Bản án số 237/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 237/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 237/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 237/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà H kiện ông N trả lại số tiền 500.000.000 đồng đã chuyển vào tài khoản của ông N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 237/2026/DS-PT Bản án số 237/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 237/2026/DS-PT Bản án số 237/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 237/2026/DS- PT
Ngày: 31 tháng 7 năm 2026
V/v Tranh chp kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên t: Bà Phạm Thị Chuyền.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú
Bà Triệu Thị Luyện
Thư ký phiên t: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Lương Thất Tùng Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm
trực tuyến công khai vụ án dân sự thụ số 152/2026/DS-PT ngày 26/6/2026 về việc
“Tranh chấp kiện đòi tài sản”. Do bản án dân s sơ thẩm số 37/2026/DS-ST ngày
28/4/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 Bắc Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 219/-PT ngày 10 tháng 7 năm 2026,
giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1992; Địa chỉ: số nhà A, t
dân phố E, phường Y, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Văn phòng L; Địa chỉ: số D đường
H, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện hợp pháp: Phạm Thị G, sinh năm 1996 ông Văn T,
sinh năm 1984.
- Bị đơn: anh Nguyễn Tuấn N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường
C, tỉnh Bắc Ninh.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đình H1, sinh năm
1989. Địa chỉ: số nhà A, tổ dân phố E, phường Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người kháng cáo: bị đơn anh Nguyễn Tuấn N.
Ông T, anh N có mặt; ông H1 vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tkhai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Bích H trình bày:
Do mối quan hquen biết nên vào ngày 23/4/2022, bị đơn anh Nguyễn
Tuấn N có đến nhà và hỏi vay chị số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng)
mục đích làm ăn kinh doanh. Khi cho anh N vay, chị không lập văn bản giấy tờ vay
mượn tiền chỉ thực hiện việc chuyển tiền qua tài khoản. Cụ thể, chị đã chuyển số
tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) vào tài khoản số 19033559156015 -
Ngân hàng T1 Chủ tài khoản mang tên Nguyễn Tuấn N với 02 lần chuyển tiền (01
lần với số tiền 300.000.000 đồng 01 lần với số tiền 200.000.000 đồng) cùng trong
ngày 23/4/2022. Anh N nói sẽ trả chị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày vay.
Nguồn gốc số tiền cho anh N vay tài sản riêng của chị, không liên quan đến ai
trong gia đình của chị.
Sau khi hết thời hạn đã thỏa thuận, chị không thấy anh N trả tiền nên từ khoảng
tháng 6/2023, chị đã nhiều lần tìm gặp thúc giục anh N trả lại tiền cho chị. Tuy
nhiên, anh N không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho chị. Vì vậy, đôi bên xảy ra tranh
chấp.
Nay xét thấy tranh chấp giữa hai bên không thể tự giải quyết việc anh N
không thực hiện việc trả tiền cho chị đã gây thiệt hại nghiêm trọng về quyền và lợi
ích. Do vậy, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn
Tuấn N có nghĩa vụ trả cho chị số tiền gốc đã vay 500.000.000 đồng (Năm trăm
triệu đồng), chị không yêu cầu tính lãi.
* Người đại diện theo ủy quyền của chị H luật Văn T và luật sư Phạm
Thị G - Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh B nhất trí với yêu cầu khởi kiện và ý kiến
của chị H. Luật giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại Bản luận cứ bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ngày 01/4/2026.
* Tại Biên bản ghi lời khai, bị đơn là anh Nguyễn Tuấn N trình bày:
Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị H vì anh chưa từng gặp chị
H bao giờ, anh cũng chưa từng vay tiền của chị H. Anh công nhận số tài khoản
T1 19033559156015, hiện vẫn đang sử dụng bình thường. Anh công nhận vào ngày
23/4/2022 anh có nhận được số tiền khoảng hơn 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng)
từ nhiều lần chuyển khoản, nội dung chuyển khoản nhưng anh không biết ai
chuyển khoản. Anh không cung cấp được bản sao tài khoản ngân hàng cho Tòa
án. Theo anh là do người nợ tiền anh (cụ thể anh Nguyễn Tuấn H2, sinh năm
1992; địa chỉ: tổ dân phố N, phường C, tỉnh Bắc Ninh) nên anh nghĩ anh H2
chuyển khoản trả anh tiền. Ngoài ra, anh đề nghị Tòa án kiểm tra lại hồ của các
quan đã giải quyết trước đó giữa anh và chị H (Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng,
Công an huyện Y, Công an tỉnh B (cũ). Anh đề nghị Tòa án xử lý hành vi vu khống
xem xét trách nhiệm Đảng viên của chị H theo quy định của pháp luật. Anh không
cung cấp thêm cho Tòa án tài liệu chứng cứ gì. Anh đã nhận được đầy đủ các văn
bản tố tụng của Tòa án, anh đề nghị vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, hòa giải,
3
xét xử. Các văn bản tố tụng của Tòa án gửi về cho anh qua đường bưu điện theo địa
chỉ tại Tổ dân phố C, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
* Tại Bản tự khai người quyền li, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình
H1 trình bày:
Anh xác định số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) mà chH cho
bị đơn anh N vay là tài sản riêng của chị H đã tạo lập từ trước thời kỳ hôn nhân với
anh, anh không yêu cầu độc lập, không có tranh chấp gì. Anh đề nghị Tòa án gii
quyết theo quy định của pháp luật. Đồng thời, anh đề nghị được vắng mặt tại tất cả
các buổi làm việc, hòa giải và xét xử. Anh giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại Bản tự
khai ngày 26/02/2026.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích H: Buộc
bị đơn anh Nguyễn Tuấn N phải trả chị Nguyễn Thị Bích H số tiền 500.000.000
đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Nguyễn Tuấn N phải chịu 24.000.000 đồng
(Hai mươi tư triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả chị Nguyễn Thị Bích H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.500.000
đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0003937 ngày 25/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo,
hướng dẫn thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xthẩm: Ngày 20/5/2026, bđơn anh Nguyễn Tuấn N kháng
cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh hủy toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Bị đơn anh Nguyễn Tuấn N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội
đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm đế giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau: Nguyên
đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án
thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc
giải quyết vụ án:
- Vtố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh các đương s đã chấp hành
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Vnội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Tuấn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
4
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Nguyễn Tuấn N phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
anh Nguyễn Đình H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình
bày nên Tòa án xét xử vắng mặt anh H1 đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Tuấn N, Hội đồng xét xử
xét thấy:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của các bên cũng như tài liệu có trong hồ vụ án
thể hiện vào ngày 23/4/2022, chị H đã chuyển khoản cho anh N 02 lần (một lần với
số tiền 300.000.000 đồng và 01 lần với số tiền 200.000.000 đồng) vào tài khoản số
19033559156015 - Ngân hàng T1 - Chủ tài khoản mang tên Nguyễn Tuấn N. ChH
đã cung cấp đầy đủ sao kê tài khoản của Ngân hàng N1 (Ngân hàng A) cho Tòa án.
Anh N cũng công nhận anh có số tài khoản 19033559156015 tại Ngân hàng T1, vào
ngày 23/4/2022 anh cũng nhận được tiền chuyển đến số tài khoản trên với số tiền
khoảng hơn 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh không công nhận việc chị H chuyển
tiền cho anh mà anh nghĩ do anh Nguyễn Tuấn H2, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ dân
phố N, phường C, tỉnh Bắc Ninh đang nợ tiền anh nên anh H2 chuyển khoản trả anh
tiền. Anh N không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh giữa anh và anh
H2 giao dịch vay mượn hay nghĩa vụ tài chính nào khác, cũng như không
chứng cứ thể hiện anh H2 là người trực tiếp chuyển tiền hoặc nhờ chị H chuyển tiền
cho anh. Trong khi đó, sao tài khoản ngân hàng do chị H cung cấp thể hiện chị
H người thực hiện giao dịch chuyển tiền từ tài khoản của chị H sang tài khoản của
anh N hai lần với tổng số tiền 500.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Ttụng dân sự, chị H đã thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ chứng minh đối với việc chuyển tiền cho anh N. Anh N thừa nhận thực tế
có nhận được tiền vào tài khoản nhưng không chứng minh được căn cứ pháp lý của
việc nhận số tiền 500.000.000 đồng từ chH.
Căn cứ Điều 579 Điều 580 Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ hoàn trả
do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không căn cứ pháp lý: Việc
anh N nhận và nắm giữ số tiền 500.000.000 đồng từ chị H mà không có thỏa thuận,
không có giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ giữa hai bên, cũng như không có
căn cứ pháp luật nào khác đã cấu thành hành vi chiếm hữu, được lợi về tài sản không
căn cứ pháp luật. Do đó, anh N phải nghĩa vụ hoàn trả lại toàn bộ số tiền
500.000.000 đồng cho chị H.
[2.2] Từ những phân tích nhận định nêu trên, Tòa án cấp thẩm tuyên
buộc bị đơn anh Nguyễn Tuấn N phải trả lại cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích
H số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) là có căn cứ, đúng quy định của
5
pháp luật. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Tuấn N không căn cứ
chấp nhận, cần giữ nguyên bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh
như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
anh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Tuấn N; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 37/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Toà án
nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: anh Nguyễn Tuấn N phải chịu 300.000 đồng
nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm anh N đã nộp
theo biên lai thu số 0004608 ngày 20/5/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Xác nhận anh N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Phạm Văn Triệu Thị Luyện
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Chuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 237/2026/DS-PT Bản án số 237/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 237/2026/DS-PT Bản án số 237/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất