Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT ngày 21/08/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Điện Biên
Số hiệu: 05/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T khởi kiện Bùi Thị H tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tranh chấp về cấp dưỡng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 05/2026/HN-PT
Ngày: 21/8/2026
V/v Tranh chấp chia tài sản chung của
vợ chồng sau ly hôn, tranh chấp về
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
ly hôn, tranh chấp về cấp dưỡng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Phương
Các Thẩm phán: bà Bùi Thị Thu Hằng
Ông Trương Anh Tuấn
- Thư phiên tòa: bà Ngô ThHnh - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: bà
Nguyễn Thị Ngọc Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên m
phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
05/2026/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2026 về Tranh chấp chia tài sản
chung của vợ chồng sau ly hôn, tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau ly hôn, tranh chấp về cấp dưỡng.
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 30/2026/DS-ST ngày
15/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2026/QĐ-PT ngày 08 tháng 7
năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 02/2026/QĐ-PT ngày
28/7/2026, Thông báo về việc thay đổi m lại phiên tòa số 04/TB-TA ngày
04/8/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1984; địa chỉ: Bản N,
phường M, tỉnh Điện Biên. Số Căn cước ng dân: ************, cấp ngày
18/9/2024, nơi cấp: Bộ Công an (Có mặt).
2. Bị đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Bản N, phường M, tỉnh
Điện Biên. Chỗ hiện nay: Số 72, đường 79, phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh. Số Căn cước công dân: ************ (Vắng mặt).
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Th H1, sinh năm
1961. Địa chỉ: Chung Ehomes D216, phường L, T phHồ Chí Minh. Chỗ
hiện nay: Số 72, đường 79, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Số Căn cước
2
công dân: ************, cấp ngày 24/10/2023, nơi cấp: Cục CSQLHC về
TTXH, Bộ Công an (Vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn chị Bùi Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/7/2025, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện
ngày 11/9/2025 các văn bản trình bày ý kiến của nguyên đơn trong quá
trình giải quyết vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, anh
Nguyễn Ngọc T trình bày:
Anh Nguyễn Ngọc T và chị Bùi Thị H kết hôn với nhau vào năm 2006, đến
năm 2014 anh và ch H ly hôn theo Quyết định giải quyết việc dân sự số
14/2014/QĐDS ngày 08/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ,
tỉnh Điện Biên. Tại Quyết định đã thể hiện, về con chung, anh được quyền trực
tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễni Phương T2 sinh ngày 30/9/2007.
Chị H được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T1 sinh
ngày 02/01/2013; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Mặc về tài sản chung anh T chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết
nhưng giữa anh chị H thỏa thuận bằng miệng với nhau. Chị Bùi Thị H
cùng con Nguyễn Minh T1 trên mảnh đất mà hai vợ chồng đứng ra mua của ông
Văn K tại bản N, phường N, thành phố Điện Biên Phủ, thời điểm đó chưa
sang tên chủ sở hữu cho anh chị H, thửa đất chiều rộng 10m mặt đường,
chiều u 25m. Tổng diện tích 250m
2
, trong đó 100m
2
đất ở. Trong thỏa
thuận anh T để lại hết tài sản diện tích đất trên cho chị H cháu T1, sau đó
chị H có trách nhiệm chuyển nhượng cho cháu Nguyễn Minh T1 ½ diện tích đất
nói trên (tức 5m đất mặt đường, chiều sâu 25m, trong đó 50m
2
đất ở,
tổng diện tích 125m
2
). Sau đó chị H đã không thực hiện theo thỏa thuận trên.
Khoảng 20 giờ đến 21 gingày 08/4/2024 chị H gọi điện cho anh T hỏi
anh “Có nuôi được cháu T1 không thì đón về, vì cháu T1 muốn lên với
bố”. Anh trả lời “Tôi về đón ngay”, trong điện thoại anh nghe tiếng cháu
T1 kc. Sau khoảng 10 đến 15 phút anh đến cổng nchị H đgọi con nhưng
không thấy cháu T1 trả lời sau đó chị H nói vọng ra đã đưa cháu T1 lên
trên nhà rồi. Anh T về nhà thì thấy mẹ anh đang ôm cháu T1, cháu T1 thì khóc
T1 hoang mang, hoảng sợ. Mẹ anh nói sự việc nghe cháu T1 gọi mở
cổng, cháu T1 nói mẹ cháu đánh cháu đuổi cháu đi, đồ đạc vất ngổn ngang
ngoài cổng nhà còn chị H không nói một lời phóng xe đi mất.
Anh T trấn an tinh thần và động viên cháu bình tĩnh tránh cho cháu hoảng
loạn thêm. Đến 00 giờ 10 phút ngày 09/4/2024 anh T mới nhận được tin nhắn
điện của chH là cho con lên để anh nuôi dưỡng và dạy dỗ, chị H nói không dạy
được cháu T1 nhờ anh nuôi dưỡng dạy bảo vì T1 đang ở tuổi dậy thì nên đưa lên
cho bố dạy nuôi dưỡng. Trong tin nhắn chị H nhắn mỗi tháng scung
cấp cho anh 1.000.000 đồng để anh lo trang trải cuộc sống cho cháu T1.
Từ ngày 08/4/2024 đến nay chị H không thực hiện chu cấp cho con; các
3
khoản đóng góp của ntrường, tiền học phụ đạo các môn, thiết bị học tập, đồ
dùng sinh hoạt hoàn toàn do anh T nộp. Anh T cũng nhiều lần yêu cầu chị H
có trách nhiệm với cháu T1 về các chi phí nhưng chị Bùi Thị H không thực hiện.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 03 năm 2026 và tại phiên tòa cấp
sơ thẩm:
- Anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu sau:
Yêu cầu về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Quyết định
giải quyết việc dân sự số 14/2014/QĐDS-ST ngày 08/7/2014 của Tòa án nhân
dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Giao con chung Nguyễn Minh T1
sinh ngày 02/01/2013 cho anh Nguyễn Ngọc T trực tiếp chămc và nuôi dưỡng
đến khi cháu T1 thành niên và có khả năng lao động.
- Anh T rút yêu cầu đối với các yêu cầu sau:
+ Yêu cầu về việc: Khi cháu T2 và cháu T1 chẳng may ốm đau bệnh trọng,
chị H phải chịu 1/2 chi phí khám chữa bệnh cho hai cháu.
+ Yêu cầu về việc: Chị H phải trách nhiệm trả phải chịu 1/2 chi phí xin
việc cho cháu T1 và cháu T2.
+ Yêu cầu về chia tài sản: thửa đất số 100 tờ bản đồ 30 địa chỉ thửa đất
bản N, Phường M (trước đây là phường N) tỉnh Điện Biên mang tên chị Bùi Thị
H 01 thửa đất số 101 từ bản đồ 30 địa chỉ thửa đất bản N, phường M (trước
đây là phường N) tỉnh Điện Biên mang tên bà Thị H1.
- Anh T thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:
+ Buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi cu Nguyễn Minh T1 với mức 5.000.000
đồng/01 tng. Thời điểm cấp ỡng từ ngày 08/04/2024 (Là ngày cháu T1 v
ng anh) cho đến khi cháu T1 thành niên khng lao động.
- Yêu cầu Chị H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Bùi Phương T2 sinh ngày
30/9/2007 với mức 5.000.000 đồng/01 tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ ngày
08/04/2024 (là ngày anh phải nuôi cả hai con chung) đến ngày 30/9/2025 (ngày
cháu T2 thành niên và có khả năng lao động).
Ngoài ra anh T yêu cầu: cháu Nguyễn Minh T1 được Thị H1 (bà
ngoại của cháu) tặng cho thửa đất số 101 cháu T1 đã được Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai khu vực 2 cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AA01860691 ngày 17/9/2025. Tuy nhiên, hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của cháu T1, chị H đang quản lý. Để tránh việc chị H tự ý chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của cháu T1 nên đề nghị HĐXX, sau khi xét xử sẽ gửi 01 bản
án sang Chi nhánh văn phòng đăng đất đai khu vực 2 để lưu trong hồ cấp
đất cho cháu T1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa cấp
sơ thẩm, bị đơn chBùi Thị H trình bày:
- Đối với yêu cầu thay đổi người cấp dưỡng nuôi con:
Anh Nguyễn Ngọc T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Giao con
4
chung Nguyễn Minh T1 sinh ngày 02/01/2013 cho anh T trực tiếp chăm sóc và
nuôi dưỡng. Quan điểm của chị H, chị mong muốn được nuôi con nhưng cháu
T1 đã 13 tuổi, việc cháu với ai sẽ do cháu lựa chọn, chị tôn trọng ý kiến của
cháu T1.
- Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Anh T yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi
02 con chung Nguyễn Minh T1 sinh ngày 02/01/2013 cháu Nguyễn Bùi
Phương T2 sinh ngày 30/9/2007 với mức cấp dưỡng cụ thể như thông báo thụ lý
vụ án số 35/TB-TLVA ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện
Biên. Quan điểm của chị về yêu cầu này như sau:
Theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 14/2014/QĐDS-ST ngày
08/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã
giao cháu Nguyễn Bùi Phương T2 cho anh T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng;
giao cháu Nguyễn Minh T1 cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tuy
nhiên sau khi có Quyết định của Tòa án đến khoảng tháng 9 năm 2014, anh T và
chị H lại quay về chung sống cùng nhau đnuôi dạy hai con chung nhưng anh
chị không đăng ký kết hôn lại. Khoảng tháng 12 năm 2022 anh chị không chung
sống cùng nhau nữa, anh T đã về với bố mẹ đẻ trên thửa đất mà năm 2018 sau
khi ly hôn đã mua chung xây nhà, còn 02 con chung vẫn do chị chăm sóc
nuôi dưỡng. Đến tháng 02 năm 2023 cháu T2 mới về cùng anh T còn cháu T1
vẫn do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Việc anh T yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi 02
con từ ngày 08/04/2024 đến ngày 08/8/2025 s tiền cấp dưỡng mỗi cháu
5.000.000 đồng/1 tháng. Tổng số tiền cấp dưỡng nuôi 02 cháu 10.000.000đ x
16 tháng = 160.000.000 đồng. Chị không nhất trí vì theo Quyết định của Tòa án,
anh T phải trách nhiệm nuôi cháu T2. Còn cháu T1 do hai mcon bất đồng
quan điểm về việc cháu không học bài nên chị có gọi điện và nhắn tin nhờ anh T
chăm sóc và dạy bảo cháu. Sau đó chị nhắn tin xin anh T cho lên đón con nhưng
anh T không cho đón. Chị yêu cầu sẽ hỗ trợ cho anh T để nuôi cháu T1 với
mức 1.000.000 đồng/1 tháng nhưng anh T khẳng định đủ khả năng điều
kiện để nuôi con không nhận tiền chị hỗ trợ. Nhiều lần chị nhắn tin xin được đón
cháu nhưng anh T cấm cản không cho chị gặp 02 con. Ngày 12/12/2024 chị
cháu T1 lên gặp trưởng bản bác Văn P nhờ bác giúp cho chị được đón
cháu T1 vnhưng do anh T yêu cầu chị phải trả cho anh T số tiền 50 triệu
đồng sang tên mảnh đất cho cháu T1 thì anh T mới cho đón cháu T1. Chị
cũng có nhắn tin cho anh T là chị sẽ hỗ trợ tiền nuôi cháu T1 trong thời gian anh
T nuôi cháu T1 2.000.000 đồng/tháng từ (ngày 08/04/2024 đến tháng
11/2024) nhưng anh T không nhận. Đến 28/5/2025 chị bác P trưởng bản lên
nhà anh T để xin đón cháu T1 nhưng gia đình anh T và vợ anh T không cho đón
cháu T1. vậy chị không đồng ý theo yêu cầu này của anh T, chưa có quyết
định của Tòa án buộc chị phải cấp dưỡng nuôi cháu T1 và cháu T2.
+ Đối với yêu cầu của anh T: Từ ngày 08/8/2025 đến ngày 08/8/2029 khi
cháu T2 học xong chuyên nghiệp, cấp dưỡng nuôi cháu T2 với mức 7.000.000
đồng/1 tháng; cấp dưỡng nuôi cháu T1 với mức 5.000.000/01 tháng. Quan điểm
của chị H ngày 30/9/2025 cháu T2 đã đủ 18 tuổi khả năng lao động
quyết định của Tòa án đã giao cho anh T nuôi dưỡng nên chị không nhất trí với
5
yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu T2. Chị H nhất trí cấp dưỡng cho cháu T1 từ ngày
quyết định của Tòa án với mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định cho đến khi
cháu T1 đủ 18 tuổi.
+ Đối với yêu cầu của anh T về việc cấp dưỡng nuôi cháu T1 từ ngày
09/8/2029 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi khả năng lao động cấp dưỡng với
mức 7.000.000 đồng/01 tháng. Quan điểm của chị H, chị sẽ cấp dưỡng cho cháu
T1 khi quyết định của Tòa án mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng vì
hiện nay chị đã thôi việc chưa có việc làm ổn định. Hàng năm chvẫn đóng bảo
hiểm cho cháu với mức 5.995.000 đồng/năm.
+ Đối với yêu cầu của anh T về việc: Khi cháu T2 và cháu T1 chẳng may ốm
đau bệnh trọng, anh T yêu cầu chH phải chịu 1/2 chi phí khám chữa bệnh cho hai
cháu. Đối với u cầu y chị H không nhất trí vì không ai mong muốn c cháu
ốm đau. Đây cũng là trách nhiệm chung nếu anh T không chăm sóc các cháu được
thì chsẽ có tch nhiệm ni các cháu.
+ Đối với yêu cầu của anh T về việc chị phải trách nhiệm phải chịu 1/2
chi phí xin việc cho cháu T1 cháu T2. Chị H không đồng ý đây hành vi
vi phạm pháp luật (hành vi đưa hối lộ).
- Đối với yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung: Chị H trình bày, anh
T chị tài sản chung gồm những tài sản là: 01 thửa đất số 100 tờ bản đồ 30
địa chỉ thửa đất bản N, phường M (trước đây là phường N) tỉnh Điện Biên mang
tên chị Bùi Thị H 01 thửa đất số 101 tờ bản đồ 30 địa chỉ thửa đất bản N,
phường M (trước đây là phường N) tỉnh Điện Biên mang tên bà Lê Thị H1.
- Năm 2010 chị anh T mua của ông Văn K 01 thửa đất vườn
diện tích 250m
2
, mặt đường 10m có địa chỉ bản văn hóa N, phường N
(nay là phường M) tỉnh Điện Biên trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh T. Khi
mua là đất vườn có giấy viết tay.
- Đến năm 2018 sau ly hôn anh chị về chung sống cùng nhau mua
một mảnh đất vườn tổng diện tích 312m
2
trong đó 12m đất mặt đường của
ông Hà Huy X và bà Trần Thị H với giá là 650.000.000 đồng. Nguồn gốc số tiền
mua đất chị anh T vay của mchị Thị H1 số tiền 250.000.000
đồng còn số tiền 400.000.000 đồng chị anh T mượn sổ đcủa em Đặng
Hữu N và em Đinh Thị M địa chỉ số nhà 87, tổ 10, phường M, T phố Điện Biên
Phủ (nay phường Điện Biên Phủ) em họ của anh T để thế chấp tại ngân
hàng BIDV chi nhánh Bản phủ để vay tiền mua đất.
Năm 2021 anh chị thỏa thuận làm sđỏ đối với thửa đất vườn diện tích
250m
2
mua của ông Văn K tách ra T 02 thửa (được tách ra từ sổ đỏ của
ông Văn H) thửa số 100 tờ bản đồ 30 địa chthửa đất bản N, Phường M
(trước đây là phường N) tỉnh Điện Biên mang tên Bùi Thị H 01 thửa đất số
101 tờ bản đồ 30 địa chỉ thửa đất bản N, phường M (trước đây là phường N) tỉnh
Điện Biên mang tên bà Thị H1 (là mẹ đẻ của tôi). Năm 2010 anh chị xây nhà
cấp IV trên diện tích đất thửa đất số 100. Năm 2021, anh chị xây nhà cấp IV
trên thửa đất số 101, tiền xây nhà trên thửa đất số 101 là do chị thế chấp thửa đất
6
số 100 để vay của ngân hàng BIDV chi nhánh tỉnh Điện Biên.
Cũng năm 2021 anh chị thỏa thuận làm sổ đỏ đối với thửa đất vườn có diện
tích 313m
2
mua của ông Huy X bà Trần Thị H ược tách ra từ sổ đỏ của
ông Thẩm Thiên H địa chỉ bản N, Phường M (trước đây phường N) tỉnh Điện
Biên) T 02 thửa thửa s292 diện tích 150,2m
2
mang tên Nguyễn Văn Kh
bố đẻ của anh T thửa số 294 diện tích 162,8m
2
mang tên anh Nguyễn
Văn T.
do anh chị tách T 04 thửa đất như trên là do thỏa thuận, chị được quyền
quản sử dụng 02 mảnh đất mang tên chị Thị H1 còn anh T được
quyền quản lý và sử dụng 02 mảnh đất mang tên anh T và ông Nguyễn Văn Kh.
Sau này khi 02 con chung cháu T2 cháu T1 đủ 18 tuổi thì ông Kh trách
nhiệm tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất mang tên ông Kh cho cháu
T2 còn bà H1 có trách nhiệm tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất mang
tên H1 cho cháu T1. Còn 02 thửa đất mang tên chị anh T ttài sản mang
tên ai sẽ của người đó. Đến tháng 7 năm 2025 ông Kh đã tặng cho cháu T2
quyền sử dụng đất mang tên ông Kh cho cháu T2 như đã thỏa thuận. Trong thời
gian anh T nộp đơn tại Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên, tháng 9/2025
mẹ chị là bà Lê Thị H1 đã tặng cho cháu T1 quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị
H1 cho cháu T1 như đã thỏa thuận trước đó. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AA01860691 mang tên cháu T1 chị H đang quản lý, chị sẽ giao lại
sổ đỏ cho cháu khi cháu đủ 18 tuổi.
* Quan điểm của chị H về yêu cầu chia tài sản chung giữa chị anh T đã
được thống nhất đã chia như thỏa thuận nên chị H không nhất trí chia lại tài
sản.
Tại biên bản ghi ý kiến của con chưa T niên ngày 05/01/2026, cháu
Nguyễn Minh T1 trình bày:
Cháu cùng với bố cháu bản N, phường M, tỉnh Điện Biên từ ngày
08/4/2024 đến nay. do cháu cùng bố mà không với mẹ theo quyết định
của Tòa án do như sau: Từ 08/7/2014 cháu cùng mẹ cháu nhưng đến
ngày 08/4/2024 do mẹ cháu đuổi cháu và bỏ cháu ở cổng nhà bố cháu là Nguyễn
Ngọc T n từ ngày 08/4/2024 cho đến nay cháu cùng bố cháu. Trong thời
gian cháu cùng mẹ cháu, mẹ cháu phải đi trực đêm nên không chăm sóc cháu
chu đáo được, mẹ cháu thỉnh thoảng mắng cháu. Ngày 08/4/2024 do cháu
không làm bài tập nên giáo đã thông báo cho mẹ cháu mẹ cháu đã đánh
cháu đưa cháu lên cổng nhà bố. Trong thời gian cháu cùng mẹ cháu thỉnh
thoảng mẹ cháu cũng đánh cháu do cháu không nhớ. Từ ngày 08/4/2024
đến nay mẹ cháu thỉnh thoảng hỏi thăm cháu 01 lần muốn đón cháu về,
cháu có đồng ý về nhưng bố cháu bảo đón cháu về thì phải có sự chứng kiến của
chính quyền sang tên cho cháu mảnh đất như bố mẹ cháu đã thỏa thuận
phải trả cho bố cháu tiền nuôi dưỡng cháu từ khi cháu về với bố đến khi m
cháu đón, số tiền 50.000.000 đồng/05 tháng. Cháu xuống nói chuyện 03
lần với mẹ cháu về việc mẹ sang tên mảnh đất và có trách nhiệm với cháu nhưng
mẹ không thực hiện và bảo đã bán mảnh đất đó. Từ đó đến nay cháu vẫn với
7
bố cháu. Nay bố cháu đơn đề nghị Tòa án xin thay đổi người trực tiếp nuôi
con, giao cháu cho bố cháu nuôi dưỡng. Quan điểm của cháu, cháu xin được
cùng bố để bố cháu chăm sóc và nuôi dưỡng cháu. Cháu không muốn ở cùng mẹ
cháu nữa.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng ncấp phúc thẩm,
Tòa án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vliên quan Thị H1,
nhưng bà Lê Thị H1 vẫn vắng mặt không do và không có ý kiến gửi Tòa án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 30/2026/HNGĐ-ST ngày 15/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên đã quyết định:
Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 39;
Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 69; 70;71; 72; 81, 82, 83, 84 Luật Hôn
nhân gia đình: Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
hướng dẫn áp dụng một số điều của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn
nhân và gia đình; khoản 1 Điều 147; khoản 3 Điều 218; 277 Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ việc giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn
Ngọc T đối với chị Bùi Thị H về các yêu cầu sau:
- Yêu cầu Bùi Thị H phải chịu 1/2 chi phí khám chữa bệnh cho hai con
chung Nguyễn Bùi Phương T2 cháu Nguyễn Minh T1 khi hai con chung ốm
đau bệnh trọng.
- Yêu cầu Bùi Thị H phải trách nhiệm trả phải chịu 1/2 chi phí xin việc
cho cháu Nguyễn Bùi Phương T2 và cháu Nguyễn Minh T1.
- Yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn thửa đất số 100 tờ bản đồ 30
địa chỉ thửa đất bản N, Phường M, tỉnh Điện Biên mang tên chị Bùi Thị H
thửa đất số 101 tờ bản đồ 30 địa chỉ thửa đất bản N, Phường M, tỉnh Điện Biên
mang tên bà Lê Thị H1.
2. Tuyên xử: Chấp nhận mt phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn
Ngọc T về yêu cầu:
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con: Giao con chung Nguyễn Minh T1 sinh
ngày 02/01/2013 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi ỡng đến khi cháu T1
trưởng thành và có khả năng lao động.
- Buộc chị Bùi Thị H nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh T1
với mức 2.500.000 đồng/01 tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ ngày 08/04/2024
cho đến khi cháu T1 thành niên kh năng lao động. Phương thức cấp
dưỡng được thực hiện như sau:
+ Phương thức cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh T1 từ tháng 4 năm 2024
đến tháng 5 năm 2026 được thực hiện một lần với số tiền cấp dưỡng là
65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
8
+ Phương thức cấp dưỡng định kỳ theo tháng từ tháng 5 năm 2026 đến khi
cháu Nguyễn Minh T1 thành niên và có khả năng lao động.
- Buộc chị Bùi Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Bùi Phương
T2 sinh ngày 30/9/2007 với mức 2.500.000 đồng/tháng thời điểm cấp dưỡng từ
ngày 08/04/2024 đến ngày 30/9/2025. Phương thức cấp dưỡng được thực hiện 1
lần là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí quyền kháng
cáo của các đương sự.
Sau khi t xử thẩm, bị đơn ch Bùi ThH đơn kháng cáo: Sửa một
phần Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 30/2026/HN-ST ngày 15
tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên: không chấp
nhận yêu cầu của anh Nguyễn Ngọc T về việc buộc chị Bùi Thị H phải cấp
dưỡng nuôi cháu Nguyễn Bùi Phương T2 trong thời gian từ ngày 08/4/2024 đến
ngày 30/9/2025, cấp dưỡng một lần với số tiền 45.000.000 đồng; Không chấp
nhận yêu cầu của anh Nguyễn Ngọc T về việc buộc chị Bùi Thị H phải cấp
dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh T1 trong thời gian ttháng 04/2024 đến tháng
05/2026, tương ứng với 26 tháng, cấp dưỡng một lần với số tiền 65.000.000
đồng; Sửa đổi mức cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh T1, giảm xuống mức
hợp lý, cụ thể là 2.070.000 đồng/tháng.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về việc
tuân theo pháp luật và việc giải quyết vụ án:
- Việc chp hành pp luật tố tng của Thm phán, Hội đồng xét x, Thư và
người tham gia t tụng đúng và đầy đtheo quy đnh của Bộ lut Ttụng n sự.
- Về nội dung vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc chị H nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi cháu T1 từ tháng 4/2024 đến tháng 5/2026, thực hiện một lần với
tổng số tiền 65.000.000 đồng, chị H kháng cáo không chấp nhận. Theo quy định
tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị
quyết 01 ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, quy định nghĩa vụ cấp dưỡng
của cha mẹ đối với con chưa T niên phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không
sống chung với con. Tại Quyết định của Tòa án năm 2014 thể hiện anh T nuôi
cháu T2, chị H nuôi cháu T1, không bên nào phải cấp dưỡng cho bên nào. Từ
ngày 08/4/2024 cháu T1 đến cùng anh T, theo nguyện vọng của cháu, chị H
cũng tôn trọng quyết định của con, mọi chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của
cháu T1 do anh T chi trả nên chị H phải trách nhiệm cấp dưỡng để nuôi
cháu T1 cùng với anh T, mức cấp dưỡng Tòa án cấp thẩm xác định
2.500.000 đồng/tháng phù hợp với mức nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của cháu.
Như vậy không có cơ sở để xem xét sửa bản án sơ thẩm ở nội dung này.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc chH nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cu T1
với mức 2.500.000 đồng/tng, ch H kháng o đề nghgiảm mức cấp ỡng
nuôi cháu T1 xuống n 2.070.000 đồng/tháng, bằng ½ mức lương tối thiểu vùng.
Theo ớng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01 ngày 16/5/2024 quy định tiền
9
cấp ỡng cho con toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con, mức
cấp dưỡng n co thu nhập, khả ng thực tế của nời có nghĩa vụ cấp dưỡng
nhu cầu thiết yếu của người được cấp ỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết
định nhưng không thấp n một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp
dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Tại Nghị định 239 ngày
10/11/2025 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm theo hợp
đồng lao động tại ng III i chị H trú 4.140.000.000 đng. Từ trước
01/01/2026 chị H mức thu nhập ổn định là hơn 12 triệu đồng/tháng, chị cũng có
i sản giá trị nhà đất. Việc cấp thẩm buộc chị H cp ỡng mức
2.500.000 đồng/tháng đối với cháu T1 phù hợp, không sở để giảm mức
cấp dưỡng nuôi con theo kháng cáo của chị H.
Tòa án cấp thẩm tuyên buộc chH cp ỡng nuôi cu T2 t08/4/2024
đến 30/9/2025 với số tiền 2.500.000 đồng/tháng, thực hiện một lần với tổng số tin
45.000.000 đồng, chị H kháng cáo không chp nhận cấp dưng đối với nội dung
y có căn c. Vì khi anh chị ly n Tòa án giao cho anh T trực tiếp trông nom,
chămc, giáo dục, ni dưng cu T2 cho đến khi đủ tui T niên, giao cho chị H
trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi ng cu T1 không n o phải cấp
ng cho bên o. Vậy việc ni cu T2 là nghĩa vụ riêng của anh T, chị H
không phải cp dưỡng, ngi ra anh chị cũng không có thoả thun khác về việc cấp
ng hay yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp ỡng nhưng T án cp sơ thẩm
tun buộc chH phải cấp dưỡng nuôi cháu T2 từ 08/4/2024 đến 30/9/2025 khi
cháu T2 đủ 18 tuổi không sở, nên chấp nhận nội dung kháng o này của
chH.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ
luật Tố tụng dân s, sửa một phần Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số
30/2026/HNGĐ-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện
Biên. Cụ thể chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Bùi Phương
T2 sinh ngày 30/9/2007 với mức 2.500.000/tháng thời điểm cấp dưỡng tngày
08/4/2024 đến 30/9/2025, phương thức cấp dưỡng được thực hiện 01 lần với số
tiền cấp dưỡng 45.000.000 đồng. Còn những nội dung khác trong quyết định
của bản án thẩm cần đưc ginguyên.
Ván phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 B luật Ttụng dân sự; khoản
2 Điều 29 Nghquyết 326 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội, bị đơn kng cáo đưc
chấp nhận một phần n không phi chịu án phí n sự pc thẩm. Chi ThH
được trả lại stiền 300.000 đồng đã nộp theo Bn lai thu tạm ứng án phí, lphí a
án s0000361 ny 04/6/2026 của Thi hành án n stỉnh Điện Biên.
Tại phiên tòa thẩm, b đơn i Thị H đơn xin xét xử vắng mặt
nhưng Hội đồng xét xử thẩm không công bố lời khai, tài liệu chứng cứ mà bị
đơn đã giao nộp là vi phạm điểm a khoản 1 Điều 254 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do
đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên nhắc nhở, rút kinh nghiệm trong bản
án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào i liệu, chng cứ đã được kim tra, xem xét tại phn a, ý kiến
10
của Kiểm t viên, c quy đnh của pháp luật, Hội đồng xét xử pc thẩm thấy rng:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ
trong hồ sơ vụ án: Xác định tranh chấp giữa nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc T
và bị đơn chị Bùi Thị H là tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng sau khi
ly hôn, tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tranh chấp về
cấp dưỡng, theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Về thẩm quyền: Xét thấy bị đơn chị Bùi Thị H, địa chỉ bản N, pờng M, tỉnh
Điện Biên; căn cĐiều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng n sự m
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên thụ lý,
giải quyết, xét x vụ án có n cứ.
[2] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị H:
Sau khi xét xử thẩm, bị đơn chị Bùi Thị H gửi đơn kháng cáo đối với
Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 30/2026/HNGĐ-ST ngày 15/5/2026
của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên. Việc kháng cáo được thực hiện
trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo quyền kháng cáo phù hợp với
quy định của pháp luật, bị đơn đã nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm, như vậy
việc kháng cáo của chị Bùi Thị H hợp lệ, đúng theo quy định tại các Điều
271, 272, 273 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét đơn kháng cáo của bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê ThH1 được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ lần 2 nhưng vắng mặt không do; người kháng o bị
đơn chị Bùi Thị H đơn xin xét x vng mặt. Hội đồngt xử căn cquy định tại
khoản 3 Điều 296 Bluật Ttụng n sự, tiến hành t xử vắng mặt người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị H1 bđơn chi Thị Hoà.
[4] Về nội dung
[4.1] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị H, Hội đồng xét xử
phúc thẩm thấy rằng:
Theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 14/2014/QĐDS-ST ngày
08/7/2014 của Tòa án nhân dân T phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã có hiệu
lực pháp luật, anh Nguyễn Ngọc T người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu
Nguyễn Bùi Phương T2, sinh ngày 30/9/2007; chị Bùi Thị H người trực tiếp
chăm c, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 02/01/2013; các bên
không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người con do bên còn lại trực
tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, các đương sự thời gian quay lại chung sống với nhau
nvợ chồng nhưng không đăng kết hôn lại; đến cuối năm 2022 thì chấm
dứt việc chung sống. Theo lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án, từ tháng 02/2023 cháu Nguyễn Bùi Phương T2 chuyển đến
11
sinh sống cùng anh T; đến ngày 08/4/2024 cháu Nguyễn Minh T1 cũng chuyển
sang cùng anh T. Kể từ thời điểm này, trên thực tế anh T người trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung.
Đối với yêu cầu buộc chị H cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Bùi
Phương T2 trong thời gian từ ngày 08/4/2024 đến ngày 30/9/2025, Hội đồng
xét xử xét thấy:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 82, các Điều 107, 110 Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho
con chưa T niên hoặc con đã T niên nhưng không khả năng lao động, không
tài sản đtự nuôi mình. Nghĩa vụ cấp dưỡng nghĩa vụ do pháp luật quy
định nhằm bảo đảm điều kiện thiết yếu cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập
phát triển của người được cấp dưỡng trong thời gian họ cần được nuôi
dưỡng; việc thực hiện nghĩa vụ này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người con chứ không nhằm bù đắp hay hoàn trả các khoản chi phí mà người trực
tiếp nuôi con đã tự nguyện bỏ ra trong quá khứ, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác hoặc có căn cứ chứng minh người có nghĩa vụ cố ý trốn tránh việc cấp
dưỡng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được cấp dưỡng.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải có nghĩa vụ đưa
ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó căn cứ hợp pháp. Căn cứ
vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng từ
tháng 02/2023 đến ngày 30/9/2025 anh T người trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng cháu T2; trong suốt thời gian này anh T đã chủ động bảo đảm đầy đủ các
điều kiện về ăn ở, học tập, sinh hoạt cho cháu T2 và không có tài liệu, chứng cứ
nào thể hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cháu bị ảnh hưởng do chị H không thực
hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Đồng thời, hồ vụ án cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh trong
khoảng thời gian nêu trên anh T đã yêu cầu chị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
đối với cháu T2 nhưng chị H từ chối hoặc cố ý không thực hiện; cũng không có
căn cứ xác định chị H hành vi trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc t bỏ
trách nhiệm đối với cháu T2. Chỉ đến khi khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Minh T1, anh T mới đồng thời yêu cầu chị H
phải cấp dưỡng đối với cháu T2 cho khoảng thời gian từ ngày 08/4/2024 đến
ngày 30/9/2025.
Hội đồng xét xử xét thấy Quyết định giải quyết việc dân sự số
14/2014/QĐDS-ST ngày 08/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên
Phủ đã xác định anh T người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 quyết định này
đã được các bên thực hiện ổn định trong thời gian dài. Việc sau khi các bên
chấm dứt việc chung sống, cháu T2 tiếp tục cùng anh T không làm phát sinh
một quan hệ pháp luật mới về người trực tiếp nuôi con đối với cháu T2. Trong
thời gian trực tiếp nuôi dưỡng cháu, anh T đã tự nguyện thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ của người trực tiếp nuôi con không yêu cầu chị H thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng. Đến thời điểm cháu T2 đã T niên mới yêu cầu chị H thanh toán khoản
12
cấp dưỡng đối với khoảng thời gian từ ngày 08/4/2024 đến ngày 30/9/2025
không phù hợp với quy định về cấp dưỡng của Luật Hôn nhân gia đình.
vậy, không căn cứ để chấp nhận yêu cầu buộc chị H cấp dưỡng đối với cháu
Nguyễn Bùi Phương T2 trong thời gian từ ngày 08/4/2024 đến ngày 30/9/2025.
Đối với yêu cầu buộc chị H cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Minh T1,
Hội đồng xét xử thấy rằng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của
các đương sự, nội dung tin nhắn giữa hai bên ng như lời trình bày của cháu
Nguyễn Minh T1 đều thể hiện từ ngày 08/4/2024 cháu T1 chuyển sang sinh sống
ổn định cùng anh T. Chị H cũng thừa nhận đã giao cháu T1 cho anh T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng và sau đó nhiều lần đề nghị được đón cháu về nhưng không
thực hiện được do các n không thống nhất được với nhau. Mặt khác, cháu
Nguyễn Minh T1 nguyện vọng tiếp tục với anh T Tòa án cấp thẩm đã
giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng có căn cứ, phù hợp với quy định
tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình.
Kể từ ngày 08/4/2024, chị H người không trực tiếp nuôi con nên theo
khoản 2 Điều 82, các Điều 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị
H nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh T1. Việc Tòa án cấp thẩm
buộc chị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ thời điểm anh T trực tiếp nuôi
dưỡng cháu T1 là phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên.
Về mức cấp dưỡng, Tòa án cấp thẩm xác định mức 2.500.000
đồng/tháng trên sở xem xét nhu cầu thiết yếu của cháu T1 phù hợp với độ
tuổi, điều kiện học tập, sinh hoạt thực tế tại địa phương khả năng kinh tế của
chị H. Tại cấp phúc thẩm, chị H kháng cáo đnghị giảm mức cấp dưỡng xuống
còn 2.070.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng mức cấp dưỡng ng
tháng Tòa án cấp thẩm đưa ra phù hợp với điều kiện kinh tế hoàn
cảnh của chị Hoà cũng như đúng quy định của pháp luật về việc cấp dưỡng nuôi
con chưa T niên. Do đó, không căn cứ để chấp nhận yêu cầu giảm mức cấp
dưỡng của chị H.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận một
phần kháng cáo của chị Bùi Thị H, sửa Bản án hôn nhân gia đình thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Ngọc T về việc buộc chị
Bùi Thị H cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Bùi Phương T2 trong thời gian từ
ngày 08/4/2024 đến ngày 30/9/2025; giữ nguyên phần bản án sơ thẩm về việc
giao cháu Nguyễn Minh T1 cho anh Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng
buộc chị Bùi Thị H nghĩa vcấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Minh T1 với
mức 2.500.000 đồng/tháng, kể từ ngày 08/4/2024 cho đến khi nghĩa vụ cấp
dưỡng chấm dứt theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Tại phiên tòa thẩm, bị đơn Bùi Thị H đơn đnghị xét xử vắng
mặt. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm không ng bố lời khai, tài liệu, chứng
cứ do bị đơn giao nộp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 254 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Đây là vi phạm tố tụng của Tòa án cấp thẩm, cần nghiêm túc rút
kinh nghiệm.
13
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ
luật Tố tụng n sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do Bản án Hôn
nhân gia đình thẩm số 30/2026/HNGĐ-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực X - Điện Biên bị sửa, nên bị đơn chị Bùi Thị H không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho chị Bùi Thị H stiền 300.000
đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000361 ngày
04/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; khoản 3 Điều 296; khoản 2 Điều 148
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 119 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
n cứ khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 6 Điu 27; khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ny 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, np, quản sử dụng án phí, lệ p Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị H.
2. Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 30/2026/HNGĐ-
ST ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên.
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc
T về việc buộc chị Bùi Thị H cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Bùi
Phương T2, sinh ngày 30/9/2007, trong thời gian từ ngày 08/4/2024 đến ngày
30/9/2025.
2.2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn
Ngọc T.
Giao con chung cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 02/01/2013 cho anh
Nguyễn Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến
khi cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Chị Bùi Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung,
không ai được cản trở việc thực hiện quyền này. Trường hợp việc thăm nom ảnh
hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo u
cầu của người trực tiếp nuôi con hoặc nhân, quan, tổ chức thẩm quyền,
Tòa án sẽ xem xét hạn chế quyền thăm nom theo quy định của pháp luật.
14
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con
- Buộc chị Bùi Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn
Minh T1 với mức 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng, kể từ
ngày 08/4/2024 cho đến khi cháu Nguyễn Minh T1 T niên, có khả ng lao động
hoặc có sthay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:
+ Đối với thời gian từ ngày 08/4/2024 đến hết tháng 5/2026, chị Bùi Thị H
phải thanh toán một lần số tiền cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh T1
65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
+ Kể từ tháng 6/2026, chị Bùi Thị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ
ng tháng s tiền 2.500.000 đồng/tháng cho cháu Nguyễn Minh T1 đến khi
nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.
(Hai khoản tiền này giao cho anh Nguyễn Ngọc T người trực tiếp nuôi
cháu Nguyễn Minh T1 nhận).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Bùi
Thị H chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền cấp dưỡng phải thi hành
một lần nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với stiền chậm thi hành
theo quy định tại khoản 2 Điều 357 khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành.
Khi căn cứ theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền yêu cầu
Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy
định tại các Điều 84 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Các quyết định khác của Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
30/2026/HNGĐ-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực X - Điện Biên
không kháng cáo, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí:
4.1. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy
định về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án p, lphí Tòa án:
- Anh Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm đối
với phần yêu cầu buộc chị Bùi Thị H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Bùi Phương
T2 không được Tòa án chấp nhận.
Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 11.300.000 đồng anh Nguyễn Ngọc T
đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000067 ngày 16/9/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Điện Biên; hoàn trả lại cho anh Nguyễn Ngọc T số tiền
11.000.000 đồng.
- Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sthẩm đối với yêu
cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con được Tòa án chấp nhận 300.000 đồng
15
án phí dân sự thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh T1,
tổng cộng số tiền là 600.000 đồng.
4.2. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn chị Bùi Thị H không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho chị Bùi Thị H số tiền 300.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000361 ngày 04/6/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Điện Biên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự năm 2025.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
21/8/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- VKSND khu vc 2 - Điện Biên;
- TAND khu vực 2 - Đin Biên;
- THADS tỉnh Điện Biên;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT Bản án số 05/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất