Nguyn Th G phi chu án phí dân s phúc thm theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Người kháng cáo Nguyễn Thị G đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ
theo quy định của pháp luật. vậy, vụ án được xét xử lại theo trình tự, thủ tục
phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Văn H1Trần
Thị D trình bày: ngày 12/5/2018 ông H1, D cho Nguyễn Thị G vay
20.000.000 đồng; đến ngày 23/6/2018 tiếp tục cho G vay 40.000.000 đồng.
Hai khoản vay đều do bà D đứng ra cho vay.
7
Lời khai của ông H1, D phù hợp với tài liệu, chứng cứ giấy vay tiền
thể hiện tại Bút lục số 37 trong hồ vụ án. G người đại diện theo ủy
quyền của G anh H đã thừa nhận hai khoản vay nêu trên. Do đó đủ căn cứ
xác định: ngày 12/5/2018 vợ chồng ông H1, D cho bà G vay số tiền
20.000.000 đồng; đến ngày 23/6/2018 tiếp tục cho bà G vay số tiền 40.000.000
đồng.
* Đối với khoản vay ngày 07/3/2018, người đại diện theo y quyền của bà
G trình bày: chữ trong giấy vay tiền ngày 07/3/2018 (20/01/AL) là do G
ký nhưng thực tế bà G không vay khoản tiền 40.000.000 đồng, khoản tiền này là
tiền lãi ông H1, bà D cộng vào, do bà G không biết chữ nên đã ký vào đó.
Ý kiến của anh H về giấy vay tiền ngày 07/3/2018 (20/01/AL) tiền lãi
ông H1, D cộng vào rồi đưa G ký; sự việc này không được ông H1
D thừa nhận anh H không tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản tiền
40.000.000 đồng ghi trong giấy vay tiền ngày 07/3/2018 là tiền lãi nên không
căn cứ chấp nhận.
Người đại diện của G đã thừa nhận chữ ký trong giấy vay tiền ngày
07/3/2018 (bút lục 38) chữ của G, phù hợp với Kết luận giám định số:
3734/KL-KTHS ngày 28/7/2026 Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với biên bản
làm việc ngày 28/11/2025. Với các chứng cứ nêu trên, đủ căn cứ xác định ngày
07/3/2018 bà G đã vay của vợ chồng ông H1, D số tiền 40.000.000 đồng; sau
khi nhận tiền bà G đã ký vào giấy vay tiền do ông H1 lập.
Như vậy, tổng số tiền của 03 lần bà G đã vay của vợ chồng ông H1, bà D là
100.000.000 đồng và cho đến nay bà G chưa trả được khoản tiền nợ gốc nào.
Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày khi vay hai bên thỏa thuận bằng lời
nói về lãi suất nhưng không thống nhất được mức lãi suất cho mỗi khoản vay và
số tiền lãi đã trả, thời gian trả lãi, không bên nào cung cấp được tài liệu, chứng
cứ chứng minh cho ý kiến của mình. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự, xác định mức lãi suất 10%/năm của hai khoản vay
là có căn cứ.
* Xét ý kiến của anh Đỗ Văn H người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Về điều kiện khởi kiện: khoản vay ngày 07/3/2018 khoản vay thời
hạn, hẹn 30 ngày trả nợ; khoản vay ngày 12/5/2018 ngày 23/6/2018 không
thỏa thuận ngày trả nợ nhưng thỏa thuận “sẽ trả đầy đủ khi người cho vay cần".
8
Từ thời điểm cho G vay tiền đến khi vợ chồng ông H1 khởi kiện một
khoảng thời gian rất dài (trên 7 năm). Trong đơn khởi kiện ông H1, D trình
bày: trước Tết âm lịch năm 2025 ngày 27/9/2025, vợ chồng ông H1, G đã
đến đòi nợ nhưng bà G lấy lý do bị lừa nên không đồng ý trả. Tuy ông H1, bà G
không các văn bản giấy tờ về việc đã đòi nợ nhưng trên thực tế thể xác
định ông H1, D đã đòi nợ nhưng bà G không trả nên mới phải khởi kiện. Sau
khi thụ vụ án, Tòa án đã giao Thông báo thụ lý vụ án cho G, trong thông
báo đã nêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi nhận được thông báo,
bà G không đến Tòa làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, bà G biết nhưng không phản đối nên quyền
khởi kiện của nguyên đơn, số tiền vợ chồng nguyên đơn đã cho bị đơn vay thuộc
trường hợp không cần phải chứng minh. Ông H1, bà D đã cho bà G vay tiền nên
có quyền khởi kiện đòi nợ.
- Về việc Tòa án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động thu
thập chứng cứ: văn bản Tòa án lập ngày 28/11/2025 “Biên bản làm việc”,
không phải Biên bản lấy lời khai của đương sự nên không theo trình tự, thủ tục
quy định tại Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong biên bản chữ của
G, T1 xóm ông Mai Văn N tên đóng dấu của Phó trưởng công an xã;
không tài liệu, chứng cứ chứng minh G ông N bị ép buộc hay lừa dối
ký vào văn bản. Biên bản làm việc ngày 28/11/2025 chỉ là một tài liệu, chứng cứ
trong các i liệu chứng cứ trong hồ ván. Nội dung của Biên bản làm
việc hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ Biên bản giao nhận Thông báo thụ
vụ án cho bà G, giấy vay tiền tại bút lục 37, 38 Kết luận giám định nên
giá trị chứng minh, không có căn cứ để hủy án sơ thẩm.
- Về nội dung: "Hết T7 nợ lại 1.600.000 đồng (Hậu trả cho) 1.500.000 nợ
lại 100, Hết 25/8, 25/8 n1.000.000, 25/9, 25/10/18 (5.900)” ghi tại cuối trang
giấy tại bút lục 37. Bên nguyên đơn và bên bị đơn đều xác định không có giấy tờ
về việc thanh toán nợ. Nội dung nêu trên không ràng, nguyên đơn bị đơn
đều không giải thích được ràng các nội dung, không chữ xác nhận của
ai trong đó nên không căn cứ để xác định nội dung nên không giá trị
chứng minh.
Từ các tài liệu, chứng cứ nhận định nêu trên, đủ căn cứ kết luận bản án
thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Vũ Văn H1, Trần
9
Thị D, buộc Nguyễn Thị G phải trả cho vợ chồng ông H1, bà D số tiền của 03
lần vay năm 2018 là: 134.768.000 đồng; trong đó ngốc 100.000.000 đồng
lãi 34.768.000 đồng là căn cứ, nên không chấp nhận kháng cáo của
Nguyễn Thị G mà giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 102/2026/DS-ST ngày
27/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình.
[3] Về án phí phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm
nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp
luật.
các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, thu nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Giữ nguyên Bản án thẩm s: 102/2026/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm
2026 ca Tòa án nhân dân khu vc 11 - Ninh Bình.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng,
được đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm G đã nộp, theo
Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0001504 ngày 04/5/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Bà G đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án (14/8/2026).
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự, quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự)./.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND khu vực 11;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
10
- TAND tối cao;
- Phòng TT-KTNV-THA;
- Lưu hồ sơ, Văn phòng Tòa án.
Nguyễn Tử Lượng
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 109/2026/DS-PT Bản án số 109/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 109/2026/DS-PT Bản án số 109/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất