Bản án số 484/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 484/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 484/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 484/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Đặng Ngọc Bình và bà Nguyễn Thị Bích Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thị Huê, Thư ký viên của Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Viết Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 42/2025/TLPT-DS ngày 28
tháng 5 năm 2025 về việc“Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng hiệu; tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tranh chấp đòi lại tài sản
quyền sử dụng đất”,
Do Bản án dân sự thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 21-4-2025 của Tòa án
nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (nay Tòa án nhân dân khu vực 8
Lâm Đồng) bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 60/2025/QĐ-PT ngày
29 tháng 05 năm 2025; các Quyết định hoãn phiên tòa; Quyết định tạm ngừng
phiên tòa, gia các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nông Văn C, sinh năm 1958; CCCD: ************,
cấp ngày 12/8/2021 và bà Dương Thị K; sinh năm 1958; CCCD: ************,
cấp ngày 12/8/2021; cùng địa chỉ: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bùi Thị D, sinh năm:
1982; CCCD: ************, cấp ngày 15/6/2021; địa chỉ: Thôn A, Đ, tỉnh
Lâm Đồng Có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Bùi Thế H, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 484/2026/DS-PT
Ngày 18-8-2026
V/v “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu; tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tranh chấp đòi
tài sản là quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
phố B, tỉnh Đắk Lắk; tổ dân phố C, phường B, tỉnh Đắk Lắk đơn đề nghị
xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Quang C1, sinh năm: 1981; CCCD: ************ cấp
ngày 15/01/2021 và Lưu Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn A, Đ, tỉnh
Lâm Đồng Ông C1 có mặt, bà L vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Lưu Thị L: Ông Nguyễn Quang C1,
sinh năm: 1981; CCCD: ************ cấp ngày 15/01/2021; địa chỉ: Thôn A,
xã Đ, tỉnh Lâm Đồng Có mặt.
3. Ông Hoàng Tuấn A, sinh năm: 1976; CCCD: ************, cấp ngày
16/10/2022; địa chỉ: Số I, đường B, phường P, thành phố Hồ Chí Minh Có
mặt.
Địa chỉ liên hệ: Số nhà D đường D, phường P, thành phố Hồ Chí Minh
(SĐT 0983.073.907)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đào Ngọc M,
sinh năm: 1988; địa chỉ: Số H, đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk đơn đề
nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C2; địa chỉ: Số A H,
xã T, tỉnh Lâm Đồng Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nông Văn C và bà Dương Thị K.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil,
tỉnh Đắk Nông (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nhận ngày 24/11/2021, lời khai trong quá trnh gii
quyt v án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nông Văn C
và bà Dương Thị K là ông Đồng Văn N trình bày:
Ông Nông Văn C Dương Thị K hợp đồng ủy quyền cho ông
Bùi Thế H thay mặt ông C, bà K trả nợ cho Ngân hàng TMCP T3 - Chi nhánh Đ
thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp 03 thửa đất, gồm:
Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 47, diện tích 11.491m2, được Uỷ ban nhân dân
(UBND) huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất (GCNQSDĐ), quyền
sở hu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL116846 ngày 13/12/2012; thửa đất
số 79, tờ bản đồ số 32, diện tích 20.000m2, được UBND huyện Đ cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà tài khác gắn liền với đất số BY 061358 cấp
ngày 21/08/2015 thửa đất số 105, tờ bản đồ số 32, diện tích 11.444m
2
, được
UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà tài khác gắn liền với
đất số BD 969803 cấp ngày 03/3/2011, các thửa đất đều toạ lạc tại Đ, huyện
Đ, tỉnh Đắk Nông.
Tuy nhiên, ông Bùi Thế H đã giả mo ch ca ông Nông Văn C, bà
Dương Thị K trong “Hợp đồng y quyn” ngày 04/11/2020 s công chng
11506, quyn s 05/2020 ngày 04/11/2020 ti Văn phòng C3, ngày 22/11/2021,
ông H đã lợi dng vic y quyn này t ý t h vay thế chp ti Ngân hàng
TMCP T3 - Chi nhánh Đ xóa thế chp và chuyển nhưng cho ông Hoàng Anh T
thửa đất s 79, t bản đ s 32; chuyển nhượng cho ông Nguyn Quang C1 và
3
Lưu Thị L 02 thửa đất s 33, t bản đồ s 47 và thửa đất s 105, t bản đồ s
32. Các hợp đồng chuyển nhượng đều được công chng ti Văn phòng C2. Vic
ông H t ý chuyển nhượng các thửa đất trên cho ông Nguyn Quang C1, bà Lưu
Th L ông Hoàng Tun A nhưng ông Nông Văn C, Dương Thị K không
biết cũng không đồng ý, gây thit hại cho ông bà. Do đó, ông Nông Văn C,
Dương Thị K khi kin yêu cu Toà án gii quyết: Tuyên hợp đng chuyn
nhưng quyn s dụng đất tài sn gn lin với đất đối vi thửa đất s 79, t
bản đồ s 32 gia ông Bùi Thế H vi ông Hoàng Tun A đưc văn phòng C2
công chng ngày 22/11/2021 hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đt
đối vi thửa đất s 33, t bản đồ 47 và thửa đất s 105, t bản đồ s 32 gia ông
Bùi Thế H vi ông Nguyn Quang C1, Lưu Thị L đưc văn phòng C2 công
chng ngày 22/11/2021 hiu do gi to không yêu cu gii quyết hu qu
ca hợp đồng.
Quá trình gii quyt v án, b đơn ông Bùi Th H trình bày:
Trước đây, ông Bùi Thế H làm nhân viên ca Ngân hàng TMCP T3 (gi tt
là ngân hàng), chi nhánh Đ. Trong quá trình làm vic ti Ngân hàng, ông có làm
h cho vay đi vi khách hàng Nông Văn C Dương Th K, khon vay
800.000.000đồng (T1 trăm triệu đồng), vay trong 05 năm. Ông Nông Văn C, bà
Dương Thị K thế chp 03 thửa đất gm: thửa đất s 79, t bản đồ s 32; thửa đất
s 33, t bản đồ s 47; thửa đất s 105, t bản đồ s 32. 03 thửa đất đu to lc
ti Đ, huyện Đ. Trong quá trình vay, ông Nông Văn C, Dương Thị K vi
phạm nghĩa vụ tr n định k nên Ngân hàng chuyn toàn b s tin vay ca
ông Nông Văn C, Dương Thị K sang quá hn và x lý tài sn thế chấp đ thu
hi n. Ông Nông Văn C, Dương Thị K u quyn cho ông Bùi Thế H theo
Hợp đồng u quyn ngày 20/01/2020 Hợp đng u quyn ngày 04/11/2020
đưc công chng ti Văn phòng C3. Trong phm vi u quyn ông Bùi Thế H
đưc quyn“x tài sn thế chấp trong trường hp không tr đưc n cho
ngân hàng (Bao gm: hợp đồng chuyển nhượng t quyết đnh giá bán
trong trường hp t tho thun bán tài sn tr nợ…)”. Ti thời điểm đó, ông
Bùi Thế H tìm được người mua đt ông Nguyn Quang C1 ông Hoàng
Tun A. Ngày 14/10/2021, ông BùiThế H1 đã thông báovới ông Nông Văn C,
Dương Thị K để ôngbiết đã người mua tài sản, đồng thi lp Biên bn
bàn giao tài sn bảo đảm. Biên bn này có ông Nông Văn C, bà Dương Thị K
tên điểm ch, ch Nông Th D1 (con gái ông Nông Văn C, Dương Thị K)
chng kiến tên. Sau khi ông Nông Văn C, Dương Thị K bàn giao tài
sn, ông BùiThế H1 và ông Hoàng Tun A, ông Nguyn Quang C1, Lưu Thị
L đến văn phòng C2 để làm làm th tc chuyển nhượng các thửa đất trên vi
tng s tin chuyển nhượng 900.000.000 đồng, s tin này ông Nguyn
Quang C1 chuyn vào tài khon ca ông Nông Văn C, sau đó Ngân hàng trừ thu
n ca ông Nông Văn C, bà Dương Thị K tng s tiền là 800.000.000 đồng, còn
100.000.000 đồng ông Nông Văn C đã đến ngân hàng T3 rút. Các bên đi
ch v trí đất ch không lp biên bn bàn giao thực địa. Do đó, ông Bùi Thế H
không đồng ý đối vi yêu cu khi kin của nguyên đơn; đồng ý vi yêu cu ca
b đơn ông Nguyn Quang C1 ông Hoàng Tun A. Ông Nông Văn C
4
Dương Thị K phải giao đất cho ông Nguyn Quang C1 ông Hoàng Tun A
theo biên bn bàn giao tài sn bảo đảm mà ông Nông Văn C, bà Dương Thị K đã
giao cho ông Bùi Thế H. ông Nông Văn C, Dương Thị K đã đồng ý
giao tài sn cho ông Bùi Thế H x nên tài sn này không còn thuc quyn s
dng, qun lý ca ông Nông Văn C, bà Dương Thị K.
B đơn ông Nguyn Quang C1 Lưu Thị L (người đại din theo y
quyn ca L ông Nguyn Quang C1) trình bày: Năm 2021, ông Nguyn
Quang C1 và bà Lưu Thị L nhn chuyển nhượng t ông Nông Văn C, Dương
Th K thông qua ông i Thế H 02 thửa đất s 33, t bản đồ s 47, din tích
14.991m
2
; thửa đt s 105, t bản đồ s 32, din tích 11.444m
2
, đất đu to lc
ti Đ, huyện Đ với giá 450.000.000 đồng, ông Nguyn Quang C1 đã chuyển
tin vào tài khon ca ông Nông Văn C. Khi nhn chuyển nhượng thì giy
chng nhn quyn s dng đất đứng tên ông Nông Văn C Dương Th K.
Tuy nhiên, ông Nông Văn C Dương Thị K văn bản u quyn cho ông
Bùi Thế H đưc quyết định chuyển nhượng đối vi các thửa đất này. Th tc
chuyển nhượng quyn s dụng đất được các bên thc hin ti Văn phòng C2,
th tục sang tên đã hoàn tt, Giy chng nhn quyn s dụng đất đng tên ông
Nguyn Quang C1 Lưu Thị L vào ngày 01/12/2021. Các bên đến xem
đất thc tế, tuy nhiên chưa tiến hành giao thực địa. Ông Nguyn Quang C1 và bà
Lưu Thị L yêu cu ông Nông Văn CDương T2 giao đất tuy nhiên đến nay
ông Nông Văn C bà Dương Thị K1 chưa thực hiện. Do đó, ông Nguyn
Quang C1 và bà Lưu Thị L không đồng ý vi yêu cu khi kin của nguyên đơn
ông Nông Văn C và bà Dương Thị K.
Ông Nguyn Quang C1 yêu cu Tòa án buc ông Nông Văn C
Dương Thị K phi giao 02 thửa đất s 33, t bản đồ s 47, din tích 14.991m
2
;
thửa đất s 105, t bản đồ s 32, din ch 11.444m
2
cho v chng ông Nguyn
Quang C1 Lưu Th L, đồng thi thanh toán tin thu phê, h tiêu ca
năm 2021, 2022 là 84.000.000 đồng.
Tuy nhiên, ngày 26 tháng 02 năm 2025 ông Nguyn Quang C1 t nguyn
đơn rút đối vi yêu cu ông Nông Văn C và Dương Thị K thanh toán tin
thu cà phê, h tiêu của năm 2021, 2022 là 84.000.000 đồng.
B đơn ông Hoàng Tun A trình bày: Năm 2021, ông Hoàng Tun A nhn
chuyển nhượng t ông Nông Văn C, bà Dương Thị K thông qua anh Bùi Thế H
thửa đất s 79, t bản đồ s 32, din tích 20.000m
2
to lc ti thôn A, Đ,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với giá 450.000.000 đng, khi nhn chuyển nhượng thì
giy chng nhận đng tên ông Nông Văn C bà Dương Thị K, tuy nhiên, ông
Nông Văn C, Dương Thị K văn bn u quyn cho ông Bùi Thế H đưc
quyết định chuyển nhượng đối vi thửa đất này. Th tc chuyển nhượng quyn
s dụng đất được các bên thc hin ti Văn phòng C2, th tục sang tên đổi ch
đã hoàn tt. Giy chng nhn quyn s dụng đt mang tên ông Hoàng Tun A
5
vào ngày 01/12/2021. Các bên đến xem đất thc tế, tuy nhiên chưa tiến hành
giao thực địa. Ông Hoàng Tun A yêu cu ông Nông Văn C Dương Thị K
giao đất tuy nhiên đến nay ông Nông Văn C và bà Dương Thị K1 chưa thc
hiện. Do đó, ông Hoàng Tun A không đồng ý vi yêu cu khi kin ca nguyên
đơn.
Ông Hoàng Tun A yêu cu Tòa án buc Ông Nông Văn C, Dương
Th K phi giao cho ông thửa đt s 79, t bản đồ s 32, din ch 20.000m
2
to
lc ti thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông tr khon tin lãi trên s tin
450.000.000 đồng ông Hoàng Tun A nhn chuyển nhượng t ngày Toà án
th lý v án (ngày quyn li ca ông Hoàng Tun A b xâm phm ngày
01/12/2021) đến nay, lãi suất 1,2%/tháng là 100.000.000 đồng.
Tuy nhiên, ngày 20 tháng 02 năm 2025 ông Hoàng Tun A t nguyn
đơn rút đối vi yêu cu ông Nông Văn C Dương Thị K tr khon tin lãi
trên s tiền 450.000.000 đng ông Hoàng Tun A nhn chuyển nhượng t
ngày Toà án th lý v án là 100.000.000 đồng.
Quá trnh gii quyt vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trnh
bày:
Người đại diện theo pháp luật của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Văn phòng C2 ông Minh V trình bày: Việc tiếp nhận hồ sơ, yêu cầu công
chứng của các bên thực hiện việc công chứng tại Văn phòng C2 hoàn toàn
phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu của ông Hoàng Tuấn A, ông Nguyễn
Quang C1: Văn phòng C2 không có ý kiến.
Quá trnh gii quyt vụ án, người làm chứng chị Nông Thị D1 trình bày:
Chị con gái của ông Nông Văn C, Dương Thị K. Ngày 14/10/2021, cán bộ
ngân hàng có đến nhà để yêu cầu gia đình ông Nông Văn C biên bản bàn giao
tài sản bảo đảm nhưng gia đình ông Nông Văn C không đồng ý. vậy, cán bộ
ngân hàng nhờ ông Nông Văn C chị D1 xác nhận nội dung về việc “Ngày
14/10/2021, cán bộ ngân hàng xuống nhà để làm việc liên quan đến yêu cầu
bàn giao tài sản”. ChD1 thừa nhận ch ký, ch viết “Nông Văn C”, “Nông Th
D1” trong “Biên bản vv bàn giao tài sản bảo đảm ngày 14/10/2021” đúng là ch
ký, ch viết của ông Nông Văn C, chị D1. Chị D1 cũng xác định chký, ch
viết “Chang, Nông Văn C” trong hợp đồng uỷ quyền ngày 04/11/2020 của
ông Nông Văn C. Ngày 23/11/2021, chị D1 ông Nông Văn C đến ngân hàng
TMCP T3, chi nhánh Đ để xin rút lại tài sản thế chấp thì Giám đốc ngân hàng
thông báo anh Bùi Thế H đã rút tài sản thế chấp theo hợp đồng uỷ quyền của
ông Nông Văn C, Dương Thị K nên Ngân hàng đã bàn giao tài sản thế chấp
cho ông Bùi Thế H. Ông Bùi Thế H đã chuyển vào tài khoản của ông Nông Văn
C số tiền 900.000.000 đồng để thanh toán nợ, phía ngân hàng chỉ thu hồi nợ gốc,
miễn tiền lãi nên còn 100.000.000 đồng; Ngân hàng cũng không quyền
bán tài sản của khách hàng vì đã thu được nợ. Vì vậy ông Nông Văn C đã rút số
tiền còn lại 100.000.000 đồng trong tài khoản. Ông Nông Văn C, bà Dương
6
Thị K vẫn tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 105, tờ bản đồ số 32. Thửa đất số
33 tờ bản đồ số 47 không cây trồng, đất bỏ hoang. Gần đây ông Nông Văn C
có trồng ít bắp trên đất nhưng chưa cho thu hoạch. Đối với thửa đất số 79, tờ bản
đồ số 32, ông Hoàng Tuấn A đã đến chặt bỏ toàn bộ cây tiêu, điều trên đất. Do
tranh chấp nên ông Nông Văn C, Dương Thị K không canh tác. Sản lượng
thu hoạch trên thửa đất số 105 vụ mùa 2021, ông Nông Văn C, Dương Thị K
thu được 8.000kg cà phê tươi, bán được 58.400.000 đồng và 200 kg tiêu khô bán
được 14.000.000 đồng; Vụ mùa năm 2022 thu được 8.300kg phê tươi, bán
được 65.570.000 đồng 100kg tiêu khô, bán được 6.800.000 đồng. Do bố mẹ
chị lớn tuổi nên nhờ chị quản việc thu hoạch đi bán nên chị biết. Số tiền
bán cà phê và tiêu chị đã giao cho ông Nông Văn C, bà Dương Thị K.
Bản án dân sự thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 21-4-2025 của Tòa án
nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Áp dụng khoản 2, 3, 11
Điều 26; điểm g, h khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều
218; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; Áp dụng Điều 112; Điều 116; Điều 117; Điều 119; Điều 138; Điều
139; Điều 140; Điều 141; Điều 503; 579 ca B lut Dân s năm 2015; Điều
95 Luật đất đai năm 2013; Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều
49; Điều 55 Luật công chứng năm 2014; Khoản 1, khoản 5 Điều 26 của Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án, tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nông Văn C Dương
Thị K về yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất tài sản
gắn liền với đất đối với thửa đất số 79, tờ bản đồ số 32 giữa ông Bùi Thế H với
ông Hoàng Tuấn A được Công chứng tại văn phòng C2 công chứng ngày
22/11/2021 hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đối với thửa đất số
33, tờ bản đồ 47 và thửa đất số 105, tờ bản đồ số 32 giữa ông Bùi Thế H với ông
Nguyễn Quang C1, Lưu Thị L được Công chứng tại văn phòng C2 công
chứng ngày 22/11/2021 vô hiệu do giả tạo.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Quang C1, bà Lưu Thị L.
Buộc ông Nông Văn C, Dương Thị K giao thửa đất số 33, tờ bản đồ số
47, diện tích 14.491m2 tọa lạc tại Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thửa đất số
105 tờ bản đồ số 32, diện tích 11.444m2 tọa lạc tại Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk
Nông cho ông Nguyễn Quang C1 và bà Lưu Thị L.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Nguyễn Quang C1 về việc yêu cầu
ông Nông Văn C Dương Thị K phải nghĩa vụ thanh toán cho tiền từ
nguồn thu từ cà, tiêu của hai năm 2021, 2022 cho ông Nguyễn Quang C1
84.000.000 đồng. Ông Nguyễn Quang C1 quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết lại vụ án đối với phần yêu cầu này.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hoàng Tuấn A.
Buộc ông Nông Văn C, Dương Thị K giao thửa đất số 79 tờ bản đồ số
32 tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cho ông Hoàng Tuấn A.
7
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Hoàng Tuấn A về việc yêu cầu ông
Nông Văn C, Dương Thị K phải nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với
khoản tiền lãi phát sinh từ số tiền 450.000.000 đồng ông A bỏ ra để mua
thửa đất với lãi suất 1,2%/tháng 100.000.000 đồng. Ông Hoàng Tuấn A
quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đối với phần yêu cầu này.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, chi phí tố tụng, án phí thông báo quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 15-5-2025, nguyên đơn ông Nông Văn C Dương Thị K kháng
cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Ngày 06/5/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil (nay
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng) kháng nghị bản án thẩm.
Để nghị Tòa án xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát gi nguyên yêu cầu kháng nghị, nguyên đơn
gi nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy bản án thẩm
để giải quyết lại theo thủ tục thẩm; các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư
ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Vnội dung: Đnghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều
310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng và kháng cáo của nguyên đơn ông
Nông Văn C Dương Thị K, hủy bản án thẩm để giải quyết lại vụ án
theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn
luật định, đã nộp tiền tạm ứng án p phúc thẩm theo quy định. Quyết định
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk
Nông (nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng) trong thời hạn
luật định.
[2]. Xét kháng cáo của ông Nông Văn C, Dương Thị K kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Về hiệu lực của Hợp đồng ủy quyền công chứng số 00011606, quyển
số 05/2020/TP/CC-SCC/GĐGD ngày 04/11/2020 Hợp đồng ủy quyền công
chứng số 000970, quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/01/2020:
[2.1.1]. Tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện ông Nông Văn C
Dương Thị K là người đứng tên quyền sử dụng đối với các thửa đất số 79, tờ
bản đồ số 32; thửa đất số 33, tờ bản đồ số 47 và thửa đất số 105, tờ bản đồ số 32
theo các Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BD 969803, BL 116846 BY
061358.
8
[2.1.2]. Ngày 20/01/2020 và ngày 04/11/2020, tại Văn phòng C3, ông
Nông Văn C và bà Dương Thị K lập các Hợp đồng ủy quyền công chứng số
000970, quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD; số 00011606, quyển s
05/2020/TP/CC-SCC/GĐGD, ủy quyền cho ông Bùi Thế H thực hiện các quyền,
nghĩa vụ liên quan đến các tài sản nêu trên. Theo nội dung hợp đồng, ông H
được quyền thực hiện việc trả nợ ngân hàng; rút hồ sơ tài sản thế chấp; xử lý tài
sản thế chấp trong trường hợp không trả được nợ; hợp đồng chuyển nhượng,
thỏa thuận gbán tài sản để trả nợ; nhận tiền trả nợ ngân hàng. Sau khi tài
sản được xóa thế chấp, ông H còn được ủy quyền kết hợp đồng đặt cọc, mua
bán, chuyển nhượng, nhận tiền đặt cọc, nhận tiền chuyển nhượng và thực hiện
các thủ tục liên quan đến tài sản được ủy quyền. Thời hạn ủy quyền 10 năm
kể từ ngày công chứng.
[2.1.3]. Nguyên đơn cho rằng ch ký, dấu vân tay trong Hợp đồng ủy
quyền ngày 20/01/2020 ngày 04/11/2020 không phải của mình nên hợp đồng
không giá trị pháp lý. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
không yêu cầu giám định ch ký, ch viết, dấu vân tay; cũng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ khác chứng minh ch ký, dấu vân tay trong hợp đồng
giả mạo. Ngược lại, người làm chứng Nông Thị D1 con của nguyên đơn xác
định chký, ch viết “Chang, Nông Văn C” trong các Hợp đồng ủy quyền
ch ký, ch viết của ông C.
Mặt khác, các Hợp đồng ủy quyền đều được lập tại tổ chức hành nghề công
chứng. Hồ công chứng và tài liệu do Văn phòng C3 cung cấp đều thể hiện tại
thời điểm công chứng, ông Nông Văn C Dương Thị K đều mặt trực
tiếp, thực hiện việc ký, điểm chỉ xác lập các Hợp đồng ủy quyền trước công
chứng viên. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định các hợp đồng ủy quyền nêu
trên có giá trị pháp lý là có căn cứ.
[2.1.4]. Xét thấy, tại thời điểm xác lập hợp đồng, các bên đầy đủ năng
lực hành vi dân sự; việc giao kết là tự nguyện; mục đích và nội dung của việc ủy
quyền không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức hội; hình
thức hợp đồng phù hợp quy định pháp luật đã được công chứng. Do đó, Tòa
án cấp thẩm xác định Hợp đồng ủy quyền công chứng số 00011606 ngày
04/11/2020 và Hợp đồng ủy quyền công chứng số 000970 ngày 20/01/2020
hiệu lực pháp luật là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[2.2]. Về phạm vi đại diện của ông Bùi Thế H:
[2.2.1]. Do Hợp đồng ủy quyền ngày 20/01/2020 ngày 04/11/2020
hiệu lực nên ông Bùi Thế H quyền nhân danh ông Nông Văn C, Dương
Thị K thực hiện các công việc trong phạm vi được ủy quyền. Nội dung ủy quyền
đã xác định ông Bùi Thế H được quyền kết hợp đồng đặt cọc, hợp đồng
mua bán, chuyển nhượng, nhận tiền đặt cọc, nhận tiền chuyển nhượng đối với
các tài sản được ủy quyền, trong đó các thửa đất đang tranh chấp. Như vậy,
việc ông H kết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông
Nguyễn Quang C1, Lưu Thị L ông Hoàng Tuấn A thuộc phạm vi đại diện
theo ủy quyền.
9
[2.2.2]. Đối với quá trình xử lý khoản vay tại Ngân hàng TMCP T3 (T4),
tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp thể hiện khoản vay của ông C, K
đã được thanh toán T4 đã bàn giao hồ tài sản bảo đảm cho ông Bùi Thế H
theo Hợp đồng ủy quyền.
Như vậy, việc ông Bùi Thế H kết các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên thuộc phạm vi quyền đại diện được
ông C, K ủy quyền. Không căn cứ xác định ông H xác lập giao dịch ngoài
phạm vi đại diện hoặc không có quyền đại diện.
[2.3]. Về hiệu lực của các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
[2.3.1]. Các thửa đất s33, tờ bản đồ số 47; thửa đất số 105 thửa đất số
79, tờ bản đồ số 32 đều đã được quan nhà nước thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nông Văn C Dương Thị K. Tại
thời điểm chuyển nhượng các thửa đất này không thuộc trường hợp bị kê biên đ
bảo đảm thi hành án hoặc thuộc trường hợp pháp luật cấm chuyển nhượng.
[2.3.2]. Các hợp đồng chuyển nhượng được lập bằng văn bản được Văn
phòng C2 công chứng ngày 22/11/2021. Bên chuyển nhượng do ông Bùi Thế H
đại diện theo ủy quyền; bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Quang C1, bà
Lưu Thị L ông Hoàng Tuấn A. Tại thời điểm xác lập Hợp đồng các bên
đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao dịch được xác lập không bị lừa dối, đe dọa,
cưỡng ép hoặc nhầm lẫn. Đối tượng giao dịch quyền sử dụng đất được pháp
luật cho phép chuyển nhượng, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm
điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Do đó, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đáp ứng các điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và điều kiện về hình thức đối với hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi kết hợp đồng, ông Nguyễn
Quang C1, Lưu Thị L và ông Hoàng Tuấn A đã thực hiện thủ tục đăng
biến động và được quan nhà nước thẩm quyền cấp, cập nhật Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
[2.3.4]. Quá trình giải quyết vụ án, các bên thống nhất giá thực tế chuyển
nhượng đối với mỗi hợp đồng 450.000.000 đồng bên nhận chuyển nhượng
đã thanh toán đủ. Tuy nhiên, giá ghi trong hợp đồng ng chứng 200.000.000
đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc các bên thỏa thuận giá thực tế cao hơn giá
ghi trong hợp đồng liên quan đến nghĩa vụ khai, nộp thuế. Tuy nhiên, cần
phân biệt gia hiệu lực của giao dịch dân sự nghĩa vụ tài chính của các bên
đối với Nhà nước. Việc kê khai giá chuyển nhượng không đúng thực tế, nếu dẫn
đến thiếu nghĩa vụ thuế, vấn đề thuộc phạm vi quản của quan thuế
được xử theo quy định của pháp luật về thuế. Hồ vụ án không căn cứ
chứng minh việc ghi giá chuyển nhượng thấp hơn giá thực tế nhằm che giấu một
giao dịch khác hoặc thuộc trường hợp giao dịch dân sự hiệu theo quy định
của Bluật Dân sự. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc giá ghi trong hợp
đồng thấp hơn giá thực tế để xác định các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất là vô hiệu.
10
[2.3.5]. Do đó, đủ căn cứ xác định các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất gia ông Nông Văn C, bà Dương Thị K, do ông Bùi Thế H đại diện
theo ủy quyền, với ông Nguyễn Quang C1, Lưu Thị L và ông Hoàng Tuấn A
nhng giao dịch được xác lập hợp pháp, hiệu lực làm phát sinh quyền,
nghĩa vụ của các bên. Yêu cầu của ông C, K về việc tuyên các hợp đồng
chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo là không có căn cứ chấp nhận.
[2.4]. Đối với việc không đưa Ngân hàng TMCP T3 tham gia ttụng: Tài
liệu do Ngân hàng TMCP T3 cung cấp thể hiện khoản vay của ông Nông Văn C,
Dương Thị K đã được tất toán; Ngân hàng đã thu hồi nợ và bàn giao hồ sơ tài
sản bảo đảm cho ông Bùi Thế H. Tại thời điểm giải quyết vụ án, Ngân hàng
không còn quyền xử tài sản bảo đảm, không yêu cầu độc lập kết quả
giải quyết tranh chấp không làm phát sinh hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ tài sản
của Ngân hàng.
Do đó, việc Tòa án cấp thẩm không đưa Ngân hàng TMCP T3 tham gia
tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng
đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và không phải vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng làm căn cứ hủy bản án sơ thẩm.
[2.5]. Đối với Văn phòng C3: Hợp đồng ủy quyền ngày 20/01/2020
ngày 04/11/2020 là một trong nhng căn cứ trực tiếp đxác định phạm vi đại
diện của ông Bùi Thế H khi xác lập các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. Nguyên đơn có tranh chấp về tính xác thực của ch ký, dấu vân tay và
tính hợp pháp của Hợp đồng ủy quyền được công chứng tại Văn phòng C3. Do
đó, đgiải quyết vụ án toàn diện, khách quan, Tòa án cấp thẩm cần đưa Văn
phòng C3 tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tuy nhiên, thiếu sót này đã được khắc phục tại cấp phúc thẩm. Hội đồng xét xử
phúc thẩm đã thu thập ý kiến của Văn phòng C3 cùng các tài liệu, chứng cứ liên
quan đến việc công chứng các Hợp đồng ủy quyền ngày 20/01/2020
04/11/2020. Vì vậy, thiếu sót về tố tụng nêu trên không làm ảnh hưởng đến việc
giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm không cần thiết phải hủy bản án thẩm
để giải quyết lại.
[3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát chưa phù hợp nên
Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4]. Từ các phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nông Văn C, bà Dương Thị K
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil (nay
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng); cần ginguyên bản án dân sự
thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk
Mil, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng).
[5]. Đi vi Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
10/2021/QĐ-BPKCTT Quyết định số 11/2021/QĐ-BPKCTT ngày
01/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil (nay Tòa án nhân dân khu
vực 8 – Lâm Đồng) s đưc x lý theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 138 B
lut t tng dân s.
11
[6]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được
chấp nhận nên ông Nông Văn C Dương Thị K phải chịu toàn bộ chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản 24.902.000 đồng. Nguyên
đơn đã nộp đủ số tiền này tại Tòa án.
[7]. Về án phí:
[7.1]. Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp
nhận nên ông C K phải chịu toàn bộ án phí Dân sự thẩm; yêu cầu độc
lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang C1, Lưu
Thị L được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sthẩm; yêu cầu độc
lập của Ông Hoàng Tuấn A được chấp nhận một phần nên ông Tuấn A phải chịu
án phí đối với phần yêu cầu độc lập không được chấp nhận.
[7.2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
không được Toà án chấp nhận nên cần buộc nguyên đơn phải chịu toàn bộ án
phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông Nông Văn C
Dương Thị K thuộc trường hợp được miễn tiền án phí đơn nên Hội
đồng xét xử miễn tiền án phí cho nguyên đơn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn quyết định kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (nay
Tòa án nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng). Gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số
05/2025/DS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk
Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng).
Tuyên xử:
1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nông Văn C và bà Dương
Thị K về yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất đối với thửa đất số 79, tờ bản đồ số 32 gia ông Bùi Thế H với
ông Hoàng Tuấn A được Công chứng tại văn phòng C2 công chứng ngày
22/11/2021 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
33, tờ bản đồ 47 và thửa đất số 105, tờ bản đồ số 32 gia ông Bùi Thế H với ông
Nguyễn Quang C1, Lưu Thị L được Công chứng tại văn phòng C2 công
chứng ngày 22/11/2021 vô hiệu do giả tạo.
1.2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Quang C1, bà Lưu Thị L.
Buộc ông Nông Văn C, Dương Thị K giao thửa đất số 33, tờ bản đồ số 47,
diện tích 14.491m² tọa lạc tại Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thửa đất số 105
tờ bản đồ số 32, diện tích 11.444m² tọa lạc tại Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
cho ông Nguyễn Quang C1 và bà Lưu Thị L.
1.3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Nguyễn Quang C1 về việc yêu
cầu ông Nông Văn C và bà Dương Thị K phải có nghĩa vụ thanh toán cho tiền từ
nguồn thu tử cà, tiêu của hai năm 2021, 2022 cho ông Nguyễn Quang C1 là
12
84.000.000 đồng. Ông Nguyễn Quang C1 quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết lại vụ án đối với phần yêu cầu này.
1.4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hoàng Tuấn A. Buộc ông Nông
Văn C, Dương Thị K giao thửa đất số 79 tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại Đ,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cho ông Hoàng Tuấn A.
1.5. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Hoàng Tuấn A về việc yêu
câu ông Nông Văn C, bà Dương Thị K phải có nghĩa vụ giao đất cho ông Hoàng
Tuấn A và bôi thường thiệt hại đối với khoản tiền i phát sinh từ số tiền
450.000.000 đồng.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc Nguyên đơn ông Nông Văn C, bà Dương Thị K
phải chịu toàn bộ chi ptố tụng 24.902.000 đồng (Hai mươi bốn triệu chín
trăm linh hai nghìn đồng). Ông C, bà K đã nộp đủ số tiền này tại Tòa án.
3. Đối vi Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
10/2021/QĐ-BPKCTT Quyết định số 11/2021/QĐ-BPKCTT ngày
01/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil (nay Tòa án nhân dân khu
vực 8 – Lâm Đồng) s đưc x lý theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 138 B
lut t tng dân s.
4. Về án phí dân sự:
[4.1]. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nông Văn C, bà Dương Thị
K2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, được
khấu trừ số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) ông Nông Văn C,
Dương Thị K đã nộp theo các biên lai số 0000607; 0000608 ngày 01/12/2021 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil (này Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 8 – Lâm Đồng).
Hoàn trả ông Hoàng Tuấn A số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai số 0007187 ngày 28/3/2023 2.500.000 đồng (Hai
triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009315 ngày 08/6/2023 ông
Hoàng Tuấn A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil (này
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Lâm Đồng).
Hoàn trả cho ông Nguyễn Quang C1 số tiền tạm ứng án phí 2.400.000 đồng
(Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Quang C1 đã nộp theo biên lai
số 0007188 ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đắk Mil (này
là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Lâm Đồng).
[4.2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nông Văn C Dương Thị K
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6,
7, 8 Điều 36 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định
tại khoản 2 Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2025.
13
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 8 – Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 8 – Lâm Đồng;
- THADS tỉnh Lâm Đồng
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Hạnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 484/2026/DS-PT Bản án số 484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất