Bản án số 123/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 123/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 123/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 123/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Bản khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 123/2026/DS-PT Bản án số 123/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 123/2026/DS-PT Bản án số 123/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 123/2026/DS-PT
Ngày: 05/8/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Diễn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho
Hoàng Thị Mai Hạnh
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 05/8/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mphiên tòa
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 79/2026/TLPT-DS ngày 09 tháng 7 năm
2026, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm s32/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 129/2026/QĐ-PT ngày
16/7/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngô Thị B, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn K, N, tỉnh
Quảng Ngãi.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị
Thúy H Trợ giúp viên pháp thuộc Trung tâm T; địa chỉ: Số B đường B,
phường K, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Y K, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn K Nay S, phường K, tỉnh
Quảng Ngãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị H1, sinh năm 1961; địa
chỉ: Số A N, phường K, tỉnh Quảng Ngãi.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ngô Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
1. Tại Đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và
tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Ngô Thị B trình
bày:
Trong năm 2020, Ngô Thị B cho Y K vay stiền tổng cộng
200.000.000 đồng có viết giấy vay tiền đề ngày 22/7/2020 (giấy bị xé rách một
góc), bà B đã khởi kiện Y K đối với số tiền này và được giải quyết tại bản án
dân sự sơ thẩm s47/2024/DS-ST ngày 12/11/2024 của TAND thành phố Kon
Tum, tỉnh KonTum (Nay là TAND khu vực 7 – Quảng Ngãi).
Ngoài ra cũng trong năm 2020, bà Ngô Thị B có đưa cho bà Võ Thị H1 tổng
số tiền 200.000.000 đồng, mục đích để xin việc cho con trai của nhưng sợ
H1 không trả lại tiền khi không xin được việc nên nhờ Y K đứng giùm
trong giấy nợ. vậy, vào ngày 22/7/2020, Thị H1 viết giấy nhận của
Y K số tiền 200.000.000 đồng, đây chính stiền mà đã đưa cho
Thị H1 để xin việc đồng thời B cũng yêu cầu bà Y Kian viết cho một giấy
vay tiền thể hiện Y K vay của số tiền 200.000.000 đồng. Đến ngày
26/4/2021, bà Y K viết giy y quyn cho B đòi n bà H1. Do đó, năm 2025
B khởi kiện yêu cầu Thị H1 trả số tiền 200.000.000 đồng đã nhận
tiền lãi; tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị H1 bà Y K thông
đồng với nhau nên Y K đã huỷ giấy uỷ quyền về việc y quyn cho bà B đòi
n bà H1 nên Toà án đã không chấp nhận đơn khởi kiện của bà đối với bà Võ Thị
H1.
Nay bà Ngô Thị B khỏi kiện, yêu cầu bà Y K trả tổng s tiền gốc
200.000.000 đồng đã đưa cho Thị H1 nhờ Y K đứng giùm
trong giấy nhận nợ yêu cầu bà Y K trả tiền lãi 15%/năm tính từ ngày chốt
nợ 22/7/2020 đến ngày xét x là 174.415.000 đng. Tng s tin gc và lãi tính
đến ngày xét x 15/5/2026 là 374.415.000 đồng.
2. Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn bà Y K trình bày:
Y K yêu cầu bà Ngô Thị B cung cấp giấy gốc, giấy vay tiền giữa Ngô
Thị B Y K của vụ án này. theo bản án dân sự thẩm số 47/2024/DS-ST
ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum (Nay TAND khu
vực 7 – Quảng Ngãi) thì bà đã trả cho bà Ngô Thị B số tiền là 200.000.000 đồng.
Những tài liệu chứng cứ mà bà Ngô Thị B sử dụng để khởi kiện trong vụ án này
đã sử dụng để khởi kiện trong vụ án theo bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-
ST ngày 12/11/2024 bản án Ngô Thị B khởi kiện Thị H1
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản án số 85/2025/DSPT ngày1 7/11/2025
của TAND tỉnh Quảng Ngãi, bà B dựa vào giấy ủy quyền của bà để khởi kiện bà
H1 số tiền 200.000.000 đồng nhưng không được Tòa án chấp nhận, đã trả
cho bà B theo bản án số 47/2024/DS-ST ngày 12/11/2024.
3
Từ những lý do trên bà Y K đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án thụ lý
số 25/2026/TLST-DS ngày 27/01/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản” theo đơn khởi kiện của bà Ngô Thị B.
Đối với số tiền mà Thị H1 nhận nợ cho bà theo bản án số
85/2025/DSPT ngày17/11/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi và Võ Thị H1 đã
viết giấy mượn tiền ngày 05/12/2025 đã trình bày trong đơn yêu cầu phản
tố ngày 08/02/2026 thì bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, để bà
Thị H1 tthỏa thuận nếu sau này tranh chấp thì sẽ yêu cầu giải
quyết sau.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1 trình bày:
Trước đây bà có mượn bà Ngô Thị B số tiền 170.000.000 đồng và mượn bà
Y K 30.000.000 đồng; đến ngày 22/7/2020 thì bà B chuyển ncủa bà cho Y K
viết giấy nợ cho bà Y K còn Y K viết giấy nợ cho B đều ghi số tiền
nợ 200.000.000 đồng cùng ngày 22/7/2020; B đã khởi kiện Y K
được Toà án chấp nhận sau đó kiện bà và nay lại kiệnY K nên bà không đồng
ý với yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị B.
4. Bản án dân sự thẩm số 32/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Quảng Ngãi đã tuyên xử:
Không chp nhận toàn bộ đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2025, được thay đổi
một phần yêu cầu khởi kiện về tính tiền lãi của nguyên đơn bà Ngô Thị B về việc
yêu cầu bị đơn Y K tr số tiền gốc 200.000.000 đồng và tin lãi từ ngày chốt
nợ 22/7/2020 đến ngày xét xử thẩm 174.415.000 đồng. Tổng cộng gốc, lãi
là 374. 415.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự.
5. Sau khi xét xử thẩm, các ngày 26/5/2026, nguyên đơn Ngô Thị B
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Sửa bản án thẩm số
32/2026/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Quảng Ngãi, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn NThị B, buộc
Y K trả lại cho Ngô Thị B số tiền gốc 200.000.000 đồng tiền lãi 15%/năm;
tiền lãi số tiền 200.000.000 đồng tính từ ngày 22/7/2020.
6. Ý kiến của Đi diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa các đương sự tuân thủ
đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến phiên tòa xét xử
vụ án.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án và diễn biến công khai tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn Ngô Thị B; giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thời hạn kháng cáo, hình thức nội dung đơn kháng cáo đúng quy
định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên đơn kháng cáo của
Ngô Thị B được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, bà Ngô Thị B, Nguyễn Thị Thúy H2 có mặt; bị đơn
Y K người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1 có Đơn đề nghị
xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo nguyên đơn trình bày năm 2020 cho Y K vay số tiền
200.000.000 đồng, bà đã khởi kiện bà Y K đối với số tiền này và được giải quyết
tại bản án dân sự thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 12/11/2024 của TAND thành
phố Kon Tum, tỉnh KonTum (Nay là TAND khu vực 7 Quảng Ngãi). Ngày
22/7/2020, H1 viết giấy nhận tiền của Y K số tiền 200.000.000 đồng, đây
chính số tiền B đã đưa cho H1 để xin việc, nhưng bà B nhờ Y K
đứng giùm trong giấy nợ.
Trong quá trình giải quyết, bà K xác định chỉ nợ bà B số tiền 200.000.000
đồng đã được giải quyết tại Bản án thẩm số 47/2024/DS-ST ngày
12/11/2024, ngoài ra không còn nợ khoản nào của bà B.
Như vậy, xác định Y K chỉ vay B số tiền 200.000.000 đồng đã
được giải quyết tại Bản án sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 12/11/2024. Đối với
giấy vay tiền đề ngày 22/7/2020 B sử dụng để khởi kiện Y K trong vụ
án này hợp đồng giả tạo, không quan hvay mượn tiền. B cũng không
tài liệu, chứng cứ chứng minh đưa cho Y K số tiền 200.000.000 đồng
nào khác ngoài số tiền đã được giải quyết tại Bản án sơ thẩm s47/2024/DS-ST
ngày 12/11/2024.
Ngoài trình bày nêu trên, nguyên đơn không tài liệu, chứng cứ chứng
minh về trình bày của mình trình bày của nguyên đơn không được bà Y K và
H1 thừa nhận.
[3] Như đã nhận định trên tTòa cấp thẩm đã giải quyết vụ án căn
cứ đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được chứng
cứ nào mới để chứng minh cho việc kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo ca nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sphúc thẩm: B người cao tuổi đơn đề nghị miễn
án phí hợp lệ nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà B.
[5] Đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
không phù hợp với nhận định ca Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định ca Hội đồng xét xử.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật ttụng dân sự; Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án, tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị B; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 32/2026/DS-ST ngày 15/5/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 7 - Quảng Ngãi.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Ngô
Thị B.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 7 - Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 7 - Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 7 - Quảng
Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Công Diễn
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
Nguyễn Văn Pho Hoàng Thị Mai Hạnh
Nguyễn Công Diễn
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 7 - Quảng
Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 7 -
Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Công Diễn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 123/2026/DS-PT Bản án số 123/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 123/2026/DS-PT Bản án số 123/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất