Bản án số 210/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 210/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 210/2026/DS-PT ngày 02/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 210/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 210/2026/DS- PT
Ngày 02/7/2026
V/v tranh chấp ranh giới quyền sử
dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
-Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên t: Bà Triệu Thị Luyện.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng, bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư phiên toà:Ông Hoàng Đình Sắc. Thư Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Thị Việt
Anh Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10/6/2026, ngày 02/7/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2026/TLPT-DS
ngày 15/4/2026 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, tranh chấp bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s161/2026/QĐ-PT ngày
08/5/2026,Quyết định hoãn phiên tòa số 204/2026/QĐ-PT ngày 20/5/2026,
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 114/2026/QĐ-PT ngày 10/6/2026, Thông
báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 213/TB-TA ngày 24/6/2026 giữa:
Nguyên đơn: Ông Văn T, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Ông Chu Tam T1, sinh năm 1954 (có mặt)
Nguyễn Thị T2, sinh năm 1958 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Chu Tam T3, sinh năm 1978
2.Chị Nguyễn Thị H (vợ anh T3)
Người đại diện theo ủy quyền của anh Chu Tam T3, chị Nguyễn Thị H: Ông
Chu Tam T1, sinh năm 1954 địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh đại
diện theo giấy ủy quyền lập ngày 13/4/2024 (có mặt)
3.Anh Chu Tam T4, sinh năm 1982 (vắng mặt)
4.Anh Chu Huy T5, sinh năm 1990 (vắng mặt)
5.Bà Chu Thị Đ, sinh năm 1960 (có mặt)
2
6.Anh Vũ Văn T6, sinh năm 1994 (vắng mặt)
7.Chị Vũ Thị T7, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
8.Chị Vũ Thị T8, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của Vũ Văn T6, chị Vũ Thị T7, chị Vũ Thị T8:
Ông n T, sinh 1958, địa chỉ: Khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh (có
mặt).
9.UBND phường T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
Địa chỉ: đường L, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Văn T, bị đơn- ông Chu Tam
T1 (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh tài liệu trong hồ thì
nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2015, bản tự khai lời khai tại Tòa án
nguyên đơn trình bày:
Gia đình ông T bà Đ đang quản lý sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 6P,
diện tích 248m
2
tại khu phố N, phường T, Thành phT, tỉnh Bắc Ninh nay
phường T, tỉnh Bắc Ninh được UBND huyện T, tỉnh Bắc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 31/7/1999 mang tên hộ ông Văn T. Thửa đất
này nguồn gốc của các cụ để lại cho bố ông cụ Văn D, quá trình sử
dụng cụ Dư chuyển giao cho ông T. Thửa đất này được UBND xã T cấp giấy
chứng nhận tạm thời ngày 17/9/1986 mang tên ông Vũ Văn T (Dư) với diện tích
thửa đất là 264 m2. Do vậy, việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho gia đình ông với diện tích 248m
2
không chính xác, cạnh hướng
nam giáp ngõ đi chỉ dài 14,5m nhưng theo kết quả đo của địa phương khi giải
quyết tranh chấp đất giữa gia đình ông với gia đình ông S năm 1994 thì cạnh này
dài 15,1m. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1999, gia
đình ông đã ý kiến với UBND T về việc giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp không đúng diện tích nhưng không được địa phương giải quyết.
Năm 1983, vợ chồng ông xây một gian nhà giáp với đất nhà ông S. Năm
1985 vợ chồng ông xây bếp (nhà cấp 4) phía trước của thửa đất giáp với
đường giao thông bớt lại một phần diện tích đất để làm giọt ranh, rãnh
thoát nước sinh hoạt của gia đình phía sau nhà cấp 4 tiếp giáp với đất nhà ông
T1 chiều rộng khoảng 35-40cm, chiều dài chạy dọc hết đất.
Năm 1990, vợ chồng ông xây thêm 01 nhà trần hai tầng ở phía đầu hồi nhà
cấp 4. Đến năm 2014, nhà ông T1 bà T2 xây dựng nhà trần 3 tầng có đặt 01 ống
thoát nước bằng nhựa, đường kính khoảng 10cm, làm tai ô văng lợp mái tôn
sang phần đất chừa lại làm giọt ranh, rãnh thoát nước của nhà ông nên hai gia
đình xảy ra tranh chấp được UBND xã, phường T hòa giải nhiều lần nhưng
không thành.
Ông khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông T1, bà T2:
3
-Buộc ông T1, T2 phải trả lại gia đình ông diện tích đất lấn chiếm
phần đất giáp ranh giữa hai nhà có diện tích 1,7m
2
,
-Buộc anh T3, chị H phải tháo bỏ chiếc ống thoát nước, tai ô văng trần
cùng phần mái lợp tôn làm sang diện tích 1,7m
2
đất nhà ông (vì ông T1 trình
bày, ống thoát nước cùng tai trần, mái tôn là của vợ chồng con trai ông T1).
- Yêu cầu ông T1 phải bồi thường thiệt hại chiếc tum khói đã phá năm
2009 trị giá 1.700.000đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông T xin rút yêu cầu buộc ông T1, bà T2 phải trả lại
ông diện tích đất lấn chiếmphía sau thửa đất giáp mương tiêu 6 xã, kích thước
6m50cm x 23cm; bồi thường thiệt hại 30.000.000 đồng do làm nứt móng nhà.
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Theo kết quả đo đạc năm 1994
khi thôn giải quyết tranh chấp đất giữa nhà ông với nhà ông S thì cạnh hướng
nam giáp ngõ đi của thửa đất nhà ông dài 15,1 m. Năm 1996 khi địa phương về
đo đạc để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà ông thì
vợ chồng ông không biết, không chứng kiến việc đo đạc. Đến năm 2008 thì gia
đình ông mới nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết cạnh
hướng nam thửa đất nhà ông chỉ dài 14,5m nên vợ chồng ông đã ý kiến về
việc cấp sổ đ chưa đúng hiện trạng sử dụng thửa đất nhưng UBND Tân
Hồng lúc đó không nhận đơn và không giải quyết.
Thửa đất số 10, tờ bản đồ 6P của gia đình ông trước đây theo chứng nhận
tạm thời năm 1986 diện tích 264m
2
nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất năm 1999 thì chỉ còn diện tích 248m
2
. Diện tích đất hiện nay gia
đình ông đang quản sử dụng 291,4m
2
và đóng thuế sử dụng đất với diện
tích này từ năm 2014. do tại sao diện tích đất lại thay đổi như vậy thì gia
đình ông không rõ, từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia
đình ông cũng không tân lấp, lấn chiếm gì phần đất phía sau giáp kênh tiêu 6 xã.
Đối với yêu cầu theo đơn phản tố của ông T1 cho rằng khi xây nhà trần thì
gia đình ông đã xây lấn sang đất nhà ông T1 và bố ông là ông D mượn 40 cm
đất nhà ông T1 làm móng bếp năm 1982 là không đúng sự thật, không có căn cứ
nên ông không đồng ý, yêu cầu Tòa án bác yêu cầu này của ông T1.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là ông T1 trình bày:
Theo sổ địa chính năm 1986, thửa đất gia đình ông đang sdụng thửa đất số
11, diện tích 285m
2
tại N, T đã được cấp giấy chứng nhận tạm thời năm 1986
nhưng theo bản đồ năm 1986 thì diện tích đất 337m
2
. Nguồn gốc thửa đất
trước đây ruộng được chính quyền địa phương cấp cho bố mẹ ông sau đó
để lại cho vợ chồng ông. Trong quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông san lấp
thêm được một phần đất năm 1987 được chính quyền thôn giao cho sử
dụng phần đất này diện tích 119,7m
2
do ông Chu Tam C phó chủ tịch
UBND T được giao phụ trách thôn N biên bản giao đất cho gia đình ông,
vợ chồng ông cũng đã làm thủ tục được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với phần diện tích đất này vào năm 2021 được thể hiện là thửa đất số 74,
tờ bản đồ 18, diện tích 120,7m
2
. Sau đó con trai ông anh Chu Tam T4 sinh
năm 1982 mua phần đất của ông Chu Tam C1 người cùng khu phố, giấy
4
bán viết tay với diện tích 90m
2
(Phần đất này anh T4 đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 2021 được thể hiện là thửa đất số 72, tờ bản đồ 18).
m 2009, Trung tâm kỹ thuật i nguyên môi trường tỉnh B tiến hành đo
máy, xác định mốc giới các thửa đất tại thôn N. Do khi đo đạc Trung tâm này đã
đo gộp cả phần diện tích đất mà gia đình ông san lấp, được giao sử dụng con
trai ông mua thêm nên tổng diện tích đất gia đình ông đang sử dụng
497,6m
2
. Ngày 25/7/2019, UBND thị T ra Thông báo thu hồi đất số
1423/TB-UBND theo đó gia đình ông bị thu hồi 1,4m
2
đất về phần hướng Bắc
của thửa đất giáp kênh tiêu. Phần diện tích đất còn lại tức thửa đất số 11, tờ bản
đồ 05 bản đồ năm 1986 thì gia đình ông đã làm thủ tục tặng cho con trai
Chu Tam T3 từ năm 1996 nhưng anh T3 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với phần diện tích đất này.
Việc ông T trình bày khi xây nhà cấp 4 để thừa lại một phần đất để làm
cống thoát nước rộng khoảng 30cm nhà ông đặt ống thoát nước, làm tai
trần lấn sang đất nhà ông T là không có căn cứ. Phần diện tích đất này là của gia
đình ông do khi xây nhà cấp 4 năm 1982 để lấy hướng Đông Nam nên gia đình
ông chừa lại phần đất này làm rãnh thoát nước. Lúc đó, gia đình ông đã xây trụ
cổng, làm móng cổng và xây đoạn tường giáp ngõ đi rộng hết phần đất làm rãnh
thoát nước. Năm 2014, vợ chồng con trai ông là anh T3 chị H phá nhà cấp 4,
xây dựng nhà trần 3 tầng đặt ống thoát nước bằng nhựa đường kính khoảng
10cm, làm tai trần và lợp mái tôn vào phần đất lưu không (rãnh thoát nước) giữa
hai nhà. Theo địa phương giải quyết tranh chấp đất giữa hai nhà năm 2009 thì
phần đất giáp ranh giữa hai gia đình rộng 30cm, mỗi nhà được sử dụng 15cm,
biên bản này cả ông và ông T đều ký xác nhận. Do vậy, việc đặt ống thoát nước,
làm tai trần, lợp phần mái tôn như trên của vợ chồng anh T3 chị H không lấn
sang đất của nhà ông T. Gia đình ông T đã xây nhà trần tkhoảng năm 1993-
1994 đã xây hết đất nhà ông T còn xây lấn sang đất nhà ông khoảng 30cm v
phía trước nhà. Ngoài ra, năm 1982-1983 ông D là bố đẻ ông T có hỏi mượn ông
40cm đất và ông có đồng ý để gia đình ông D xây bếp, khi nào phá bếp thì trả lại
ông (chỉ cho mượn bằng miệng, không văn bản gì). Nên năm 1996 khi Nhà
nước làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân đến
đo đất thì cạnh giáp ngõ đi nhà ông T nếu đo hết bếp sẽ dài 14,9m (bên cạnh bếp
rãnh thoát nước nhà ông rộng khoảng 25cm- 30cm) nhưng ông không đồng ý
vì có cả phần đất 40cm ông cho mượn, khi đó có cả ông T, ông D, bà Đ đều thừa
nhận nên hồ thửa đất thể hiện cạnh y của nhà ông T chỉ dài 14,5m. Việc
ông T trình bày khi xây nhà cấp 4 có để thừa lại một phần đất để làm cống thoát
nước rộng khoảng 30cm giáp đất nhà ông không căn cứ. Ông không đồng
ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Đ, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện
của ông T, bà Đ.
Ông T1 giữ nguyên yêu cầu phản tố: Yêu cầu ông T, Đ phải trả lại gia
đình ông phần diện tích đất ông đã cho mượn khi xây bếp từ năm 1982 phần
đất ông T Đ lấn chiếm khi xây nhà trần với tổng diện tích 3,6m
2
được thể
hiện tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 31/7/2025, cụ thể phần đất
ông yêu cầu ông T Đ phải trả lại hình tam giác một cạnh hướng Nam
5
giáp ngõ đi tính tmóng hậu bếp nhà ông T kéo về hướng Tây dài 40cm; từ
điểm này nối với điểm mốc phía Bắc thửa đất nhà ông T giáp với nhà ông T1;
cạnh còn lại điểm mốc phía Bắc nối với móng hậu nhà ông T giáp khe lưu
không giữa hai thửa đất nhà ông T với ông T1. Ngoài ra, ông T1 yêu cầu ông T
phải bồi thường thiệt hại tài sản do đã phá bức tường gạch của ông T1 xây năm
1982 có chiều dài 30cm, cao 2,3m xây liền với trụ cổng nhà ông T1.
T2 hoàn toàn nhất trí với lời trình bày và yêu cầu của ông T1.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
1.Bà Chu Thị Đ; anh T6, chị T7, chị T8 do ông T đại diện đều nhất trí với
lời trình bày và yêu cầu của ông T.
2.Anh T3, chị H do ông Chu Tam T1 đại diện trình bày: Năm 2014, vợ
chồng anh chị làm nhà trần tại thửa đất số 11, tờ bản đồ 6P, diện tích 285m
2
nay thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ 18 trên nền móng của nhà cấp 4
do ông T1T2 xây năm 1982 và có đặt một ống thoát nước bằng nhựa, làm tai
ô văng trần, mái tôn tại phần đất mà trước đây ông T1 đã bớt lại làm rãnh thoát
nước giáp đất nhà ông T. Phần diện tích đất này, ông T1 đã làm thủ tục tặng cho
anh T3 từ năm 1996 nhưng anh T3 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với phần diện tích đất này. Phía anh T3, chị H không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông T; nhất trí với lời trình bày và yêu cầu của ông T1, bà
T2.
3.Anh T4, anh T5 là con trai của ông T1, bà T2 đã được giao các văn bản tố
tụng theo quy định của pháp luật nhưng không ý kiến không đến Tòa án
làm việc.
4.UBND phường T trình bày: Năm 1999, UBND T nay phường T
triển khai tchức thực hiện việc lập hồ xin đăng ký, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho nhân dân T. Ngày 20/3/1999, ông Vũ Văn T đã lập hồ
đăng đất đai, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
số 10, tbản đồ 6P, diện tích 248m
2
tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện tại qua kiểm tra hồ lưu trữ chỉ còn u hồ phô hồ thửa đất có
đầy đủ chữ ký.
Ngày 31/7/1999, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số O 070594 đối với thửa đất 10, tờ bản đồ 6P, diện tích 248m
2
, mục đích sử
dụng: T (đất ở), địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay
khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh) cho ông Văn T theo Quyết định số
488/1999/QĐ-CT của UBND huyện T cũ.
Việc UBND huyện T nay là phường T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số O 070594 đối với thửa đất 10, tờ bản đồ 6P, diện tích 248m
2
, mục đích sử
dụng: T (đất ở), địa chthửa đất tại thôn N, T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh cho
ông Văn T đúng quy định của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(Luật đất đai năm 1993).
Kết quả xem xét thẩm định, đo đạc của Công ty cổ phần T11 tại Tòa án
thẩm: Phần đất tranh chấp nguyên đơn yêu cầu hiện là rãnh thoát nước nằm giữa
thửa đất hộ ông T với hộ ông T1 với diện tích 1,7m
2
cạnh hướng Nam giáp
6
ngõ đi dài 30cm;cạnh hướng Bắc dài 0,19cm; cạnh hướng Tây giáp bếp nhà ông
T dài 6,73m; cạnh hướng Đông giáp tường nhà ông T1 dài 6,77m.
Trên phần đất tranh chấp có 01 ống thoát nước bằng nhựa P; có 01 gờ gạch;
01 phần mái vảy n. Theo ông T1, các tài sản này của anh T3 chị H làm khi
xây nhà trần năm 2014 trên diện tích đất của ông cho anh T3 từ năm 1996.
Do các tài sản này đã cũ, không còn giá trị nên các đương sự đều không
yêu cầu định giá tài sản.
Giá trị quyền sử dụng đất đang tranh chấp do Hội đồng định giá tài sản
quyết định là 15.00.000đ/m
2
.
Giá trị chiếc tum khói xây gạch năm 1986 kích thước chiều dài 60cm,
chiều rộng 40cm;chiều cao 2,5m tính đến thời điểm bị phá năm 2009 đã hết
khấu hao.
Phần đất tranh chấp theo yêu cầu phản tố của ông T1 được thể hiện theo
tả của ông T1 hình tam giác diện tích 3,6m
2
một cạnh giáp ngõ đi
dài 0,4m; 02 cạnh còn lại cắt vào bếp nhà trần của hộ ông T lần lượt dài
17,92m; 17,9m (theo bản trích đo hiện trạng do Công ty cổ phần T11 thực hiện).
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 29
tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ khoản 6, 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 147,
Điều 157, Điều 165, Điều 235; Điều 244, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 164, 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 166, 169, 170 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn T về việc buộc ông
Chu Tam T1, Nguyễn Thị T2 phải trả phần đất lấn chiếm thửa đất số 10 tờ
bản đồ số 6P cạnh hướng Đông phía ngoài giáp ngõ của thửa đất tiếp giáp với
cạnh hướng Tây thửa đất số 11, tờ bản đ6P hiện rãnh thoát nước với diện
tích đất lấn chiếm 1,7m
2
tại khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh; buộc anh
T3, chị H phải tháo dỡ ống thoát nước, tai trần, phần mái tôn nằm trên phần đất
này; buộc ông T1 phải bồi thường trị giá chiếc tum khói xây gạch
1.700.000đồng.
Đình chỉ xét xphần yêu cầu khởi kiện của ông T đã rút về việc buộc ông
T1 T2 phải trả phần đất lấn chiếm thửa đất số 10 tờ bản đồ số 6P cạnh
hướng Đông phía sau giáp mương của thửa đất tiếp giáp với cạnh hướng Tây
thửa đất số 11, tờ bản đồ 6P với diện tích đất lấn chiếm là 6m50cm x 23cm=
1,495m
2
tại khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu ông T1 bồi thường
thiệt hại do làm nứt móng tường là 30.000.000đồng.
Ông T có quyền khởi kiện lại đối với các yêu cầu này.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Chu Tam T1 về việc yêu cầu
buộc hông T Đ phải trả phần đất mượn khi xây bếp lấn chiếm khi xây
nhà tại thửa đất số 11 tờ bản đsố 6P cạnh hướng Tây của thửa đất tiếp giáp
7
với cạnh hướng Đông thửa đất số 10, tờ bản đồ 6P với diện tích đất lấn chiếm là
3,6m
2
3. Về án phí, chi phí tố tụng: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông T
và ông T1.
Ông T phải trả cho ông T1 số tiền 500.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản.
Trả lại ông T 1.125.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số:
AA/2013/02512 ngày 19/10/2015 của Thi hành án dân sthị T nay thuộc thi
hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 06/02/2026, nguyên đơn ông Văn T nộp đơn kháng cáo đề nghị
sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 12/02/2026, bị đơn ông Chu Tam T1 nộp đơn kháng cáo, đề nghị sửa
bản dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn- ông Vũ Văn T trình bày: Ginguyên yêu cầu kháng cáo đề
nghị sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không
chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ông khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 1,7m
2
đất lấn chiếm,vị trí đất lấn chiếm nằm phần giáp ranh giữa tường nhà bếp của
gia đình ông với tường sân của gia đình ông T1, thể hiện trên sơ đồ đo đạc ngày
31/7/2025 là hình 20-21-9-8-20. Tường bếp của gia đình ông xây từ m 1985
đến nay vẫn giữ nguyên. T9 sân nhà ông T1 xây vào năm 2014. Giữa tường bếp
của gia đình ông với sân nhà ông T1 khoảng đất trống 30cm do gia đình ông
bớt lại để làm giọt ranh, phần đất trống này nằm trong thửa đất của gia đình ông
theo biên bản giải quyết đất ngày 14/01/1994 của Ủy ban nhân dân phường T
nhưng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình
ông năm 1999 vì cấp sai, trên đất không có tài sản công trình gì. Gia đình ông sử
dụng thửa đất này từ năm 1981, đến năm 1999 được cấp giấy chứng nhận quyền
sử đụng đất, từ năm 1999 đến nay gia đình ông chưa cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.Thửa đất một cạnh giáp nông S, 1 cạnh giáp nhà ông
T1, 1 cạnh giáp ngõ và 1 cạnh giáp mương. Diện tích thuộc thửa 68 tờ bản đồ 18
gia đình ông đang sử dụng 291m
2
, diện tích đất tăng là do ban đầu thửa đất
giáp bờ mương đất nay mương lại nên diện tích đất tăng, diện tích đất chỉ
tăng cạnh giáp mương, các cạnh còn lại giữ nguyên không tăng. Ông T1 lấn
chiếm 1,7m
2
đất của gia đình ông thể hiện bằng việc ông T1 để ống nước từ tầng
3 của gia đình ông T1 chảy xuống 1,7m
2
đất của gia đình ông và làm ô văng mái
tôn từ tầng 1 chờm sang 1,7m
2
đất của gia đình ông khoảng 15cm. Ông khẳng
định không mượn đất của gia đình ông T1.
Bị đơn trình bày- ông Chu Tam T1 trình bày: Bị đơn kháng cáo đề nghị
chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc ông T trả 3,6m
2
đất tại vị trí thể hiện
trên sơ đồ đo đạc Tòa án thẩm là các điểm 3-9-10-11-3, diện tích đất 3,6m
2
nằm trong diện tích 285,5m
2
thuộc thửa 11 tbản đồ 6P (nay thửa 73), thửa
đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,gia đình ông sdụng
8
thửa đất này từ năm 1979. do ông yêu cầu ông T trả 3,6m
2
đất năm 1982
ông cho ông D bông T ợn để xây móng bếp, nói khi nào nông T dỡ
bếp thì trả, việc cho mượn đất không giấy tờ gì. Năm 1996 nnước đo đất,
ông đề nghị đo lùi lại 40cm thì gia đình ông T đồng ý giáp ranh. Năm
1999 ông T làm hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất yêu cầu giáp
ranh, ông thấy đúng sơ đồ năm 1996 nên thể hiện tại bút lục 46+bút lục 52.
Trên diện tích 3,6m
2
đất phần bếp nhà ông T phần đầu phía trước nhà trần
của ông T. Khi gia đình ông T làm bếp, nhà trần thì ông có biết, ông không
phản đối gì. Ông vào biên bản làm việc ngày 04/11/2009, do khi
đó chính quyền địa phương đứng ra hòa giải nhiều lần nên ông cho xong chứ
ông không phá tum của gia đình ông T.
Bị đơn Nguyễn Thị T2 thống nhất với lời khai của ông Chu Tam T1. Người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Chu Thị Đ thống nhất với lời khai của ông
Vũ Văn T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp
phúc thẩm: Hội đồng xét xThư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng
các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố
tụng mặt tại phiên tòa chấp nh nội quy phiên tòa thực hiện đầy đủ
quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn T, ông
Chu Tam T1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày
29/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Bắc Ninh.
+Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ
Văn T, ông Chu Tam T1 do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xnhận
định:
[1]Về sự vắng mặt của đương sự: Một số người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2. Căn cứ Điều 296 Bộ luật
tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của ông T buộc ông T1, T2 trả 1,7m
2
đất
buộc anh T3, chị H phải tháo dỡ ống thoát nước, tai trần, phần mái lợp tôn sang
phần đất lấn chiếm, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Ngày 31/7/1999, UBND huyện T, tỉnh Bắc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ s6P, diện tích 248m
2
cho
ông Văn T (theo bản đồ đo đạc năm 2012 thửa 68 tờ bản đ18 diện tích
291,4m
2
).
[2.2] Năm 1986 gia đình ông Chu Tam T1 được cấp giấy chứng nhận tạm
thời diện tích 285m
2
đất thuộc thửa số 11 tbản đồ 05 tại thôn N, T (nay là
khu phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh); theo bản đồ năm 1996 thửa đất 11 tờ
bản đồ 6P diện tích 392m
2
; theo bản đồ năm 2012 thửa đất số 3, tbản đồ
9
18, diện tích 497,6m
2
(theo Kết luận số 143/KL-UBND ngày 11/8/2016 của
UBND phường T (nay phường T) thì ông T1 đã nhận chuyển nhượng một
phần diện tích từ hộ ông T10 nên diện tích đất có biến động – bút lục 262).
[2.3] Thửa đất số 10, tờ bản đồ 6P của hộ ông T được nhà nước công nhận
năm 1999 có diện tích 248m
2
, theo bản đồ năm 2012 là thửa đất số 68, tờ bản đồ
18, có diện tích 291,4m
2
. Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty cổ
phần T11 ngày 31/7/2025 thì thửa đất số 68 tờ bản đồ 18 diện tích 291,4m
2
.
Đối chiếu kích thước các cạnh của thửa đất theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập năm
1999 do Ủy ban nhân dân phường T cung cấp (bút lục 147) với hiện trạng kích
thước các cạnh của thửa đất theo kết quả xem xét thẩm định đo đạc ngày
31/7/2025 (bút lục 337b) thấy: Cạnh hướng Nam giáp ngõ dài 14,5m, số liệu đo
đạc thực tế 14,98m; cạnh hướng Bắc giáp mương dài 14,5m, số liệu đo đạc
thực tế là 14,56m; cạnh hướng Đông giáp nhà ông T1 dài 18,2m, số liệu đo thực
tế 19,76m; cạnh hướng Tây giáp nhà ông S dài 17m, số liệu đo đạc thực tế
19,72m. Như vậy, các cạnh của thửa đất, diện tích đất theo hiện trạng hộ ông T
đang sử dụng đều tăng so với hồ kỹ thuật thửa đất lập năm 1999 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông T năm 1999. Tại kết luận số
143/KL-UBND ngày 11/8/2016 của UBND phường T (cũ) về việc giải quyết
tranh chấp đất đai giữa hộ ông T1 với hộ ông T (bút lục 262) cũng kết luận Số
đo thực tế các chiều, cạnh so với số đo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của hộ ông Vũ Văn T không thiếu” (bút lục 299). Theo kết quả đo đạc của
Công ty Cổ phần T11 thì hiện trạng 1,7m
2
đất gia đình ông T đang khởi kiện
buộc gia đình ông T1 trả (được thể hiện trên trích đo hiện trạng và tài sản trên
đất ngày 31/7/2025 tại vtrí các điểm 20,21,9,8,20) nằm trên thửa đất 68 tờ bản
đồ 18 của gia đình ông T. Do vậy, việc ông T yêu cầu gia đình ông T1 trả 1,7m
2
đất phá bỏ ống thoát nước, tai trần, phần mái n chưa đủ căn cứ. Tòa
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là đúng.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của ông Văn T buộc ông Chu Tam T1 bồi
thường chiếc tum khói với số tiền 1.700.000đồng, Hội đồng xét xử thấy: Theo
ông T trình bày thì năm 1985 gia đình ông T xây bếp đến năm 1986 làm tum
khói xây bằng gạch kích thước chiều rộng 40cm, dài 60cm, chiều cao
2,5m được xây phía sau bếp trên nền cống thoát nước; đến năm 2009 ông T1
đã tự ý phá bchiếc tum khói của gia đình ông T, chứng cứ Biên bản làm
việc” ngày 04/11/2009 của Khu phố Nội TI có chcủa ông T1. Phía ông
T1 thừa nhận vào biên bản làm việc ngày 04/11/2009 nhưng do khi đó
mâu thuẫn hai bên đã lâu, thôn đã đứng ra giải quyết nhiều lần nên khi địa
phương đnghị hai gia đình chấp thuận cách giải quyết của địa phương ông
vào biên bản làm việc cho xong. Xét thấy, mặc dù ông T1 thừa nhận
vào biên bản làm việc ngày 04/11/2009 nhưng theo kết quả định giá tài sản ngày
05/12/2025 (bút lục 389) thì “chiếc tum khói xây gạch năm 1986, phá năm 2009,
kích thước dài 60cm, rộng là 40cm,đến thời điểm phá đã hết khấu hao”. Do vậy,
Tòa thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc buộc ông T1 bồi
thường trị giá chiếc tum khói với số tiền là 1.700.000đồng là có căn cứ.
10
[4] Về yêu cầu của ông Chu Tam T1 buộc ông Vũ Văn T, Chu Thị Đ trả
3,6m
2
đất, Hội đồng xét xử thấy:
[4.1] Năm 1982, ông T, bà Đ xây bếp; năm 1992 thì xây nhà trần trên thửa
đất số 10, tờ bản đồ 6P tại thôn N, xã T nay là tổ dân phố N, phường T. Tại thời
điểm gia đình ông T xây bếp ng như xây nhà trần thì hộ ông T1 không ý
kiến hay tranh chấp . Hộ ông T sử dụng các tài sản trên ổn định không xảy ra
tranh chấp với ai, đến năm 1999 thì ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất trên.
[4.2] Ông T1 trình bày năm 1982 khi xây bếp bố ông T cụ D mượn
của gia đình ông 40cm đất theo chiều mặt ngõ nhưng ông T1 không tài liệu
chứng cứ chứng minh. Phía ông T, Đ không thừa nhận việc mượn đất để
làm bếp như ông T1 trình bày. Phần đất ông T1 yêu cầu ông T, bà Đ trả theo ông
T1 mô tả là hình tam giác có cạnh hướng Nam giáp ngõ đi là 40cm, hai cạnh còn
lại cắt qua bếp nhà trần của hộ ông T nhưng tiếp giáp với phần đất này còn
một phần đất ông T Đ đang sử dụng tiếp giáp với thửa đất số của 10 hộ ông
T1 theo trích đo hiện trạng do Công ty cổ phần T11 thực hiện thể hiện tại các
điểm 3,9,10,11,3 diện tích 3,6m
2
. Thửa đất hộ ông T1 sử dụng nhiều biến
động qua c thời kỳ, theo giấy chứng nhận tạm thời cấp năm 1986 thửa đất
số 11, tbản đồ 6P, diện tích 285m
2
nay thửa số 3, tờ bản đồ 18, diện ch
497,6m
2
. Năm 2021, hông T1 đã làm thủ tục tách thửa đất số 3, tờ bản đồ 18
thành 03 thửa đất, hai thửa đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như
đã nêu trên, phần diện tích đất còn lại 285,5m
2
giáp với thửa đất hộ ông T
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 căn cứ vào chiều dài
hướng Nam giáp ngõ đi thửa đất hộ ông T theo đồ thửa đất năm 1999 dài
14,5m nhưng hiện trạng đo đạc thực tế đến hết móng bếp nhà ông T thì cạnh này
dài 14,98m căn cứ vào việc giáp ranh khi gia đình ông T được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 để cho rằng ông T, Đ khi xây bếp,
làm nhà trần đã lấn sang phần đất giáp ranh giữa hai nhà nên đòi lại phần đất
này là chưa đủ căn cứ. Tòa thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Chu Tam
T1 là đúng.
[5] Xét thấy, Tòa thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Tại giai đoạn xét
xử phúc thẩm các đương skhông cung cấp tài liệu chứng cứ nào mới nên Hội
đồng xét xử không căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn,bị đơn cần
giữ nguyên bản án thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc
Ninh.
[6] Về án phí dân sphúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông T, ông T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên do ông T, ông T1
người cao tuổi nên được miễn án pdân sự phúc thẩm theo điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
11
1.Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của ông Văn T, ông Chu Tam T1, ginguyên bản án dân sự thẩm số
16/2026/DS-ST ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Bắc Ninh.
2.Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ pTòa án: Miễn án phí dân sự phúc
thẩm cho ông Vũ Văn T, ông Chu Tam T1.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Toà án nhân dân Khu vực 7- Bắc Ninh;
-Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng Thi hành án Khu vực 7 – Bắc Ninh;
-Các đương sự;
-Lưu HS; VP
Triệu Thị Luyện
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất