Bản án số 1000/2026/DS-PT ngày 04/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1000/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1000/2026/DS-PT ngày 04/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1000/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bùi Thanh P "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Lý Thị Thanh Y
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1000/2026/DS-PT Bản án số 1000/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1000/2026/DS-PT Bản án số 1000/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 1000/2026/DS-PT
Ngày: 04-8-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản,
tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 537/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 7 năm
2026, về “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay
tài sản, tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm s57/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 510/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Bùi Thanh P, sinh năm 1961.
1.2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P, N: Ông Phạm Văn Y, sinh năm
1967 (có mặt).
Địa chỉ: 5 ấp P, phường S, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Lý Thị Thanh Y1, sinh năm 1971 (có yêu cầu phản tố), có mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của Y1: Ông Phạm Văn N1, sinh năm
2
1942 (có mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Ông Lý Vĩnh T, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
2.3. Ông Lý Vĩnh K, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
2.4. Bà Lý Thị Ngọc P1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
2.5. Bà Lý Thị Thanh L, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của L: Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1942
(có mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.
2.6. Bà Lý Thị Ngọc G, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
2.7. Ông Lý Quang M, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ô, Khu A, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Văn phòng C.
Địa chỉ: ấp K, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
3.2. Văn phòng C1 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
3.3. Ông Đặng Văn S, sinh năm 1946 (có mặt).
Địa chỉ: B H, phường C, thành phố Hồ Chí Minh.
3.4. Ông Phạm Minh H, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3.5. Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1986 (có yêu cầu độc lập), có mặt.
Địa chỉ: Xóm L, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Địa chỉ liên lạc: 4 đường số B, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
3.6. Bà Đào Thanh G1, sinh năm 1995 (vắng mặt).
3.7. Bà Đào Thị Bích Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt).
3.8. Bà Nguyễn Thị G2, sinh năm 1953 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: áp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3.9. Bà Đào Thị T1, sinh năm 1953 (có mặt).
Địa chỉ: B H, phường C, thành phố Hồ Chí Minh.
3.10. Ông Đào Văn T2, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3
3.11. Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3 - vắng mặt).
Địa chỉ: 166/42 N, ấp G, xã H, tỉnh Tây Ninh.
3.12. Bùi Văn T3, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm L, xã N, tỉnh Ninh Bình.
Địa chỉ liên lạc: 4 đường số B, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
3.13. Ủy ban nhân dân xã H.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Hoàng V - Chủ tịch (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: Bị đơn Thị Thanh Y1, Lý Thị Thanh L. Người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Vũ Thị L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2023, các đơn kiện bổ sung ngày 07/5/2025,
ngày 17/7/2025, ngày 21/7/2025, ngày 05/9/2025, ngày 08/01/2026, ngày
04/3/2026; các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa
thẩm nguyên đơn ông Bùi Thanh P Nguyễn Thị N do ông Phạm Văn Y
người đại diện trình bày như sau:
Ngày 29 tháng 11 năm 1996, ông Bùi Thanh P hùn vi ông Đặng Văn S
(có quan hệ cậu cháu ruột với nhau) để mua đất ca ông Quang B (nay đã
chết) là cha của bà Thị Thanh Y1, phần đất địa ch ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh
Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) đất có t cn như sau:
- Đông: Giáp tư M
- Tây: Giáp ba Bu
- Nam: Giáp ba Bu
- Bc: Giáp Ú.
Khi mua hai bên có làm giấy tay mua bán đất do ông Bùi Thanh P đứng ra
làm giấy với ông Quang B. Nội dung giấy ngày 29/11/1996 như sau: “...Tôi
tên Lý Quang B ngụ tập đoàn G4, ấp T, xã H nhượng số đất là 23 cao 45
tại tập đoàn G ấp T đông: Giáp tư Mng, tây: Giáp ba Bu, nam: Giáp ba Bu,
bc: Giáp Ú. Tôi nhượng cho ông Bùi Thanh P ngụ Tập đoàn A, ấp T, xã H.
Số đất nói trên quy ra tiền là 29.078.000 đồng đã giao đủ số tiền trên cho ông B,
ông B đã nhận đủ số tiền nói trên...”. Các ông P, S đã tr tin hoàn tt cho ông
Quang B, ông B cũng đã giao đất cho các ông qun lý s dng.
Sau khi nhn đất t ông B giao thì các ông S ông P làm thỏa thuận
ghi nội dung hai bên hùn mua đất giấy đề ngày 29/3/1997 Ông Bùi Thanh P
được chia ngang 9m dài 67m din tích 603m
2
. Ông Đặng Văn S s nhn din tích
đất còn li ngang 26m dài hết đất din tích 1.742m
2
”. Giữa ông P ông S đã
phân chia phần đất mua của ông B cho hai bên sử dụng các ông S và P có dùng
gch block xây hàng rào bao quanh din tích đất của mỗi người nhận sang nhượng
cụ thể phía ông P 9m chiều ngang dài hết đất khoảng hơn 65m, còn phía ông S
26m chiều ngang dài hết đất. Đồng thi ông S ct mt căn nhà từ năm
4
1996, đến năm 2000 thì được Nhà nước cấp nhà tình nghĩa cho mẹ vợ ông S trên
phần đất của ông S là căn nhà cp 4, mái tole, nn gch, tường gch, ct tông
ct thép, din ch khoảng 40m. Gia đình ông S ở đến ngày 14/02/2023, gia ông
P và ông Đặng Văn Slàm Giy tha thun sang nhượng đất, theo đó ông S s
sang nhượng li cho ông P toàn b din tích đất 1.742m
2
như Giấy thỏa thun
trước đây gia ông P ông S lp ny 29/03/1997. Hiện nay ông P người quản
lý phần đất của ông S, ông S cũng đã bàn giao nhà và đất cho ông P được shữu.
Diễn biến quá trình từ khi nhận chuyển nhượng từ gia đình ông Lý Quang
B từ 1996 đến nay như sau:
Khi nhận đủ tiền từ ông P giao thì ông B ha vi các ông s làm th tc
chuyn quyn s dng đất cho mỗi người (P, S), để các ông đứng tên quyn s
dng đất. Tuy nhiên, ông B hẹn nhưng ông B không thc hin và kéo dài cho đến
năm 2005 tông B chết. Sau khi ông Lý Quang B chết các ông P và S yêu cu
vcon ca ông Quang B Nguyễn ThP2, cùng vi các con ca ông B
làm th tc chuyn quyn s dng đất như Bửu đã cam kết nhưng phía gia đình
vợ con ông Bửu K1 thực hiện.
Đối với biên bản ngày 25/11/2011 giữa bà P2 với ông P. Tại thời điểm đó,
ông P và ông S đã phân chia đất từ năm 1997 của ai người đó quản sử dụng,
nhưng biên bản ngày 25/11/2011 chỉ thỏa thuận giữa Nguyễn Thị P2 với ông
Bùi Thanh P không ông S người đang cất nhà trên đất tham gia nên
văn bản này không giá trị pháp lý. Thỏa thuận này chỉ riêng đối với phần đất
của ông P ngang 9m, dài hết đất mà không liên quan đến phần đất của ông S. Lúc
đó ông P cần bán đất này để trị bệnh, yêu cầu P2 làm giấy chuyển quyền sử
dụng phần đất của ông P đang quản lý không phải phần đất của ông S. Do đó ông
P không đồng ý với ý kiến của các con P2 ông B cho rằng biên bản thỏa
thuận ngày 25/11/2011 là mặc nhiên lấy lại phần đất mà ông S đang quản lý. Mặt
khác, phần đất này ông S sử dụng cất nhà ở của ông S tkhi nhận chuyển nhượng
năm 1997 đến năm 2023 thì ông P sử dụng đất nay; gia đình bà P2 cũng không sử
dụng phần đất này.
Vị trí đất tranh chấp hiện nay ông Bùi Thanh P người đang quản lý nhà
đất tại các khu A, E, F, G D của Mảnh trích đo ngày 08/12/2025 do Công ty
TNHH Đ1 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực Đ duyệt. Hiện
nay là các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 15/11/2005 ông Lý Quang B chết, đến ngày 10/04/2008, bà Nguyễn
Thị P2 được hưởng thừa kế toàn bộ di sản là quyền sử dụng đất của Lý Quang B
để lại theo Văn bản thoả thuận phân chia di sản của cụ Lý Quang B được lập tại
Văn phòng C4 tỉnh Long An (nay là Văn phòng C) có scông chứng: 221, quyển
số 01TP/CC-SCC/TK trong đó có phần đất mà ông S đang ở.
Ngày 15/07/2011, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số:
194118, số vào sổ cấp GCN 00457, cấp cho Nguyễn Thị P2 thửa đất 259 tờ
bản đồ số 8 H, tỉnh Tây Ninh loại đất trồng cây hàng năm khác, diện tích
4.805m
2
(là thửa đất đã bán cho ông S, ông P).
5
Ngày 04/05/2016, bà P2 làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với
Thị Thanh Y1, thửa đất 259 (một phần thửa), tờ bản đồ số 8, diện tích: 784m
2
,
địa chỉ thửa đất: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh)
được Văn phòng C5, Công chứng số: 6293, quyển số 03TP/CC/HĐGD (nay là
thửa 414 tờ bản đồ 9 xã H).
Ngày 06/06/2016, bà Lý Thị Thanh Y1 được Sở tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp giấy CN QSDĐ số: CĐ 492388, Số vào sổ cấp GCN: CS 00121, thửa
đất số 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh diện tích 784m
2
. Địa chỉ: ấp T, xã
H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là thửa 414 tờ bản đồ 9 xã H, tỉnh Tây Ninh).
Ngày 28/5/2025, tại Văn phòng C2, địa chỉ: Số A, đường N, ấp G, thị trấn
H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh), bà Lý Thị Thanh Y1 làm
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Thị L1, sinh năm 1986,
địa chỉ: Xóm B, T, tỉnh Nam Định, thửa đất 1413, diện tích 784m
2
tờ bản đồ
số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) mục đích
sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác (nay thửa 414 tờ bản đồ 9 xã H, tỉnh Tây
Ninh).
Ngày 24/12/2025, Thị L1 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền s
hữu tài sản gắn liền với đất số: 25044632, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CN
27468, thửa đất số 414 tờ bản đồ số 9 diện tích: 784m
2
, loại đất: Đất trồng cây
hằng năm khác, địa chỉ: xã H, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 17/06/2025, bà Lý Thị Thanh L được hưởng phần di sản thừa kế của
cụ Nguyễn Thị P2 chết ngày 30/05/2017 để lại thửa đất số 697 tờ bản đồ số 9
H, tỉnh Tây Ninh diện tích 491m
2
; thửa đất số 1108 tờ bản đồ số 9 H, tỉnh
Tây Ninh diện tích 748m
2
được UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An, chứng
thực số: 64 quyển 01/2025-SCT/HĐ,GD (nguồn gốc phần thửa 259 T8
xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) trên đất có nhà ông S.
Ngày 08/08/2025, bà Thị Thanh L được Chi nhánh Văn phòng C5 cấp
02 giấy CN QSDĐ quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm: GCN QSDĐ số:
AA 03771997, thửa đất số 1108 tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh diện tích
748m
2
. Loại đất: Đất trồng cây hằng năm khác, địa chỉ: H, tỉnh Tây Ninh.
GCN QSDĐ số: AA 03771999, thửa đất số 697, tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây
Ninh diện tích 491m
2
, loại đất: Đất ở tại nông thôn.
Nay ông Bùi Thanh P kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với những người
thừa kế của cụ bà Nguyễn Thị P2 cụ ông Lý Quang B đã chết là Lý Thị Thanh
Y1, Vĩnh T, Vĩnh K, Lý Thị Ngọc P1, Lý Thị Thanh L, Lý Thị Ngọc G
Lý Quang M như sau:
1. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996, giữa ông Bùi Thanh P với cụ Lý
Quang B liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
2. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo giấy Thoả thuận sang nhượng đất ngày 14/02/2023, giữa ông Bùi Thanh
6
P với ông Đặng Văn S liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đsố 9 xã H, tỉnh
Tây Ninh.
3. Huỷ Biên bản thoả thuận giữa cụ Nguyễn Thị P2 với ông Bùi Thanh P
ngày 25/11/2011 liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây
Ninh.
4. Huỷ một phần Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế được xác lập
vào ngày 10/4/2008, tại Văn phòng C4, tỉnh Long An. Công chứng số: 221, quyển
số 01TP/CC-SCC/TK. Người được hưởng thừa kế di sản cụ Nguyễn Thị P2,
thuộc một phần thửa đất 259 tờ bản đồ số 8 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là
H, tỉnh Tây Ninh) (nay các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 H, tỉnh
Tây Ninh) với diện tích 1.791,1m
2
.
5. Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 194118, do
UBND huyện Đ cấp cho bà Nguyễn Thị P2 ngày 15/7/2011, số vào sổ cấp GCN
00457 tại thửa đất 259 tờ bản đồ số 8 địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay H, tỉnh Tây Ninh), mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây hàng năm khác
thuộc (nay các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh) với
diện tích 1.791,1m
2
).
6. Huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị P2 với
Thị Thanh Y1, ngày 04/5/2016, tại Văn phòng C5, tỉnh Long An. Công
chứng số: 6293, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD. Đối với một phần thửa đất 259
tờ bản đồ số 8 diện tích 784m
2
, địa chỉ thửa đất: ấp T, H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay xã H, tỉnh Tây Ninh).
7. Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 492388, Số vào sổ cấp
GCN: CS 00121, do Sở tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lý Thị Thanh
Y1 ngày 06/06/2016, thửa đất số 1413, tờ bản đồ số 8, diện tích 784m
2
. Địa chỉ
thửa đất: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (xã H, tỉnh Tây Ninh).
8. Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28-5-2025,
tại Văn phòng C2, địa chỉ: Số nhà A, đường N, ấp G, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh
Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) giữa Lý Thị Thanh Y1 chuyển nhượng
cho Thị L1, thửa đất 1413, diện tích 784m
2
, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: ấp T,
H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh), mục đích sử dụng: Đất
trồng cây hàng năm khác. Diện tích yêu cầu huỷ: thửa 1413(mpt) thửa mới
414(mpt) diện tích 734,9m
2
.
9. Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 25044632, số vào sổ cấp
Giấy chứng nhận: CN 27468, thửa đất số 414 tờ bản đồ số 9, diện tích: 784m
2
,
loại đất: Đất trồng cây hằng năm khác, địa chỉ: xã H, tỉnh Tây Ninh do Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh, cấp cho bà Vũ Thị L1 ngày
24/12/2025.
10. Huỷ một phần Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
17/6/2025, được UBND xã H chứng thực số: 64 Quyển 01/2025-SCT/HĐ,GD.
7
11. Huỷ 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 0371997 AA
0371999. Do Chi nhánh Văn phòng C5 cấp cho Lý Thị Thanh L ngày
08/08/2025, đối với thửa đất 1108, 697 thuộc tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh.
12. Buộc những người kế thừa quyền nghĩa vụ của cụ Quang B,
cụ Nguyễn Thị P2 gồm: bà Thị Thanh Y1, ông Lý Vĩnh T, ông Vĩnh K, bà
Thị Ngọc P1, bà Thị Thanh L, Thị Ngọc G, ông Quang M phải
làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông Bùi Thanh P Nguyễn Thị N,
một phần của thửa đất số: 259 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh trước đây, diện
tích đo đạc thực tế hiện nay: 1.765,9m
2
thuộc các thửa 414, 1108 và (mpt) 697 tờ
bản đồ số: 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
13. Đối với Căn nhà tình nghĩa do UBND huyện Đ cấp cho cụ Nguyễn Thị
D mẹ Liệt sĩ. Ngày 24/04/2000 cụ Nguyễn Thị D lập di chúc để lại cho ông
Đặng Văn SĐào Thị T1, các thừa kế có Văn bản không tranh chấp Căn nhà
tình nghĩa với ông Đặng Văn S và ông Bùi Thanh P. Đề nghị công nhận căn nhà
trên đất là của ông P bà N.
14. Công nhận quyền sử dụng đất thửa 1108(mpt), tờ bản đồ số 9 H, tỉnh
Tây Ninh diện tích 569m
2
tại khu A; thửa 697(mpt) tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây
Ninh diện tích 5m
2
thuộc khu D; thửa 697(mpt) tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây
Ninh diện ch 462m
2
thuộc khu E; thửa 414 (mpt) tờ bản đồ số 9 H, tỉnh
Tây Ninh diện tích 734,9m
2
,
thuộc khu F với tổng diện tích đo đạc thực tế:
1.770,9m
2
theo trích đo bản đồ địa chính số 568-2025 được Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh, duyệt ngày 08/12/2025 là thuộc quyền
sử dụng của ông Bùi Thanh P và Nguyễn Thị N đông P và N kê khai đăng
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
15. Căn cứ vào bản Trích đo bản đồ địa chính số 568-2025 được Chi nhánh
văn phòng đăng đất đai khu vực Đ duyệt ngày 08/12/2025, thửa đất 1108(mpt)
thuộc khu B, diện tích 179m
2
và thửa 697(mpt) thuộc khu C, diện tích 24m
2
do bà
Lý Thị Thanh L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với tổng diện tích
203m
2
, diện tích đất này không đủ diện tích để tách thửa theo quy định. Vì vậy đề
nghị công nhận quyền sử dụng đất thửa 1108(mpt) thuộc khu B, diện tích 179m
2
,
thửa 697(mpt) thuộc khu C, diện tích 24m
2
, do Thị Thanh L đứng tên
quyền sử dụng đất với tổng diện tích 203m
2
cho ông Bùi Thanh P Nguyễn
Thị N. Ông Bùi Thanh P và Nguyễn Thị N sẽ trả lại giá trị quyền sử dụng đất
203m
2
cho bà Thị Thanh L theo quy định.
Ngoài ra ông Bùi Thanh P không yêu cầu gì khác.
Bị đơn Thị Thanh Y1 trình bày: chủ sử dụng thửa đất 414 tờ
bản đồ số 9 đất tọa lạc H, tỉnh Tây Ninh, đã được Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai khu vực Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
08/8/2025. Trước đây theo hệ thống bản đồ cũ là thửa 1413 tờ bản đồ số 8 xã H,
tỉnh Tây Ninh hiện nay ông Đặng Văn S ông Bùi Thanh P xây dựng trái
phép căn nhà cấp 4 kết cấu vách tường, máy tole, nền lót gạch hàng rào
gạch, lưới B40 bao quanh đất. Nguồn gốc đất do bà nhận tặng cho từ mẹ ruột là
8
Nguyễn Thị P2 được cấp giấy ngày 06/6/2016. Qua yêu cầu khởi kiện của ông
Bùi Thanh P bản thân bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện nêu trên của
ông Bùi Thanh P đối với bà. ý kiến trình bày nhiều lần yêu cầu ông S,
ông P tháo dỡ hàng rào trả lại cho bà nhưng ông S, ông P không đồng ý. Vì vậy,
nay bà có yêu cầu phản tố:
Buộc ông Đặng Văn S, ông Bùi Thanh P trách nhiệm tháo dỡ, di dời
hàng rào B40 trên thửa đất số 1413, tờ bản đồ số 8, trả lại cho bà phần đất diện
tích 784m
2
, thuộc thửa đất số 1413 tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại: Ấp T, H, tỉnh
Tây Ninh, nay là thửa đất 414 tờ bản đồ số 9 đất tọa lạc xã H, tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra trong quá trình Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án giữa ông
Bùi Thanh P với thì ngày 28/5/2025 vay tiền của Thị L1
1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng). Thời gian vay từ ngày
28/5/2025 đến tháng 12/2025. Để đảm bảo khoản vay bà có ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là
thửa đất 414 tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc xã H, tỉnh Tây Ninh) cho L1 để làm tin.
Hợp đồng do Văn phòng C6 Dự chứng thực. Trong quá trình vay tiền tngày
28/5/2025, đã trả lãi cho Thị L1 đến nay với số tiền 145.500.000 đồng
nhưng bà Thị L1 đã tự ýkhai đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất
1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh với diện tích 784m
2
và được Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai khu vực Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
vào ngày 24/12/2025. Việc L1 tự ý khai đăng cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của bà là trái với ý kiến của nên yêu cầu khởi kiện bà Thị
L1 như sau:
1.Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Thị
Thanh Y1 với bà Vũ Thị L1 được chứng thực ngày 28/5/2025 liên quan đến thửa
đất 1413 tờ bản đồ số 8, xã H, tỉnh Tây Ninh diện tích 784m
2
do Văn phòng
C6 Dự chứng thực số 1247 quyển số 01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD.
2. Hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai khu vực Đ cấp ngày 24/12/2025 giấy số GCNAA 06044632.
3. Khấu trừ lãi suất mà bà đã đóng cho bà L1 vượt quá quy định.
Đối với ý kiến các anh em của mà bà đại diện như các ông Vĩnh
T, Vĩnh K, Thị Ngọc P1, Lý Thị Ngọc GQuang M cũng thống nhất
với ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thanh P.
chưa yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả Hợp đồng nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất từ mẹ ruột là bà Nguyễn Thị P2 sang cho bà phần đất
1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh diện tích 784m
2
được cấp giấy
ngày 06/6/2016 nếu như Tòa án tuyên vô hiệu.
Bị đơn Thị Thanh L trình bày và yêu cầu theo đơn ngày 05/9/2025:
chủ sử dụng các thửa đất 1108, 697 tbản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh
đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/8/2025 do cha
mẹ bà để lại cho bà. Hiện nay trên đất có nhà ông P, ông S tường rào. Nay bà
9
đề nghị Tòa án buộc ông P ông S phải tháo dỡ nhà cấp 4 kết cấu: vách tường,
mái tole, nền gạch hàng rào gạch bloc lưới B40 bao quanh đất để trả lại đất cho
bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị L1 người đại diện là ông
Bùi Văn T4 trình bày: Ngày 28/5/2025 bà L1 có cho bà Lý Thị Thanh Y1 vay số
tiền 1.500.000.000 đồng (một tnăm trăm triệu đồng) để làm ăn, lãi suất theo thỏa
thuận miệng 2.5%/tháng. Hai bên m giấy cam kết mượn tiền ghi ngày
28/5/2025. Để làm tin thì Y1 chuyển nhượng cho L1 thửa đất 1413 tờ
bản đồ số 8, xã H, tỉnh Tây Ninh (nay là thửa 414 tờ bản đồ số 9 tỉnh Tây Ninh).
Hợp đồng do Văn phòng C6 Dự chứng thực số công chứng 1247, quyển số
01/2025/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/5/2025. Sau khi vay tiền Y1 trả được
03 tháng tiền lãi nhưng từ tháng 8/2025 đến nay Y1 vi phạm nghĩa vụ thanh
toán lãi nên L1 đã làm thủ tục đứng tên thửa đất nói trên của Y1 được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 06044632, số vào sổ CN 27468 do
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực Đ cấp ngày 24/12/2025. Nay
L1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Y1 phải trả cho 1.500.000.000
đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) lãi suất theo mức lãi 2.5%/tháng. Thời
gian từ ngày 28/8/2025 đến khi xét xử thẩm. Số tiền lãi L1 nhận từ
Y1 145.500.000 đồng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C4 tỉnh Long An nay
Văn phòng công chứng Văn N2 trình bày: Phòng C7 tỉnh Long An chứng
thực Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế được xác lập vào ngày
10/4/2008, Công chứng số: 221, quyển số 01TP/CC-SCC/TK. Quá trình công
chứng là đúng theo trình tự luật định. Đồng thời Văn phòng C4 tỉnh Long An xin
xét xử vắng mặt.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C5 trình bày: Văn
phòng C5 chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn
Thị P2 với bà Lý Thị Thanh Y1 vào ngày 04/5/2016 công chứng số: 6293, quyển
số 03TP/CC-SCC/HĐGD liên quan phần thửa đất 259, tờ bản đồ số 8, diện tích
784m
2
, địa chỉ thửa đất: ấp T, H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây
Ninh). Việc chứng thực là đúng trình tự luật định. Văn phòng C5 xin xét xử vắng
mặt.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 (nay Văn phòng
C3) trình bày: Văn phòng C3 có chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vào ngày 28-5-2025 giữa bà Thị Thanh Y1 với Thị L1 liên
quan thửa đất 1413, diện tích 784m
2
, tờ bản đsố 8, địa chỉ: ấp T, xã H, huyện Đ,
tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh). Việc chứng thực hợp đồng nói trên
đúng theo trình tự luật định. Đồng thời Văn phòng C3 xin xét xử vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND H trình bày: Ủy ban nhân
dân H chứng thực văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
17/6/2025, số chứng thực: 64 Quyển 01/2025-SCT/HĐ,GD. Việc chứng thực Văn
10
bản nói trên là đúng trình tự thủ tục theo trình tự luật định. Đồng thời UBND
H xin xét xử vắng mặt.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh H trình bày: ông
chồng Thị Thanh Y1, ông thống nhất lời trình bày của Y1. Ông xin
xét xử vắng mặt.
Người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn S trình bày: Ngày
29/11/1996, ông Bùi Thanh P có mua đất của ông Lý Quang B (là cha của bà
Thị Thanh Y1 Thị Thanh L) đất thuộc thửa 259 tờ bản đồ số 8 H, tỉnh
Tây Ninh với diện tích 2.345m
2
. Khi mua đất thì ông P có mượn tiền ông để mua.
vậy sau khi mua xong ông P chia lại cho ông một phần đất. Ngày 29/3/1997,
ông ông P làm giấy tay mua bán qua đo đạc thực tế 1.765,7m
2
(đất
chiều ngang 26m x dài hết đất) Ngay sau khi nhận đất thì ông đã làm hàng rào
bao quanh toàn bộ khu đất bằng gạch bloc rào bằng lưới B40. Để xác định
quyền sở hữu ngay sau đó ông xây nhà trên đất để ở. Đến năm 2000, Nhà nước
hỗ trợ xây căn nhà tình nghĩa để cho mẹ vợ ông ông ở. Hiện nay căn nhà
vẫn n đang tồn tại trên đất ông cũng đang sử dụng. Ông gia đình ổn
định trên nhà đất này từ ngày 29/3/1997 đến 2023. Khi ông xây tường rào và xây
nhà trên đất lúc đó ông Quang B vẫn còn sống và thấy nhưng chẳng phản
đối gì. Tất cả chị em của L, Y1 đều thấy biết nhưng chẳng ai phản đối
hay ngăn cản gì. Đến ngày 14/02/2023 ông làm giấy thỏa thuận chuyển nhượng
lại toàn bộ khu đất này căn nhà tình nghĩa trên đất cho ông P (ông P là cháu
kêu ông bằng cậu ruột), ông đã nhận đủ tiền từ ông P. Nay các L Y1 yêu
cầu ông và ông P tháo dỡ nhà và hàng rào ông không đồng ý. Ông cam kết toàn
bộ nhà đất này ông đã chuyển nhượng lại cho ông P để ông P liên hệ với gia đình
ông B, bà P2 yêu cầu thực hiện việc chuyển nhượng tách giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, ông không tranh chấp gì.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện Nguyễn Thị G2,
Đào Thị Bích D1, Đào Thanh G1, Đào Thị T1 và Đào Văn T2 trình bày: Xác định
căn nhà tình nghĩa cất trên đất thửa 697 tờ bản đồ số 9 xã H của bà mẹ các
ông bà Nguyễn Thị D chết để lại trên đất của ông S. Các ông bà thống nhất giao
ông S sở hữu tự định đoạt. Các ông không tranh chấp xin xét xử vắng
mặt.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T3 trình bày: Ông
T3 là chồng của L1, ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà L1, không bổ
sung gì và xin xét xử vắng mặt.
Nguyên đơn ông Bùi Thanh P do ông Y1 đại diện trình bày ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện củaY1, bà L: không đồng ý với yêu cầu của bà L, bà Y1 về
việc tháo dỡ tài sản và buộc giao đất lại cho các bà.
Tại Bản án dân sự thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2026
Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 270/2026/QĐ-SCBSBA ngày 30 tháng
6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh đã xử:
11
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều
227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
các Điều 117, khoản 2 Điều 221, các Điều 385, 401, 500, 501, 502, 503, 466
468 Bộ luật dân sự; các Điều 26, Điều 37, Điều 45, Điều 137 Luật đất đai; căn cứ
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thanh P Nguyễn
Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công
nhận quyền sử dụng đấtvới những người thừa kế của ông Quang B
Nguyễn Thị P2. Các yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận như sau:
1.1. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996”, giữa ông Bùi Thanh P với cụ
Quang B liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
1.2. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo giấy Thoả thuận sang nhượng đất ngày 14/02/2023”, giữa ông Bùi Thanh
P với ông Đặng Văn S liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 Hòa
Khánh, tỉnh Tây Ninh
1.3. hiệu Biên bản thoả thuận giữa cụ Nguyễn Thị P2 với ông Bùi
Thanh P ngày 25/11/2011 liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H,
tỉnh Tây Ninh nội dung: “Kể từ ngày 25/11/2011 giữa ông P và bà P2 không
còn liên quan gì về quyền nghĩa vụ đối với việc chuyển nhượng đất theo giấy
nhận vàng và giấy sang nhượng đất đã ký trước đây...”.
1.4. hiệu một phần Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế được
xác lập vào ngày 10/4/2008, tại Văn phòng C4, tỉnh Long An. Công chứng số:
221, quyển số 01TP/CC-SCC/TK. Người được hưởng thừa kế di sản cụ Nguyễn
Thị P2, thuộc một phần thửa đất 259 tờ bản đồ số 8 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) (nay là các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H,
tỉnh Tây Ninh) với diện tích 1.791,1m
2
1.5. Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị P2
với Thị Thanh Y1, ngày 04/5/2016, tại Văn phòng C5, tỉnh Long An. Công
chứng số: 6293, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD. Đối với một phần thửa đất 259,
tờ bản đồ số 8, diện tích 784m
2
, địa chỉ thửa đất: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay xã H, tỉnh Tây Ninh) (nay là thửa 414 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh
có diện tích là 734,9m
2
. Loại đất HNK
1.6. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
28/5/2025 do Văn phòng C6 Dự chứng thực giữa bà Thị Thanh Y1 chuyển
nhượng cho bà Vũ Thị L1 thửa đất 1413 diện tích 784m
2
tờ bản đồ số 8 tại ấp T,
H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh), mục đích sử dụng: Đất
trồng cây hàng năm khác. Nay thành thửa mới 414(mpt) diện tích 734,9m
2
TBĐ
số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
12
1.7. hiệu một phần Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
17/6/2025, được UBND H chứng thực số: 64 Quyển 01/2025-SCT/HĐ,GD liên
quan đến phần thửa 1108 diện tích 569m
2
. Loại đất HNK; một phần thửa 697 diện
tích 462m
2
. Loại đất ONT tất cả thuộc tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh do
Lý Thị Thanh L nhận thừa kế của bà Nguyễn Thị P2.
1.8. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Lý Quang B, và
cụ Nguyễn Thị P2 gồm: bà Thị Thanh Y1, ông Lý Vĩnh T, ông Vĩnh K, bà
Thị Ngọc P1, bà Thị Thanh L, Thị Ngọc G, ông Quang M phải
làm thủ tục chuyển quyền sdụng đất cho ông Bùi Thanh P Nguyễn Thị N một
phần thửa đất số 259 tờ bản đồ số 8 H, tỉnh Tây Ninh trước đây do ông
Quang B đứng tên có diện tích đo đạc thực tế hiện nay: 1.770,9m
2
thuộc các thửa
414, 1108 (mpt) 697 tbản đồ số: 9 H, tỉnh Tây Ninh. Loại đất ONT, HNK
do Thị Thanh L Thị Thanh Y1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
1.9. Công nhận Căn nhà tình nghĩa do UBND huyện Đ cấp cho cụ Nguyễn
Thị D mẹ Liệt (chết) thuộc quyền shữu của ông Bùi Thanh P và Nguyễn
Thị N tọa lạc trên thửa đất 697 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
1.10. Công nhận quyền sử dụng đất thửa 1108(mpt), tbản đồ số 9 H,
tỉnh Tây Ninh diện tích 569m
2
tại khu A; thửa 697(mpt) tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh
Tây Ninh có diện tích 5m
2
thuộc khu D; thửa 697(mpt) tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh
Tây Ninh diện tích 462m
2
thuộc khu E; thửa 414 (mpt) tờ bản đồ số 9 H,
tỉnh Tây Ninh có diện tích 734,9m
2
,
thuộc khu F với tổng diện tích đo đạc thực tế:
1.770,9m
2
theo trích đo bản đồ địa chính số 568-2025 được Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh, duyệt ngày 08/12/2025 là thuộc quyền
sử dụng của ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N.
1.11. Công nhận quyền sử dụng đất thửa 1108(mpt) thuộc khu B diện tích
179m
2
loại đất ONT và thửa 697(mpt) thuộc khu C diện ch 24m
2
loại đất
HNK do Thị Thanh L đứng tên quyền sử dụng đất với tổng diện tích
203m
2
cho ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N.
1.12. Ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N được liên hệ cơ quan có thẩm
quyền khai đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích
1994,1m
2
. Loại đất ONT HNK tại các thửa 414, 1108, 697 tờ bản đồ s9
H, tỉnh Tây Ninh. Vị trí đất theo Mảnh trích đo do Công ty TNHH Đ1 lập được
Chi nhánh n phòng C5 duyệt ngày 08/12/2025.
1.13. Buộc bà Lý Thị Thanh LThị Thanh Y1 nộp lại bản chính giấy
chứng nhận tại các thửa 414, 1108, 697 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh cho
quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N các thửa đất nói trên.
2. Buộc ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N liên đới hoàn giá trị quyền
sử dụng đất cho Thị Thanh L 564.556.000 đồng (năm tm sáu mươi bốn
triệu năm trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu bà Thị Thanh Y1 về việc buộc ông Đặng
Văn S, ông Bùi Thanh P trách nhiệm tháo dỡ, di dời hàng rào B40 trên thửa
đất số 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh trả lại cho phần đất có diện tích
13
784m
2
thuộc thửa đất số 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh. Nay thửa đất
414 tờ bản đồ số 9 đất tọa lạc xã H, tỉnh Tây Ninh.
4. Chấp nhận yêu cầu bà Thị Thanh Y1 về việc hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa Lý Thị Thanh Y1 với Thị L1 được
chứng thực ngày 28/5/2025 liên quan đến thửa đất 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh
Tây Ninh có diện tích 784m
2
do n phòng C6 Dự chứng thực số 1247 quyển số
01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD.
5. Chấp nhận yêu cầu của Thị Thanh Y1 đối với Vũ Thị L1 về
việc điều chỉnh lãi suất từ 2.5%/tháng về mức lãi 1.66%/tháng. Thời gian từ ngày
28/5/2025 đến khi xét xử sơ thẩm trên số tiền 1.500.000.000 đồng.
6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Thanh L về việc buộc
ông Bùi Thanh P ông Đặng Văn S phải tháo dỡ nhà cấp 4 kết cấu: vách
tường, mái tole, nền gạch và hàng rào gạch bloc lưới B40 bao quanh đất để trả lại
đất cho bà thuộc thửa 697 và 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
7. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bà Vũ Thị L1 về việc “tranh chấp
hợp đồng vay tài sản” với bà Lý Thị Thanh Y1.
Buộc Thị Thanh Y1 ông Phạm Minh H phải liên đới trả cho
Thị L1 số tiền gốc 1.500.000.000 đồng lãi 99.350.000 đồng. Tổng
cộng là 1.599.350.000 đồng (một tỷ năm trăm chín mươi chín triệu ba trăm năm
mươi ngàn đồng).
8. Không chấp nhận yêu cầu của Thị L1 về việc đòi Thị Thanh
Y1 trả số tiền lãi 116.900.000 đồng (một trăm mười sáu triệu chín trăm ngàn
đồng).
9. Buộc Thị L1 nộp lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số: 25044632, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CN 27468, thửa đất số 414 tờ
bản đồ số 9, diện tích: 784m
2
, loại đất: Đất trồng cây hằng năm khác, địa chỉ:
H, tỉnh Tây Ninh, do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây
Ninh, cấp cho Thị L1 ngày 24/12/2025 cho quan Nhà nước thẩm
quyền thu hồi để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Thanh
P và bà Nguyễn Thị N.
10. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lý Thị Thanh LLý Thị Thanh Y1 chịu
75.000.000 đồng chi phí tố tụng nộp hoàn trả cho ông Bùi Thanh P.
Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi nh xong tất cả các khoản tiền, bên
nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả
theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời
gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật
có quy định khác.
11. Về án phí dân sự sơ thẩm:
14
11.1.Buộc những người thừa kế ông Quang B Nguyễn Thị P2 gồm
Lý Thị Thanh Y1, ông Lý Vĩnh T, ông Lý Vĩnh K, bà Lý Thị Ngọc P1, bà Lý
Thị Thanh L, Thị Ngọc G, ông Quang M liên đới nộp 2.700.000 đồng
án phí dân sự thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước đối với các yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
11.2.Buộc Lý Thị Thanh Y1 Thị Thanh L mỗi người phải nộp
300.000 đồng đối với yêu cầu buộc ông P1 và ông S tháo dỡ tài sản không được
chấp nhận. Số tiền bà Y1 được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng
theo biên lai số 0004000 ngày 09/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Số tiền bà L được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tại biên lai số 0003907 ngày
05/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
11.3.Buộc bà Thị Thanh Y1 ông Phạm Minh H liên đới chịu án phí
trả tiền cho bà L1 59.980.500 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền
Y1 tạm ứng 300.000 đồng tại biên lai số 0000319 ngày 07/01/2016 tại Thi hành
án dân sự tỉnh Tây Ninh được khấu trừ vào án phí. Như vậy ông H và bà Y1 còn
phải nộp tiếp 59.580.500 đồng.
11.4.Buộc Thị L1 phải nộp 5.840.000 đồng án pdân sự thẩm
sung vào Ngân sách Nhà nước và 300.000 đồng về việc hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất với bà Y1. Tổng cộng L1 chịu 6.140.000 đồng.
Số tiền L1 tạm ứng 33.198.000 đồng theo các biên lai số 0004066 ngày
04/3/2026 và biên lai s0002794 ngày 05/02/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh được khấu trừ vào án phí. H1 lại cho L1 27.058.000 đồng theo các
biên lai nêu trên.
11.5. Ông Bùi Thanh P Nguyễn Thị N được miễn án phí nên không
đề cập để hoàn lại.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 24/3/2026 Thị Thanh Y1, Thị Thanh L kháng cáo đề
nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 09/4/2026, Thị L1 kháng cáo đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương skhông thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Phạm Văn N1 người đại diện theo ủy quyền của Thị Thanh
Y1, bà Lý Thị Thanh L trình bày nội dung kháng cáo:
Trong vụ án nhiều dấu hiệu bất thường cần được cấp phúc thẩm xem
xét, làm rõ, nhất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1996 giữa
ông P với ông B, bà P2 đã được thanh lý năm 2011 nên ông P không còn quyền,
15
nghĩa vụ liên quan đến tài sản; việc cấp sơ thẩm sử dụng bản hợp đồng photo làm
chứng cứ không phù hợp quy định tố tụng. Năm 2021, ông P từng khởi kiện
nhưng sau đó rút đơn và vụ án đã được đình chỉ; đến năm 2023, sau khi ông S
giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P, ông P mới khởi kiện lại các
đồng thừa kế của P2, làm phát sinh nhiều mâu thuẫn về nguồn gốc quyền
đối với tài sản. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét toàn diện chứng cứ, chấp nhận
kháng cáo, sửa án thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nguyên đơn Thị Thanh Y1 trình bày: Nguồn gốc thửa đất 1413
được mẹ là cụ Nguyễn Thị P2 tặng cho quyền sử dụng đất, do cần tiền nên bà có
vay của bà Vũ Thị L1 1.500.000.000 đồng ngày 28/5/2025, hai bên thỏa thuận lãi
suất 2.5 %/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả, hai bên thỏa thuận miệng khi nào
làm tiền thì trả lại, để làm tin cho tiền vay giữa bà bà L1 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất, L1 tự ý đăng cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Nhiều lần trả tiền lãi cho L1 với tổng stiền lãi 145.500.000
đồng như L1 trình bày nhưng bà không nhớ cụ thể từng tháng đóng số tiền bao
nhiêu, chỉ nhớ đóng lãi không đều. đồng ý trả lãi như bản án thẩm đã
tuyên, bà không đồng ý với kháng cáo của bà L1. Đối với phần đất tranh chấp từ
khi nhận tặng cho đến nay bà chưa nhận đất, chưa được sử dụng đất nên đề nghị
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn bà Lý Thị Thanh L trình bày: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của
cha, mẹ bà để lại, từ trước đến nay gia đình chưa được sử dụng, đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị L1 trình bày kháng cáo:
Ngày 28/5/2025 L1 cho Thị Thanh Y1 vay số tiền
1.500.000.000 đồng để làm ăn, lãi suất theo thỏa thuận miệng là 2.5%/tháng. Hai
bên có làm giấy cam kết mượn tiền ghi ngày 28/5/2025. Để làm tin thì bà Y1
chuyển nhượng cho bà L1 thửa đất 1413 tờ bàn đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh (nay
là thửa 414 tờ bản đồ số 9 tỉnh Tây Ninh). Hợp đồng do Văn phòng C6 Dự chứng
thực số công chứng 1247, quyển số 01/2025/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/5/2025.
Sau khi vay tiền Y1 trả được 03 tháng tiền lãi nhưng từ tháng 8/2025 đến
nay Y1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán lãi nên L1 đã làm thủ tục đứng tên thửa
đất nói trên của Y1 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA
06044632, số vào sổ CN 27468 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực
Đ cấp ngày 24/12/2025.
L1 yêu cầu Y1 phải trả cho 1.500.000.000 đồng tiền gốc lãi
suất theo mức lãi 2.5%/tháng, thời gian từ ngày 28/8/2025 đến khi xét x
thẩm tiền lãi tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đến khi trả xong tiền. Số tiền
lãi bà L1 có nhận từ bà Y1 là 145.500.000 đồng. Không đồng ý cho trả dần.
Nội dung giấy nợ ghi thời hạn vay tngày 28/5/2025 đến tháng 12/2025
tẩy xóa là do bà tự ghi sau này.
16
Nguyên đơn do ông Phạm Văn Y là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Từ khi nhận chuyển nhượng đất từ năm 1996 ca ông Quang B. Ông B1 đã
giao đất cho ông P và ông S sử dụng liên tục đến nay, gia đình ông B và các con
địaa phương đều biết nhưng không ai ý kiến hay phản đối gì. Đối với phần
đất của ông P và bà P2 vợ của ông B thỏa thuận năm 2011 không liên quan đến
phần đất của ông S. Ông B những người thừa kế của ông B từ trước đến nay
không sử dụng đất, không tài sản của họ trên đất. Do đó, đề nghị không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn. Đối với số tiền vay giữa bà Y và bà L1 do không liên
quan đến quyền lợi của nguyên đơn nên nguyên đơn không có ý kiến gì.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn S, Đào Thị T1
trình bày: Ông, bà thống nhất với trình bày, yêu cầu của ông P, không yêu cầu gì
cho cá nhân ông, bà. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện đxem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án đối với kháng cáo của đương sự:
Lý Thị Thanh Y1, bà Lý Thị Thanh L yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bà.
Thị L1 yêu cầu sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu
độc lập của bà.
Xét kháng cáo của bà Lý Thị Thanh Y1, bà Lý Thị Thanh L:
Khi còn sống, ông Quang B lập “Giấy sang nhượng đất ngày
29/11/1996” để chuyển nhượng cho ông Bùi Thanh P phần đất có diện tích
khoảng 2,3 công đất tại ấp T, H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây
Ninh) với giá chuyển nhượng 29.078.000 đồng. Nội dung giấy sang nhượng thể
hiện ông B đã nhận đủ tiền chuyển nhượng giao đất cho ông P quản lý, sử
dụng.
Mặc dù bản chính giấy sang nhượng hiện không còn do gia đình Lý Thị
Thanh Y1 đã thu hồi vào ngày 25/11/2011, tuy nhiên trong quá trình giải quyết
vụ án, chính các đương sự những người thừa kế của ông Quang B bà
Nguyễn Thị P2, gồmThị Thanh Y1, ông Vĩnh T, ông Vĩnh K,
Thị Ngọc P1, Thị Thanh L, bà Thị Ngọc G ông Quang M đều
thống nhất xác nhận khi ông B còn sống có lập giấy tay chuyển nhượng quyền s
dụng đất cho ông Bùi Thanh P theo “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996” với
nội dung như nêu trên. Các đương sự đều thừa nhận đây là giao dịch có thật. Do
đó, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện hợp đồng cũng thể hiện các bên đã thực hiện xong các
nghĩa vụ cơ bản của giao dịch chuyển nhượng. Ông B đã nhận đủ tiền và giao đất
cho ông P. Sau khi nhận đất, ngày 29/3/1997, ông P chuyển nhượng bằng giấy tay
17
cho ông Đặng Văn S phần diện tích có chiều ngang khoảng 26m, dài hết đất, sau
khi đo đạc thực tế 1.765,7m². Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, ông S đã quản
lý, sử dụng ổn định, liên tục và công khai; xây dựng hàng rào bằng gạch bloc
lưới B40 bao quanh toàn bộ khu đất; cất nhà để ở, đến năm 2000 được Nhà
nước xây dựng nhà tình nghĩa cho mẹ vợ ông S trên chính phần đất này, hiện căn
nhà vẫn còn tồn tại. Đồng thời, ông S còn trồng nhiều cây lâu năm trên đất và sử
dụng liên tục cho đến khi chuyển nhượng lại cho ông P vào ngày 14/02/2023. Đối
với phần diện tích còn lại khoảng 9m ngang, ông P trực tiếp quản lý, sử dụng.
Quá trình sử dụng đất nêu trên diễn ra trong thời gian dài, công khai, liên
tục, không bị ông Lý Quang B, bà Nguyễn Thị P2 hoặc những người thừa kế của
ông bà ngăn cản, tranh chấp hay yêu cầu giao trả đất. Điều này thể hiện giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B ông P đã được các bên tự nguyện
thực hiện trên thực tế, bên chuyển nhượng đã giao đất, bên nhận chuyển nhượng
đã nhận đất, quản lý, sử dụng ổn định, phù hợp với ý chí của các bên khi xác lập
giao dịch.
Theo hồ vụ án, ngày 25/11/2011, Nguyễn Thị P2 chỉ thực hiện thủ
tục chuyển quyền cho ông P đối với phần diện tích khoảng 508m² (ngang 9m) là
phần ông P trực tiếp quản lý, sử dụng. Trên sở đó, ngày 06/01/2012, ông P
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1209, tbản đồ
số 8, diện tích 508m². Riêng phần diện tích khoảng 1.742m² (thực tế đo đạc
1.765,7m²) do ông Đặng Văn S đang quản lý, sử dụng thì bà P2 không thực hiện
thủ tục chuyển quyền và ông S cũng không tham gia ký kết hay có bất kỳ ý kiến
nào đối với văn bản thỏa thuận ngày 25/11/2011.
Mặt khác, tại thời điểm lập văn bản này, bà P2 biết rõ phần đất nêu trên do
ông S đang quản lý, đã xây dựng nhà ở, hàng rào, trồng cây lâu năm nhưng không
yêu cầu ông S giao trả đất, đồng thời P2 cũng không hoàn trả số tiền chuyển
nhượng trước đây ông B đã nhận. Như vậy, nội dung thỏa thuận ngày
25/11/2011 liên quan đến việc chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với toàn bộ giao dịch
chuyển nhượng năm 1996 trong khi phần đất đang do ông S quản lý, sử dụng hợp
pháp trên thực tế không tham gia giao dịch thỏa thuận đối tượng không
thể thực hiện được, không làm phát sinh hậu quả pháp đối với phần diện tích
đất do ông S quản lý. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thỏa thuận này vô hiệu
đối với phần diện tích đất nêu trên là có căn cứ.
Sau khi nhận chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất từ ông Đặng Văn S theo
giấy chuyển nhượng ngày 14/02/2023, ông Bùi Thanh P tiếp tục người nhận
chuyển nhượng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất theo Giấy sang nhượng
ngày 29/11/1996 và có quyền yêu cầu những người thừa kế của ông Lý Quang B
và bà Nguyễn Thị P2 thực hiện nghĩa vụ về chuyển quyền sử dụng đất mà người
chết để lại. Việc Tòa án cấp thẩm công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996” giữa
ông Quang B và ông Bùi Thanh P phù hợp với quá trình thực hiện hợp đồng
trên thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật theo hướng dẫn tại tiết b.3,
18
tiểu điểm b, điểm 2.3 Mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/5/2025 do Văn
phòng C6 Dự chứng thực giữa Thị Thanh Y1 chuyển nhượng cho
Thị L1 thửa đất 1413 diện tích 784m
2
tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh
Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh), mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm
khác. Nay thành thửa mới 414(mpt) diện tích 734,9m
2
TBĐ số 9 xã H, tỉnh Tây
Ninh. Xét thấy, phần đất này đã chuyển nhượng cho ông P 1996, ông P đã chuyển
nhượng cho ông S sử dụng từ 1997 đến 2023 thì ông S chuyển nhượng lại cho
ông P quản sử dụng nên Y1 đứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nhưng thực chất không quản đất chuyển nhượng giả tạo cho L1 để
vay tiền. Do đó yêu cầu của ông P N vviệc đề nghị tuyên hiệu hợp đồng
chuyển nhượng này là có căn cứ chấp nhận.
Từ phân tích trên, bà Lý Thị Thanh Y1 yêu cầu buộc ông Đặng Văn S, ông
Bùi Thanh P có trách nhiệm tháo dỡ, di dời hàng rào B40 trên thửa đất số 1413 tờ
bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh trả lại cho bà phần đất có diện tích 784m
2
thuộc
thửa đất số 1413 tbản đồ số 8 H, tỉnh Tây Ninh, nay thửa đất 414 tờ bản
đồ số 9 đất tọa lạc H, tỉnh Tây Ninh; Thị Thanh L yêu cầu buộc ông P
ông S phải tháo dỡ nhà cấp 4 kết cấu: vách tường, mái tole, nền gạch
hàng rào gạch bloc lưới B40 bao quanh đất để trả lại đất cho không có căn
cứ chấp nhận.
Xét kháng cáo của bà Vũ Thị L1 u cầu buộc bà Lý Thị Thanh Y1 phải trả
cho bà 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) và lãi suất theo mức lãi
là 2,5%/tháng:
Giữa các bên có thỏa thuận vmức lãi suất 2,5%/tháng. Tuy nhiên, mức lãi
suất này vượt quá giới hạn lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân snăm
2015. Theo quy định của pháp luật, trường hợp các bên thỏa thuận mức lãi suất
vượt quá mức tối đa thì phần lãi suất vượt quá không hiệu lực pháp luật.
vậy, Tòa án cấp thẩm điều chỉnh mức lãi suất xuống tương ứng mức tối đa
20%/năm (tương đương khoảng 1,66%/tháng) là phù hợp với quy định của pháp
luật. Trên sở mức lãi suất được điều chỉnh, tiền lãi phát sinh trên khoản vay
1.500.000.000 đồng trong thời gian từ ngày 28/5/2025 đến ngày 23/3/2026 được
xác định 244.850.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Y1 đã thanh
toán cho L1 số tiền 145.500.000 đồng, do đó stiền lãi còn phải thanh toán chỉ
còn 99.350.000 đồng. Do đó, yêu cầu kháng cáo của L1 đnghị tính lãi theo
mức 2,5%/tháng với số tiền 216.250.000 đồng, nhận thấy yêu cầu này không
căn cứ chấp nhận vì trái với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bản án thẩm tuyên lãi phải trả của tiền vay Khi án hiệu lực pháp
luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong chưa phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết
01/2019/NQ-TP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao quy định: Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng
19
các bên thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của
ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong…” nên cần sửa nội dung này
cho phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của Y1, L;
chấp nhận một phần kháng cáo của L1, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của Lý Thị Thanh Y1, bà Thị Thanh L, bà Vũ Thị L1
được thực hiện đúng nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 272, Điều 273 B
luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn Y, ông Phạm Văn N1, Thị
Thanh Y1, Thị Thanh L, Vũ Thị L1, ông Đặng Văn S, bà Đào Thị T1
mặt, các đương sự còn lại vắng mặt, đã được tống đạt hợp lệ, văn bản yêu cầu giải
quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Ttụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử v
án.
[2] Về nội dung vụ án:
Các đương sự tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp
đồng vay tài sản tranh chấp công nhận quyền sử dụng đất liên quan đến thửa
đất số 1108 gồm: khu A diện tích 569m
2
, khu B diện tích 179m
2
; thửa đất
số 697 gồm: khu C có diện tích 24m
2
, khu D có diện tích 5m
2
, khu E có diện tích
462m
2
; thửa đất số 414 gồm khu F có diện tích 734,9m
2
,
cùng thuộc tờ bản đồ số
9, H, tỉnh Tây Ninh theo trích đo bản đồ địa chính số 568-2025 được Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh, duyệt ngày 08/12/2025.
Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận
một phần yêu cầu của Thanh Y1, Thị L1. Sau khi xét xử thẩm, bà
Thị Thanh Y1, Thị Thanh L kháng cáo yêu cầu sửa bản án thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu của bà Y1, bà L. Vũ Thị L1 kháng cáo yêu cầu sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của bà. Các đương sự còn
lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án thẩm kháng
cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn Thị Thanh Y1 bà Thị Thanh L
về việc đề nghị sửa bản án thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy, thấy rằng:
[3.1] Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Ngày 09/10/1996, ông Qung B2 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 40044m
2
gồm các thửa đất 451,
453, cùng tờ bản đồ số 3; thửa 54, 70, 72, cùng tờ bản đồ số 4; thửa 225, 257, 258,
20
259, 284, 285, 286, 316, 319 cùng tờ bản đồ số 8; đất cùng tọa lạc tại xã H, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh).
Ngày 10/4/2008, Văn phòng C4, tỉnh Long An công chứng Văn bản thoả
thuận phân chia di sản thừa kế số: 221, quyển số 01TP/CC-SCC/TK. Người được
hưởng thừa kế di sản là cụ Nguyễn Thị P2 trong đó có thửa đất 259 tờ bản đồ số
8 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh), nay là các thửa 414,
697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh) với diện tích 1.791,1m
2
.
Ngày 15/07/2011, UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số:
194118, số vào sổ cấp GCN 00457, cho bà Nguyễn Thị P2 thửa đất 259 tờ bản đồ
số 8.
Ngày 04/05/2016, bà P2 làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà
Lý Thị Thanh Y1 thửa đất 259 (một phần thửa), tờ bản đồ số 8, diện tích: 784m
2
,
tọa lạc ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) được
Văn phòng C5 công chứng số: 6293, quyển số 03TP/CC/HĐGD (nay là thửa 414
tờ bản đồ 9 xã H).
Ngày 06/06/2016, bà Lý Thị Thanh Y1 được Sở tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp giấy CN QSDĐ số: CĐ 492388, Số vào sổ cấp GCN: CS 00121, thửa
đất số 1413 tờ bản đồ số 8, diện tích 784m
2
, ấp T, H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay là thửa 414 tờ bản đồ 9 xã H, tỉnh Tây Ninh).
Ngày 28/5/2025, Văn phòng C2 công chứng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà Lý Thị Thanh Y1Thị L1 thửa đất 1413, diện
tích 784m
2
tờ bản đồ số 8 tại ấp T, H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh
Tây Ninh) mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác (nay thửa 414 tờ
bản đồ 9 xã H, tỉnh Tây Ninh).
Ngày 24/12/2025, Thị L1 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền s
hữu tài sản gắn liền với đất số: 25044632, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CN
27468, thửa đất số 414 tờ bản đồ số 9 diện tích: 784m
2
, loại đất: Đất trồng cây
hằng năm khác, địa chỉ xã H, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 17/06/2025, bà Lý Thị Thanh L được hưởng phần di sản thừa kế của
cụ Nguyễn Thị P2 chết ngày 30/05/2017 để lại thửa đất số 697 tờ bản đồ số 9
H, tỉnh Tây Ninh diện tích 491m
2
; thửa đất số 1108 tờ bản đồ số 9 H, tỉnh
Tây Ninh diện tích 748m
2
được UBND H, huyện Đ, tỉnh Long An, chứng
thực số: 64 quyển 01/2025-SCT/HĐ,GD (nguồn gốc phần thửa 259 T8
xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) trên đất có nhà ông S.
Ngày 08/08/2025, bà Thị Thanh L được Chi nhánh Văn phòng C5 cấp
02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: GCN QSDĐ số: AA 03771997, thửa
đất số 1108 tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh có diện tích 748m
2
, loại đất: Đất
trồng cây hằng năm khác và GCN QSDĐ số: AA 03771999, thửa đất số 697, tờ
bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh diện tích 491m
2
, loại đất: Đất ở tại nông thôn.
21
Như vậy, vị trí đất tranh chấp thuộc thửa đất số 1108, 697 hiện do
Thị Thanh L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa 414 hiện
Thị L1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không quản lý, sử
dụng đất. Các đương sự thống nhất trên đất tranh chấp không tài sản của bị
đơn.
[3.2] Về nguồn gốc đất hiệu lực của “Giấy sang nhượng đất ngày
29/11/1996”:
Nguyên đơn bị đơn (là những người thừa kế của ông Quang B
Nguyễn Thị P2 gồm: Lý Thị Thanh Y1, Lý Vĩnh T, Vĩnh K, Lý Thị Ngọc P1,
Lý Thị Thanh L, Lý Thị Ngọc G và Lý Quang M) trình bày thống nhất khi ông B
còn sống lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Bùi Thanh P theo
giấy tay: “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996”. Giấy có nội dung: “...Tôi tên
Quang B ngụ tập đoàn G4, ấp T, H có nhượng số đất 23 cao 45 tại
tập đoàn G ấp T đông: Giáp Mừng, tây: Giáp ba Bửu, nam: Giáp ba Bửu, bắc:
Giáp Ú. Tôi nhượng cho ông Bùi Thanh P cư ngụ Tập đoàn A, ấp T, H. Số đất
nói trên quy ra tiền là 29.078.000 đồng đã giao đủ số tiền trên cho ông B, ông B
đã nhận đủ số tiền nói trên...”. Vị trí đất này chính là các thửa 414, 697, 1108 tờ
bản đồ số 9 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh).
Mặc dù bản chính giấy sang nhượng đã bị phía gia đình bị đơn thu hồi vào
ngày 25/11/2011, nhưng trong suốt quá trình giải quyết ván, tất cả các đồng thừa
kế của cụ Quang B và cụ Nguyễn Thị P2 đều xác nhận giao dịch này thật.
Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây tình tiết, sự kiện
không phải chứng minh. Nội dung văn bản thể hiện cụ B đã nhận đủ tiền và bàn
giao đất cho ông P quản lý, sử dụng. Như vậy, giao dịch chuyển nhượng năm 1996
đã hoàn thành về mặt nghĩa vụ bản, phù hợp với ý chí tự nguyện của các bên
tại thời điểm xác lập.
[3.3] Về quá trình quản lý, sử dụng đất thực tế:
Sau khi nhận bàn giao đất tcụ B, ngày 29/3/1997, ông Bùi Thanh P đã
chuyển nhượng lại bằng giấy tay cho cậu ruột là ông Đặng Văn S phần diện tích
có chiều ngang 26m, qua đo đạc thực tế 1.765,7m². Ngay sau khi nhận đất, ông
S đã xây dựng hàng rào bằng gạch bloc kết hợp lưới B40 bao quanh toàn bộ khuôn
viên, cất nhà để ở, trồng nhiều cây lâu năm sdụng ổn định, liên tục. Đến
năm 2000, ông S được Nhà nước hỗ trợ xây dựng một căn nhà tình nghĩa cho mẹ
vợ (là mẹ Liệt sĩ) trên chính phần đất này. Đến ngày 14/02/2023, ông S lập văn
bản chuyển nhượng lại toàn bộ nhà đất nêu trên cho ông Bùi Thanh P sở hữu
quản lý. Hội đồng xét xử nhận thấy, toàn bộ quá trình xây dựng nở, tường
rào canh tác của ông S diễn ra công khai, xuyên suốt từ năm 1997 đến năm
2023. Thời điểm đó, cụ Lý Quang B n sống và các thừa kế của cụ (bao gồm
Y1, bà L) đều cư trú tại địa phương, biết rõ sự việc nhưng không có bất kỳ hành
vi ngăn cản, khiếu nại hay tranh chấp nào. Điều này chứng minh quyền chiếm
hữu, sử dụng đất của ông S và sau này là ông P là hoàn toàn hợp pháp, ngay tình
và được thừa nhận trên thực tế.
22
[3.4] Về tính pháp lý của Biên bản thỏa thuận ngày 25/11/2011:
Phía bị đơn cho rằng ông P đã cam kết không còn liên quan đến quyền
và nghĩa vụ đối với giấy sang nhượng đất năm 1996. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể
hiện vào năm 2011, do hoàn cảnh túng quẫn cần tiền trị bệnh, ông P yêu cầu cụ
Nguyễn Thị P2 (vợ cụ B) làm thủ tục tách thửa đối với phần diện tích 9m ngang
(508m²) do ông P trực tiếp quản lý. Đối với phần diện tích 26m ngang còn lại do
ông Đặng Văn S đang xây nhà ở ổn định, cụ P2 không thực hiện thủ tục chuyển
quyền, đồng thời ông S hoàn toàn không tham gia kết hay ý kiến đối với
biên bản ngày 25/11/2011. Mặt khác, khi lập biên bản này, cụ P2 biết rõ trên đất
có nhà ở của ông S nhưng không yêu cầu giao trả đất, cũng không hoàn trả lại số
tiền chuyển nhượng đất mà cụ B đã nhận trước đây. Do đó, việc thỏa thuận giữa
cụ P2 và ông P nhằm định đoạt, chấm dứt quyền lợi đối với phần đất đang thuộc
quyền quản lý của người thứ ba (ông S) thỏa thuận đối tượng không thể thực
hiện được, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của ông S. Bản án sơ thẩm tuyên vô
hiệu biên bản thỏa thuận ngày 25/11/2011 đối với phần diện tích đất do ông S
quản lý là hoàn toàn đúng pháp luật.
[3.5] Về hiệu lực của các văn bản phân chia di sản thừa kế, tặng cho và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Do “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996”
hiệu lực pháp luật quyền sử dụng đất đã được chuyển giao hợp pháp cho
ông P, ông S từ trước khi cụ Lý Quang B và cụ Nguyễn Thị P2 qua đời, nên diện
tích đất 1.791,1m² không còn là di sản thừa kế của cụ B và cụ P2. Việc các đồng
thừa kế tiến hành lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 10/4/2008
để cP2 đứng tên, sau đó cụ P2 tặng cho bà Lý Thị Thanh Y1 (năm 2016) và tiếp
tục phân chia di sản thừa kế của cụ P2 cho Thị Thanh L (năm 2025) đối với
phần đất này là không đúng đối tượng, không có căn cứ pháp luật. Các giao dịch
này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của người nhận chuyển
nhượng đã giao đủ tiền và sử dụng đất ổn định gần 30 năm qua. Vì vậy, việc Tòa
thẩm tuyên vô hiệu một phần Văn bản phân chia di sản thừa kế năm 2008, Văn
bản phân chia di sản năm 2025 Hợp đồng tặng cho năm 2016 hoàn toàn
chính xác.
[3.6] Đối với yêu cầu phản tố của Thị Thanh Y1 yêu cầu khởi kiện
của bà Lý Thị Thanh L về việc buộc ông P, ông S tháo dỡ nhà cấp 4 và hàng rào
B40 để trả lại đất: Như đã phân tích, tài sản trên đất gồm nhà tình nghĩa và hàng
rào gạch bloc do ông S xây dựng hợp pháp, gi đình bị đơn biết và không phản đối
trong suốt thời gian dài. Các thửa đất 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 thực tế thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của ông P N. Bà Y1 L tuy đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sdụng đất nhưng không quản , không sử dụng đất không
có tài sản nào trên đất. Do đó, yêu cầu buộc nguyên đơn tháo dỡ tài sản và trả lại
đất của bà Y1, bà L là không có cơ sở để chấp nhận.
[3.7] Vnghĩa vụ bồi hoàn giá trị quyền sử dụng đất số tiền 564.556.000
đồng cho bà Lý Thị Thanh L:
23
Vị trí đất tại khu B, diện tích 179m
2
thuộc thửa 1108(mpt) và C diện tích
24m
2
thuộc thửa 697(mpt) với tổng diện tích 203m
2
do bà Lý Thị Thanh L đứng
tên quyền sử dụng đất không đảm bảo diện tích tách thửa theo quy định của Ủy
ban nhân dân tỉnh T về điều kiện tách thửa đất. Do đó Tòa án cấp thẩm công
nhận cho ông P N khai đăng phần đất khu B, diện tích 179m
2
thuộc
thửa 1108(mpt) C diện tích 24m
2
thuộc thửa 697(mpt) với tổng diện tích
203m
2
buộc ông P N bồi hoàn theo định giá cho L 564.556.000
đồng là phù hợp quy định của pháp luật về đất đai.
[4] Xét kháng cáo của bà Thị L1 về quan hệ tranh chấp hợp đồng vay
tài sản giữa bà Lý Thị Thanh Y1 và bà Vũ Thị L1, thấy rằng:
Vào ngày 28/5/2025, Y1 L1 xác lập “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất” đối với phần đất thuộc các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số
9. Tuy nhiên, qua lời khai thống nhất của L, L1 các chứng cứ trong hồ
vụ án thể hiện bản chất của giao dịch chuyển nhượng này chỉ hình thức nhằm
che giấu cho quan hệ vay mượn số tiền gốc 1.500.000.000 đồng. Trên thực tế, Y1
không bàn giao đất, không có quyền định đoạt đối với diện tích đất vốn thuộc về
ông P, L1 cũng không nhận đất để quản lý. Căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân
sự, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2025 bị hiệu do
giả tạo. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa Y1 với L1 giải quyết hậu quả của hợp đồng bị hiệu
đúng bản chất quan hệ che giấu là hợp đồng vay tài sản.
Về nghĩa vụ thanh toán tiền lãi vay, các bên thừa nhận thỏa thuận mức
lãi suất là 2,5%/tháng (tương đương 30%/năm). Đối chiếu với khoản 1 Điều 468
Bộ luật Dân sự, mức lãi suất do các bên thỏa thuận không được vượt quá
20%/năm. Tòa án cấp thẩm đã điều chỉnh mức lãi suất về đúng giới hạn luật
định 1,66%/tháng (20%/năm) đtính toán từ ngày vay đến ngày xét xử thẩm.
Tổng số tiền lãi Y1 phải chịu là 244.850.000 đồng. Sau khi khấu trừ số tiền lãi
145.500.000 đồng mà bà Y1 đã trả trên thực tế. Tòa sơ thẩm buộc bà Y1 tiếp tục
thanh toán cho bà L1 khoản tiền lãi còn thiếu là 99.350.000 đồng là hoàn toàn có
căn cứ đúng quy định pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo này của
L1.
Xét kháng cáo của Thị L1 vthời điểm tính lãi suất chậm thi hành
án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên Khi án
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi
hành án cho đến khi thi hành xong …” là chưa phù hợp với quy định tại Điều 13
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong
hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp
theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong…”. Để đảm bảo quyền
lợi chính đáng cho người quyền đòi nợ, cần chấp nhận một phần kháng o này
để sửa lại cách tuyên: nghĩa vụ chịu lãi suất chậm thi hành án của Y1 đối với
số tiền nợ gốc và lãi chưa trả sẽ bắt đầu tính từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án
24
thẩm cho đến khi thi hành án xong. Tại phiên tòa phúc thẩm, Y1 đề nghị
miễn tiền lãi là hoàn toàn không có cơ sở chấp nhận.
[5] Về các yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn các đương sự yêu cầu hủy các
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cụ Nguyễn Thị P2, Thị
Thanh Y1, bà Lý Thị Thanh L, Vũ Thị L1 đối với các thửa đất số 414, 697, 1108
thuộc tờ bản đồ số 9 tại xã H. Hội đồng xét xử nhận thấy, các văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế, hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa các bên đương sự sở pháp để quan thẩm quyền cấp
các giấy chứng nhận nêu trên đều đã bị tuyên hiệu. Do đó, các giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất này không còn phản ánh đúng, chính xác nguồn gốc hiện
trạng sử dụng đất thực tế.
Tuy nhiên, đối chiếu với các quy định pháp luật đất đai hướng dẫn nghiệp
vụ tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao
quy định …khi giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất hợp đồng đó bị tuyên hiệu nhưng người nhận chuyển quyền đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất hoặc được c nhận thì không đưa
quan thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng không cần phải tuyên
hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu thì Văn phòng đăng đất đai,
quan Tài nguyên môi trường căn cứ vào bản án quyết định để giải quyết
điều chỉnh biến động hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp
với kết quả bản án”. Do đó, khi giải quyết tranh chấp đất đai các giao dịch dân
sự dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị tuyên vô hiệu, Tòa án
không cần thiết phải tuyên hủy trực tiếp các giấy chứng nhận này. Sau khi bản án
của a án hiệu lực pháp luật, các đương sự quyền liên hệ với cơ quan đăng
đất đai Văn phòng C5 thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng biến
động, thu hồi, đính chính hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
đúng nội dung phân định quyền sử dụng đất trong bản án. Việc Tòa án cấp
thẩm không tuyên hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đúng
thẩm quyền, các bên đương sự có nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thực hiện thủ tục hành chính khai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất tại cơ quan quản lý đất đai phù hợp với kết quả giải quyết của
bản án.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Tòa án cấp thẩm đã đánh giá chứng
cứ khách quan, toàn diện và giải quyết vụ án căn cứ. Kháng cáo của bà Lý Th
Thanh Y1 Thị Thanh L không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ
mới chứng minh cho yêu cầu của mình, do đó không có cơ sở để chấp nhận. Hội
đồng xét xử giữ nguyên các quyết định của bản án thẩm vphần nội dung tranh
chấp đất đai, công nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Thanh P, bà Nguyễn Thị
N chấp nhận một phần kháng cáo sửa án về cách tuyên lãi suất của bà Vũ Thị
L1.
25
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Thị Thanh Y1, Thị Thanh L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
do kháng cáo không được chấp nhận.
Thị L1 không phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo được chấp
nhận một phần.
[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Thị Thanh Y1, Thị
Thanh L.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị L1 về cách tuyên lãi
suất.
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 57/2026/DS-ST ngày 23 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh về cách tuyên lãi suất còn
phải thi hành án cho bà Vũ Thị L1.
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều
227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
các Điều 117, khoản 2 Điều 221, các Điều 385, 401, 500, 501, 502, 503, 466
468 Bộ luật dân sự; các Điều 26, Điều 37, Điều 45, Điều 137 Luật đất đai; các
Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Thanh P Nguyễn
Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công
nhận quyền sử dụng đấtvới những người thừa kế của ông Quang B
Nguyễn Thị P2. Các yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận như sau:
1.1. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo “Giấy sang nhượng đất ngày 29/11/1996”, giữa ông Bùi Thanh P với cụ
Quang B liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
1.2. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo giấy Thoả thuận sang nhượng đất ngày 14/02/2023”, giữa ông Bùi Thanh
P với ông Đặng Văn S liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 Hòa
Khánh, tỉnh Tây Ninh
26
1.3. hiệu Biên bản thoả thuận giữa cụ Nguyễn Thị P2 với ông Bùi
Thanh P ngày 25/11/2011 liên quan các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H,
tỉnh Tây Ninh nội dung: “Kể từ ngày 25/11/2011 giữa ông P và bà P2 không
còn liên quan gì về quyền nghĩa vụ đối với việc chuyển nhượng đất theo giấy
nhận vàng và giấy sang nhượng đất đã ký trước đây...”.
1.4. hiệu một phần Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế được
xác lập vào ngày 10/4/2008, tại Văn phòng C4, tỉnh Long An. Công chứng số:
221, quyển số 01TP/CC-SCC/TK. Người được hưởng thừa kế di sản cụ Nguyễn
Thị P2, thuộc một phần thửa đất 259 tờ bản đồ số 8 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) (nay là các thửa 414, 697, 1108 tờ bản đồ số 9 xã H,
tỉnh Tây Ninh) với diện tích 1.791,1m
2
1.5. Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị P2
với Thị Thanh Y1, ngày 04/5/2016, tại Văn phòng C5, tỉnh Long An. Công
chứng số: 6293, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD. Đối với một phần thửa đất 259,
tờ bản đồ số 8, diện tích 784m
2
, địa chỉ thửa đất: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay xã H, tỉnh Tây Ninh) (nay là thửa 414 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh
có diện tích là 734,9m
2
. Loại đất HNK
1.6. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
28/5/2025 do Văn phòng C6 Dự chứng thực giữa bà Thị Thanh Y1 chuyển
nhượng cho bà Vũ Thị L1 thửa đất 1413 diện tích 784m
2
tờ bản đồ số 8 tại ấp T,
H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay H, tỉnh Tây Ninh), mục đích sử dụng: Đất
trồng cây hàng năm khác. Nay thành thửa mới 414(mpt) diện tích 734,9m
2
TBĐ
số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
1.7. hiệu một phần Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
17/6/2025, được UBND H chứng thực số: 64 Quyển 01/2025-SCT/HĐ,GD liên
quan đến phần thửa 1108 diện tích 569m
2
. Loại đất HNK; một phần thửa 697 diện
tích 462m
2
. Loại đất ONT tất cả thuộc tờ bản đồ số 9 H, tỉnh Tây Ninh do
Lý Thị Thanh L nhận thừa kế của bà Nguyễn Thị P2.
1.8. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Lý Quang B, và
cụ Nguyễn Thị P2 gồm: bà Thị Thanh Y1, ông Lý Vĩnh T, ông Vĩnh K, bà
Thị Ngọc P1, bà Thị Thanh L, Thị Ngọc G, ông Quang M phải
làm thủ tục chuyển quyền sdụng đất cho ông Bùi Thanh P Nguyễn Thị N một
phần thửa đất số 259 tờ bản đồ số 8 H, tỉnh Tây Ninh trước đây do ông
Quang B đứng tên có diện tích đo đạc thực tế hiện nay: 1.770,9m
2
thuộc các thửa
414, 1108 (mpt) 697 tbản đồ số: 9 H, tỉnh Tây Ninh. Loại đất ONT, HNK
do Thị Thanh L Thị Thanh Y1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
1.9. Công nhận Căn nhà tình nghĩa do UBND huyện Đ cấp cho cụ Nguyễn
Thị D mẹ Liệt (chết) thuộc quyền shữu của ông Bùi Thanh P và Nguyễn
Thị N tọa lạc trên thửa đất 697 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
1.10. Công nhận quyền sử dụng đất thửa 1108(mpt), tbản đồ số 9 H,
tỉnh Tây Ninh diện tích 569m
2
tại khu A; thửa 697(mpt) tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh
27
Tây Ninh có diện tích 5m
2
thuộc khu D; thửa 697(mpt) tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh
Tây Ninh diện tích 462m
2
thuộc khu E; thửa 414 (mpt) tờ bản đồ số 9 H,
tỉnh Tây Ninh có diện tích 734,9m
2
,
thuộc khu F với tổng diện tích đo đạc thực tế:
1.770,9m
2
theo trích đo bản đồ địa chính số 568-2025 được Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây Ninh, duyệt ngày 08/12/2025 là thuộc quyền
sử dụng của ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N.
1.11. Công nhận quyền sử dụng đất thửa 1108(mpt) thuộc khu B diện tích
179m
2
loại đất ONT và thửa 697(mpt) thuộc khu C diện ch 24m
2
loại đất
HNK do Thị Thanh L đứng tên quyền sử dụng đất với tổng diện tích
203m
2
cho ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N.
1.12. Ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N được liên hệ cơ quan có thẩm
quyền khai đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích
1994,1m
2
. Loại đất ONT HNK tại các thửa 414, 1108, 697 tờ bản đồ s9
H, tỉnh Tây Ninh. Vị trí đất theo Mảnh trích đo do Công ty TNHH Đ1 lập được
Chi nhánh n phòng C5 duyệt ngày 08/12/2025.
1.13. Buộc bà Lý Thị Thanh LThị Thanh Y1 nộp lại bản chính giấy
chứng nhận tại các thửa 414, 1108, 697 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh cho
quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N các thửa đất nói trên.
2. Buộc ông Bùi Thanh P và bà Nguyễn Thị N liên đới hoàn giá trị quyền
sử dụng đất cho Thị Thanh L 564.556.000 đồng (năm tm sáu mươi bốn
triệu năm trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu bà Thị Thanh Y1 về việc buộc ông Đặng
Văn S, ông Bùi Thanh P trách nhiệm tháo dỡ, di dời hàng rào B40 trên thửa
đất số 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh trả lại cho phần đất có diện tích
784m
2
thuộc thửa đất số 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh Tây Ninh. Nay thửa đất
414 tờ bản đồ số 9 đất tọa lạc xã H, tỉnh Tây Ninh.
4. Chấp nhận yêu cầu bà Thị Thanh Y1 về việc hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa Lý Thị Thanh Y1 với Thị L1 được
chứng thực ngày 28/5/2025 liên quan đến thửa đất 1413 tờ bản đồ số 8 xã H, tỉnh
Tây Ninh có diện tích 784m
2
do n phòng C6 Dự chứng thực số 1247 quyển số
01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD.
5. Chấp nhận yêu cầu của Thị Thanh Y1 đối với Vũ Thị L1 về
việc điều chỉnh lãi suất từ 2.5%/tháng về mức lãi 1.66%/tháng. Thời gian từ ngày
28/5/2025 đến khi xét xử sơ thẩm trên số tiền 1.500.000.000 đồng.
6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Thanh L về việc buộc
ông Bùi Thanh P ông Đặng Văn S phải tháo dỡ nhà cấp 4 kết cấu: vách
tường, mái tole, nền gạch và hàng rào gạch bloc lưới B40 bao quanh đất để trả lại
đất cho bà thuộc thửa 697 và 1108 tờ bản đồ số 9 xã H, tỉnh Tây Ninh.
7. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện bà Vũ Thị L1 về việc “tranh chấp
hợp đồng vay tài sản” với bà Lý Thị Thanh Y1.
28
Buộc Thị Thanh Y1 ông Phạm Minh H phải liên đới trả cho
Thị L1 số tiền gốc 1.500.000.000 đồng lãi 99.350.000 đồng. Tổng
cộng là 1.599.350.000 đồng (một tỷ năm trăm chín mươi chín triệu ba trăm năm
mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền nợ, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự 2015.
8. Không chấp nhận yêu cầu của Thị L1 về việc đòi Thị Thanh
Y1 trả số tiền lãi 116.900.000 đồng (một trăm mười sáu triệu chín trăm ngàn
đồng).
9. Buộc Thị L1 nộp lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số: 25044632, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CN 27468, thửa đất số 414 tờ
bản đồ số 9, diện tích: 784m
2
, loại đất: Đất trồng cây hằng năm khác, địa chỉ:
H, tỉnh Tây Ninh, do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai khu vực Đ, tỉnh Tây
Ninh, cấp cho Thị L1 ngày 24/12/2025 cho quan Nhà nước thẩm
quyền thu hồi để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Thanh
P và bà Nguyễn Thị N.
10. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lý Thị Thanh LLý Thị Thanh Y1 chịu
75.000.000 đồng chi phí tố tụng nộp hoàn trả cho ông Bùi Thanh P.
Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi nh xong tất cả các khoản tiền, bên
nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm tr
theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời
gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật
có quy định khác.
11. Về án phí dân sự sơ thẩm:
11.1. Buộc những người thừa kế ông Quang B Nguyễn Thị P2
gồm Thị Thanh Y1, ông Vĩnh T, ông Vĩnh K, Thị Ngọc P1,
Thị Thanh L, Thị Ngọc G, ông Lý Quang M liên đới nộp 2.700.000
đồng án phí dân sự thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước đối với các yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
11.2. Buộc Thị Thanh Y1 Thị Thanh L mỗi người phải nộp
300.000 đồng đối với yêu cầu buộc ông P1 và ông S tháo dỡ tài sản không được
chấp nhận. Số tiền bà Y1 được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng
theo biên lai số 0004000 ngày 09/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Số tiền bà L được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tại biên lai số 0003907 ngày
05/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
11.3. Buộc bà Lý Thị Thanh Y1 và ông Phạm Minh H liên đới chịu án phí
trả tiền cho bà L1 59.980.500 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền bà
Y1 tạm ứng 300.000 đồng tại biên lai số 0000319 ngày 07/01/2016 tại Thi hành
29
án dân sự tỉnh Tây Ninh được khấu trừ vào án phí. Như vậy ông H và bà Y1 còn
phải nộp tiếp 59.680.500 đồng.
11.4. Buộc Thị L1 phải nộp 5.840.000 đồng án phí dân sự thẩm
sung vào Ngân sách Nhà nước và 300.000 đồng về việc hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với Y1. Tổng cộng L1 chịu 6.140.000 đồng.
Số tiền L1 tạm ứng 33.198.000 đồng theo các biên lai số 0004066 ngày
04/3/2026 và biên lai s0002794 ngày 05/02/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh được khấu trừ vào án phí. H1 lại cho L1 27.058.000 đồng theo các
biên lai nêu trên.
11.5. Ông Bùi Thanh P Nguyễn Thị N được miễn án phí nên không
đề cập để hoàn lại.
12. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc Thị Thanh Y1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sphúc thẩm,
khấu trừ 300.000 đồng tiền án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005852 ngày
24/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Buộc bà Lý Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm,
khấu trừ 300.000 đồng tiền án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005853 ngày
24/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Thị L1 không phải chịu án phí, hoàn lại cho L1 300.000 đồng tiền
án phí theo biên lai thu số 0007425 ngày 09/4/2026 của Thi hành án dân stỉnh
Tây Ninh.
13. Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người
được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp
các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của
Tòa án thì có quyền yêu cầu quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành
án.
Bên có nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu
hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật. Trường hợp không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, Văn phòng đăng ký đất đai căn
cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trình quan nhà nước thẩm quyền để
thu hồi, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sdụng cho các bên
đương sự theo quy định của pháp luật.
30
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của Tòa án để thu hồi, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
14. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 3 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1000/2026/DS-PT Bản án số 1000/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1000/2026/DS-PT Bản án số 1000/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất