Bản án số 122/2026/DS-PT ngày 04/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 122/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 122/2026/DS-PT ngày 04/08/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 122/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 122/2026/DS-PT
Ngày 04 - 8 - 2026
V/v tranh chấp đòi lại
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Pho và ông Nguyễn Công Diễn.
- Thư phiên toà: Ông Tô Quang Đô - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Chu Thị Sáu -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 56/2026/TLPT-DS ngày 26 tháng 5
năm 2026 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 116/2026/QĐ-PT ngày
03 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê C, sinh năm 1963
Địa chỉ: Số C N, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Trần N, sinh năm 1962
Địa chỉ: Số I Q, tổ B, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Cận .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
C trình bày:
2
Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/5/2005, ông
Trần N nhận của ông số tiền đặt cọc 10.000.000 đồng để chuyển nhượng cho
ông thửa đất mà tại thời điểm nhận tiền, ông N còn phải làm các thủ tục thừa kế
mới đủ điều kiện chuyển nhượng. Ngày 19/11/2010, ông N nhận của ông thêm
2.500.000 đồng, ông Phan Công T làm chng và viết “Giấy nhận tiền”. Tại
giấy nhận tiền y, ông N đồng ý quy đổi số tiền nhận ngày 19/5/2005
10.000.000 đồng thành 20 chỉ vàng 99,99%.
Đến năm 2013, ông giúp ông N một số thủ tục và đã làm được giấy thừa kế
thửa đất đã nhận tiền cọc của ông nhưng ông N không bán cho ông nữa; ông N
yêu cầu số tiền 400.000.000 đồng mới bán cũng không trả lại tiền cho ông
ông N cho rằng tiền đặt cọc nên ông không mua thì phải chịu mất. Hành vi
của ông N là vô lý, vì nếu đặt cọc có hiệu lực thì ông N phải bồi thường cho ông
mới đúng quy định đặt cọc giá trị 90 ngày, ông N không tiến hành tiếp thì
bên nhận cọc phải bồi thường.
Ông đã nhiều lần gặp trực tiếp yêu cầu ông N trả lại tiền (từ năm 2013, sau
khi ông N đã làm giấy chủ quyền đất đã nêu) nhưng ông N không trả lại tiền cọc
cho ông.
Ngày 11/8/2014, gia đình ông khởi kiện ông Trần N nhưng lúc đó đơn
khởi kiện đứng tên vợ ông bà Lương Thị Hương L nên Toà án trả lại đơn,
hướng dẫn ông mới quyền khởi kiện. Sau đó ông tiếp tục viết đơn khởi kiện
ông N theo hướng dẫn nhưng lúc đó ông gặp ông N yêu cầu trả tiền, ông N
nói đang bị bệnh, hứa sẽ trả tiền nên ông không tiếp tục khởi kiện nữa để tạo
điều kiện khi ông N bình phục và bán đất sẽ có tiền trả cho ông.
Ông xác định số tiền 10.000.000 đồng tiền đặt cọc nhưng sau 90 ngày
theo thỏa thuận đặt cọc, ông N không thực hiện đúng nên đã chuyển thành tiền
mượn theo giấy nhận tiền ngày 19/11/2010. Ông khởi kiện đòi lại số tiền ông N
đã vay mượn là 10.000.000 đồng quy ra 20 chỉ ng 99,99%. Ông xác định
không tranh chấp gì về thỏa thuận đặt cọc theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 19/5/2005, không yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cũng như thỏa thuận đặt cọc trong hợp đồng ngày 19/5/2005
vô hiệu.
Theo đơn khởi kiện, ông yêu cầu giải quyết buộc ông Trần N phải trả cho
ông các khoản tiền gồm: Trả lại toàn bộ tiền gốc 10.000.000 đồng được quy ra
20 chỉ vàng 99,99%, gtrị tương đương tại thời điểm ngày 26/12/2023 là: 20
chỉ x 7.870.000 đồng/01 chỉ vàng =157.400.000 đồng; tiền lãi của stiền gốc
157.400.000 đồng (tính từ ngày 19/11/2010 đến ngày 27/12/2023)
157.400.000 đồng x 13 năm x 10% = 204.620.000 đồng. Tổng cộng buộc ông N
phải trả số tiền 362.020.000 đồng; đối với số tiền 2.500.000 đồng thì ông không
yêu cầu giải quyết.
3
Tại đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 09/11/2025 và tại phiên tòa, ông C
yêu cầu: Buộc ông Trần N phải hoàn trả 20 chỉ vàng 99,99% (không quy ra tiền)
tiền lãi 393.660.000 đồng, buộc trả tiền lãi trên toàn bộ khoản gốc 20 chỉ
vàng đến khi ông N thanh toán toàn bộ nợ cho ông. Đối với số tiền 2.500.000
đồng theo Giấy nhận tiền ngày 19/11/2010 thì ông không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Trần N trình bày:
Ngày 19/5/2005, giữa ông ông C thoả thuận lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, ông cam kết chuyển nhượng cho ông C thửa đất số
277, tbản đồ số 1, diện tích 1780m
2
, tại thôn A, N, huyện T, tỉnh Quảng
Ngãi; giá trị chuyển nhượng là 210.000.000 đồng.
Ông C đặt cọc cho ông số tiền 10.000.000 đồng. Nội dung đặt cọc được
ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/5/2005, không
lập thành hợp đồng riêng, ông đã ký nhận đủ tiền đặt cọc.
Theo quy định tại Điều III của hợp đồng chuyển nhượng đất, ông cam kết
thực hiện các thủ tục chuyển nhượng trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận
cọc (ngày 19/5/2005). Sau thời hạn 90 ngày như thoả thuận thì ông vẫn không
làm được các thủ tục giấy tờ về thửa đất nên hai bên có thỏa thuận miệng gia hạn
thêm 01 năm nhưng sau đó ông vẫn không làm được. Đến khi thực hiện dự án V,
khoảng năm 2015-2016 (ông không nhớ rõ) thì ông mới làm được thủ tục đứng
tên ông trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi làm xong thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông có đến gặp ông C để hỏi ông C mua
đất không nhưng ông C không trả lời nên sau đó ông đã chuyển nhượng đất cho
người khác.
Ông C nộp Giấy nhận tiền đngày 19/11/2010, nội dung ông nhận của
ông C số tiền 2.500.000 đồng, “Tổng số tiền các khoản ông N đã nhận của ông
Cận C1 vào đợt này như sau: Đợt 1: ngày 19/5/2005 ông Trần N nhận
10.000.000 đồng (quy thành 20 chỉ vàng thời điểm năm 2005); đợt 2 ngày
19/11/2010 ông N nhận 2.500.000 đồng”. Ông không nhớ giấy này hay
không. Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q xác định chữ trên
giấy này của ông thì ông cũng đồng ý nhận số tiền 2.500.000 đồng vào
ngày 19/11/2010. Số tiền này nếu ng số tiền nhận để làm thủ tục giấy tờ
hồ đất. Ông không cam kết với ông C nếu không làm được giấy tờ về đất thì
phải trả số tiền 10.000.000 đồng cho ông C quy ra số vàng 20 chỉ như ông C
trình bày. Việc ông C khởi kiện cho rằng số tiền đặt cọc 10.000.000 đồng quy ra
20 chỉ vàng 99,99% tại thời điểm năm 2005 là tiền mượn và yêu cầu ông phải trả
20 chỉ vàng cho ông C thì ông không đồng ý. Ông xác định số tiền 10.000.000
đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/5/2005 tiền
đặt cọc. Do ông C không mua đất nên ông C phải chịu mất tiền cọc. Nếu ông C
cho rằng ông không thực hiện đúng nghĩa vụ đặt cọc, không bán đất cho ông C
4
thì lẽ ra ông C phải khởi kiện từ trước đây rất lâu nhưng đến nay ông C mới khởi
kiện là không đúng quy định của pháp luật.
Ông xác định không vay, mượn tiền của ông C không thoả thuận nào
liên quan số tiền đặt cọc 10.000.000 đồng nêu trên chuyển thành tiền vay, mượn
nên ông C kiện đòi lại tài sản là không đúng.
Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều
144, 147, 161, 235, 266, 271 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 363 Bộ
luật Dân sự năm 1995; các Điều 256, 471 Bộ luật Dân s2005; các điều 166,
463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C về yêu
cầu buộc ông Trần N phải trả cho ông C số vàng 20 chỉ (loại vàng 99,99%), tiền
lãi 393.660.000 đồng (ba trăm chín mươi ba triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn
đồng) buộc trả tiền lãi trên toàn bộ khoản gốc 20 chỉ vàng đến khi ông N
thanh toán toàn bộ nợ.
2. Về chi phí tố tụng: Ông C phải chịu chi phí giám định 5.000.000
đồng (năm triệu đồng). Ông C đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về án phí, thi hành án dân sự quyền
kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/3/2026, ông C đơn kháng cáo ngày 05/4/2026 ông C
bổ sung đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Quảng Ngãi theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, cụ thể buộc bị đơn ông Trần N phải thanh toán giá trị 20 chỉ vàng
SJC theo giá thị trường tại thời điểm thi hành án và buộc bị đơn hoàn trả cho
nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng chi phí giám định chữ ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên
toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với những
người tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập đúng quy định
pháp luật. Tuy nhiên, về chi phí giám định chữ của bị đơn, kết quả giám định
chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định của nguyên đơn căn cứ nên bị
5
đơn phải chịu chi phí giám định theo quy định tại khoản 2 Điều 161 Bộ luật Tố
tụng dân sự. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1
Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của
nguyên đơn, sửa một phần bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Quảng Ngãi về phần chi phí tố tụng giữ nguyên các quyết định khác của bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Vtố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông C làm trong thời
hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. vậy, Hội
đồng xét xử tiến hành xem xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lê C theo quy
định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Cận .
[2.1] Ông C đòi ông Trần N phải trả số tiền 10.000.000 đồng quy ra
thành 20 chỉ vàng 99,99%, về bản chất số tiền 10.000.000 đồng này tiền đặt
cọc của ông C đưa cho ông Trần N, dùng để đảm bảo cho việc thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 19/5/2005 giữa ông C
ông Trần N. Đây không phải là số tiền ông Trần N mượn của ông Lê C theo giấy
nhận tiền ngày 19/11/2010, nên ông C cho rằng số tiền 10.000.000 đồng này
được quy ra thành 20 chỉ vàng 99,99%, được chuyển từ tiền đặt cọc sang tiền
ông N mượn của ông C theo Giấy nhận tiền ngày 19/11/2010 là không có căn cứ
ông C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về việc
ông N đồng ý sẽ trả lại số tiền 10.000.000 đồng này cho ông C được quy ra
thành 20 chỉ vàng 99,99% như ông C trình bày.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Lê C là có cơ sở.
[2.2] Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Trần N cho rằng chữ trong Giấy
nhận tiền ngày 19/11/2010 không phải của ông nên nguyên đơn yêu cầu trưng
cầu giám định, kết quả giám định xác định đúng chcủa bị đơn ông Trần N
nên yêu cầu trưng cầu giám định của ông Lê C là có căn cứ nên ông Trần N phải
chịu chi phí giám định. Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn ông Lê C phải chịu
chi phí giám định số tiền 5.000.000 đồng không đúng quy định tại khoản 2
Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
cáo của nguyên đơn ông Lê C, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số
14/2026/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Quảng Ngãi về phần chi phí giám định.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông C được chấp nhận nên
ông C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm phù hợp với quy định tại
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 161, khoản 1 Điều 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông C, sửa
một phần bản án dân sự thẩm số 14/2026/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi về phần chi phí tố tụng.
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144,
khoản 1 Điều147, khoản 2 Điều 161, khoản 1 Điều 162, 235, 266, 271 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 363 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều
256, 471 Bộ luật Dân sự 2005; các Điều 166, 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C về yêu
cầu buộc ông Trần N phải trả cho ông C số vàng 20 chỉ (loại vàng 99,99%), tiền
lãi 393.660.000 đồng (ba trăm chín mươi ba triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn
đồng) buộc trả tiền lãi trên toàn bộ khoản gốc 20 chỉ vàng đến khi ông N
thanh toán toàn bộ nợ.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Trần N phải chịu chi phí giám định là 5.000.000
đồng (năm triệu đồng). Ông C đã nộp tạm ứng nên ông Trần N phải hoàn trả
cho ông Lê C 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
4. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
7
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
6. Về án phí: Miễn án phí dân sự thẩm cho ông C; ông C không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 1 – Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 1 – Quảng Ngãi;
- Phòng THADS khu vực 1 – Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Thị Mỹ Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2026/DS-PT Bản án số 122/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất