Bản án số 185/2026/DS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 185/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 185/2026/DS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 185/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 185/2026/DS-PT Bản án số 185/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 185/2026/DS-PT Bản án số 185/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 185/2026/DS-PT
Ngày 08-7-2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi
Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Bích Lượt, ông Phạm Văn Toàn.
- Thư phiên tòa: Ông Hồng Đăng Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 tháng 6 ngày 08 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh P Thọ xét x phúc thẩm công khai vụ án thụ số
46/2026/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 5 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 131/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2026/QĐ-PT ngày
26/5/2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2026/QĐPT-DS ngày
09/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hồ Kim T (Hồ Đức T1), sinh năm 1953; trú tại: Khu
I (xã T cũ), nay là C, tỉnh Phú Thọ; ĐT: 0382.226.206.
2. Bị đơn: Thiều Thị Đ, sinh năm 1945; trú tại: Khu I (xã T ), nay
xã C, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện theo uỷ quyền của Đ: Ông Hoàng Hữu Đ1, sinh năm
1998. Địa chỉ: Số B, nF, phố M, phường Y, thành phố Nội (Hợp đồng ủy
quyền ngày 20/11/2023). ĐT: 0327.090.198.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Đ: Ông Nguyễn Văn H,
sinh năm 1991 Luật sư, Công ty L2. Địa chỉ: Số B, ngõ F, phố M, phường Y,
thành phố Hà Nội. ĐT: 0989.422.798.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ Liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954;
3.2. Ông Hồ Mạnh T2, sinh năm 1975;
3.3. Bà Tống Thị Thanh H1, sinh năm 1983;
3.4. Ông Hồ Đức T3, sinh năm 1980;
Cùng trú tại: Khu I (xã T cũ), nay là xã C, tỉnh Phú Thọ;
2
3.5. Ông Hồ Đức T4, sinh năm 1979; trú tại: Phố P, phường P, tỉnh Phú
Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T2, H1, ông T3, ông T4:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1954. Trú tại: Khu I (xã T cũ), nay C, tỉnh Phú
Thọ. (Giấy ủy quyền ngày 05/3/2025).
3. 6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân C, tỉnh PThọ (là người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND xã Y cũ, UBND huyện Đ cũ).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang H2- Công chức Phòng
kinh tế - UBND xã C. (Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2025)
3. 7. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1975; Khu 9 (T cũ), nay C, tỉnh
Phú Thọ;
3. 8. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; Khu 9 (T cũ), nay C, tỉnh
Phú Thọ;
3. 9. Nguyn Th H3, sinh năm 1972; Khu C (Vân Đồn cũ) nay
C, tnh Phú Th.
3. 10. Nguyn Th Thanh H4, năm 1971; Khu 4 (T cũ), nay C,
tỉnh Phú Thọ;
3. 11. Nguyn Th Kim H5, sinh năm 1980; Khu 8 (T cũ) nay T,
tnh Phú Th.
Người đại din theo y quyn ca ông V, N, H3, H4, H5:
Công ty L2. Địa chỉ: Số B, ngõ F, phố M, phường Y, thành phố Nội. Đại
din: Ông Nguyễn Văn H - Chc v Giám đc. (Các hợp đồng y quyn ngày
31/3/2025).
3. 12. Công ty Cổ phần Q, Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn
Văn C, chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính. ĐT: 0982.435.867. (Văn
bản ủy quyền ngày 28/4/2026)
* Người kháng cáo: Thiều Thị Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Hồ Kim T (tức Hồ Đức T1) trình bày: Năm 1993, ông
được Phân khu quản lý đường bộ 238 giao một diện tích đất có chiều ngang 8m,
chiều sâu 28m tại địa chỉ khu I, (xã T, huyện Đ cũ), nay C, tỉnh Phú Thọ,
cho mượn để làm nhà quán bán hàng. Năm 1996, UBND huyện Đ đã quy
hoạch lại khu đất trên và quyết định cấp quyền sử dụng đất cho ông. Hộ Đ
hộ liền kề với diện tích đất của ông cũng được cấp giấy chứng nhận QSD đất
cùng thời điểm. m 2003, ông được UBND huyện cấp giấy CNQSD đất số
T816586, ngày 26/2/2003, diện tích đất 886m
2
, gồm các thửa 58, 49, 55, tờ bản
đồ số 11 tại địa chỉ khu I, T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, mang tên hộ ông Hồ
Đức T1. Trong đó, thửa đất 58, tbản đồ 11, diện tích 364m
2
(144m
2
đất
220m
2
đất vườn) thửa đất tranh chấp với Đ. Hiện nay, ông vẫn đang
quản lý và sử dụng diện tích đất trên.
3
Về nguồn gốc đất: Ông xác định thửa đất 58 tbản đồ 11 của
nghiệp Q1 đã cho các cán bộ được sử dụng một phần đất trả ra. Sau này, đủ điều
kiện thì được cấp giấy chứng nhận QSD đất.
Năm 2002-2003, UBND thông báo cho khu dân về việc cấp bìa đỏ.
Lúc đó chủ trương đưa ra ai sử dụng đất thì khai, chỉ thực tế để đơn vị đo
đạc đến đo đất. Gia đình ông thực tế khai để cấp bìa đối với các thửa đất trên
trong đó có thửa đất 58, tờ bản đồ 11. Cùng thời điểm đó hộ Đ cùng đồi cũng
khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không tranh chấp gì.
Kết quả đo đạc được công khai tại khu dân cư, nếu không tranh chấp thì
chuyển lên xã, huyện để cấp bìa.
Năm 2009, ông làm nhà trên đất thì gia đình Đ ngăn cản không cho
gia đình ông làm nhà, Đ cho rằng đây đất của bà. Sau đó, ông gửi đơn đề
nghị UBND giải quyết, thì Đ không ngăn cản nữa. Quá trình sử dụng đất
gia đình ông hoàn cảnh khó khăn, vợ ông bị bệnh nặng nên ông nhiều lần
phải thế chấp QSD đất đối với giấy chứng nhận QSD đất số T816586, ngày
26/2/2003. Việc thế chấp được Ngân hàng đến kiểm tra và xã xác nhận, có đăng
thế chấp tại Văn phòng đăng quyền sdụng đất huyện Đ. Cũng rất nhiều
lần ông trả được nợ Ngân hàng, xóa thế chấp và rút bìa đỏ về.
Khoảng năm 2018, gia đình Đ dùng máy múc đất phần đất bên cạnh
giáp ranh với phần đất của gia đình ông, sau đó chuyển một scây cối lên
trồng tại khu đất của gia đình ông, ông không đồng ý và ông có yêu cầu gia đình
Đ phải di dời cây cối để gia đình ông múc đất, hthấp độ cao để làm lại nhà
nhưng gia đình Đ vẫn không di dời cây cối. Ông đã yêu cầu UBND giải
quyết nhưng gia đình Đ không hợp tác để giải quyết. Đến năm 2023, ông làm
thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con trai Hồ Mạnh T2 thì Đ
không giáp ranh vẫn cho rằng toàn bộ diện tích đất của gia đình ông
được Nhà nước cấp quyền sdụng của nhưng không bất kỳ căn cứ
gì. Đ các con đã lấn sang đất của ông một phần diện tích đã trồng một
số cây cối trên đất của ông. Ông đã đề nghị UBND giải quyết, sau nhiều lần
nhưng không được nên ông khởi kiện tại Tòa án.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/04/2025 đồ
hiện trạng kèm theo bản vẽ thì diện tích đất đang tranh chấp diện tích
141,1m
2
. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất này là phần
đất thuộc bản đồ cấp Giấy chứng nhận của gia đình ông, phần đất này phần
đất của gia đình ông phần đất phía ngoài công trình xây dựng của gia
đình ông nhưng thuộc hành lang giao thông thì không phải đất ở. Tổng diện
tích đất của gia đình ông tính cả phần diện tích đất đang tranh chấp hiện đang
nhỏ hơn diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T816586,
ngày 26/2/2003, nhưng ông nhất trí với diện tích đó đề nghị ghi nhận diện
tích thực tế theo đúng diện tích trên đồ hiện trạng kèm theo biên bản thẩm
định ngày 04/4/2025. (Diện tích đo đạc thực tế khoảng 269,1m
2
; Diện tích
giảm đi là: 94,9m
2
). Ngoài ra, ông tự nguyện di dời 1 phần (móng, tường) diện
tích khoảng 02 m
2
bếp giáp diện tích đất tranh chấp (nằm ngoài chỉ giới
20,22,23 sơ đồ hiện trạng thửa đất 58, tờ bản đồ 11, khu I T).
4
Tại cấp thẩm ông đã đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 5 Phú Thọ
giải quyết, buộc Đ phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của ông 141,1m
2
(theo đồ hiện trạng xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2025) Đ phải
thu hoạch các cây đã trồng trên đất của ông.
Về yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị Tòa án công nhận bị đơn có quyền
sử dụng diện tích 141,1m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc quyền quản của
bị đơn, ông không nhất trí. Đối với ý kiến của bị đơn về việc yêu cầu hủy một
phần giấy chứng nhận QSD đất số T816586, ngày 26/2/2003 đối với diện tích
141, 1m
2
(theo đồ hiện trạng xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2025) của
thửa đất số 58, tờ bản đồ 11, do UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất
đứng tên hộ HKim T, ông hoàn toàn không nhất trí đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn Thiều Thị Đ do ông Hoàng Hữu Đ1 đại diện theo y quyền
thống nhất trình bày:
Th nht, phn din tích đất mà ông T kin đòi của gia đình bà Đ có
ngun gốc do gia đình khai phá t năm 1970 và gia đình bà vn trc tiếp
qun lý, s dng ổn định liên tc, công khai t năm 1970 đến nay.
Th hai, t thời điểm năm 1993, ông T ch ợn gia đình Đ mt phn
đất ven v đưng Quc l 2 để m quán bán hàng vi din tích dài khong 6 -7
m, sâu khong 8m bám theo đường Quc l 2. Quá trình cho mượn ch t hai
phía gia đình tự thc hin, hoàn toàn không vic chính quyn hay Phân khu
quản đường b 238 thông báo hay đến đo đc cm mc giới. Năm 2003,
UBND huyện Đ cp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T816586 cho
hộ ông Hồ Đức T1 phần diện tích đất do gia đình Đ đã cho ông T1 mượn và
cấp chồng lấn một phần diện tích gia đình Đ đang quản sử dụng từ năm
1970 đến nay không đúng. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
hộ ông Hồ Đức T1 không đúng với hiện trạng, không căn cứ pháp lý,
không đúng quy định pháp luật đất đai, gia đình Đ hoàn toàn không biết việc
hộ ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Đ gia đình cũng
không bất văn bản nào liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông T1. Đ đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Hồ Đức T1 và có yêu cầu phản tố như sau:
- Yêu cầu Toà án hủy giấy CN QSD đất s T816586 do UBND huyện Đ
cp ngày 26/02/2003 cho h ông Hồ Đức T1 của thửa đất s 58, t bản đồ s 11;
địa ch tại xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Là phần đang tranh chấp); Yêu cu Tòa
án công nhận phần diện tích tranh chấp nhà Đ đang quản sdụng nằm
trong GCNQSD số T816586 đã cấp cho ông T1 của gia đình Đ. Quá trình
giải quyết đơn đề nghị yêu cầu Toà án hủy 1 phần giấy CN QSD đt s
T816586 do UBND huyện Đ cp ngày 26/02/2003 cho h ông Hồ Đức T1.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan y ban nhân dân xã C do Người
đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Quang H2, người thừa kế quyền nghĩa vụ
tố tụng của UBND xã Y, UBND huyện Đ sau sáp nhập trình bày:
Theo tài liệu địa chính xã C quản lý và các hồ sơ liên quan thể hiện:
5
- Thửa đất số 58, tờ bản đồ 11 tại khu I, diện tích 364m
2
tại T, (xã Y cũ)
nay xã C, tỉnh Phú Thọ do UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất
ngày 26/02/2003 đứng tên hộ ông Hồ Kim T;
- Thửa đất số 57, tờ bản đồ 11 tại khu I, diện tích 1040 m
2
tại T, (xã Y cũ)
nay xã C, tỉnh Phú Thọ do UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất
ngày 26/02/2003 đứng tên hộ bà Thiều Thị Đ;
- Về nguồn gốc đất: Qua tài liệu về bản vẽ giao đất xây dựng cho
nghiệp Q2; Tài liệu về việc cấp giấy chứng nhận QSD đất, sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất cho công ty cổ phần Q công trình giao thông 238 tại
T cũ; bản trích đo địa chính điều chỉnh ranh giới diện tích đất giao cho công ty
Cổ phần Q: Thửa đất số 58, t bản đồ s 11; địa ch xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
cũ (Là phần đang tranh chấp) có nguồn gốc là đất của Xí nghiệp Q1 quản lý. Đất
do UBND tỉnh giao cho tổ chức nghiệp quản đường bộ 238 theo quy
định của luật đất đai, Công ty Q đã cho cán bộ công nhân viên làm nhà trên đất
của công ty sau đó trả lại 1 phần đất hợp thức hoá cho các hộ được cấp giấy
chứng nhận QSD đất còn lại của công ty ngày 18/10/2017. đã được chỉnh
hồ địa chính, bản đồ theo bản đồ 299 đã được các cấp thẩm quyền phê
duyệt.
+ Đối với đất của Công ty CP Q3 238 hiện trạng được cấp theo 2 giấy
chứng nhận QSD đất, khi đo đạc thì xác định các thửa xung quanh, đánh thứ tự
từ 01 đến 23 (Mảng trích đo địa chính các thửa liên quan đến vị trí cấp GCN cho
238) đất của nghiệp 238; Phần ngoài diện tích bìa đỏ (có phần đất tranh
chấp) là đất của xí nghiệp Q1 cũ.
Hiện nay, UBND không còn lưu tài liệu về việc cấp giấy chứng nhận
QSD đất của 2 hộ; cũng không lưu tài liệu về việc trả lại đất của xí nghiệp Q1.
- Về quá trình quản lý, sử dụng đất của 02 hộ: Việc hai hộ sử dụng đất
thực tế sử dụng đất của nghiệp Q1 cũ. Sau khi nghiệp cho cán bnhân
viên ra làm nhà nên khi khai cấp GCNQSD đất cho công ty đã xin cấp
GCNQSD đất theo đúng hiện trạng (Đã trả diện tích mà các hộ đã làm nhà ở)
- V trình t, th tc cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất: Thc hin
ch trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nhà nước theo Luật đất
đai năm 1993, UBND T thực hin cho các h dân t khai trên sở
din tích đất thc tế s dụng, sau đó UBND xã tiến hành lp h gửi UBND
huyện xem xét cấp GCNQSDĐ, nếu h nào đ điu kin s đưc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Ti khu vực tranh chấp nhiều hộ khác sdụng đất
đưc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vic cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các h trên thc hiện đúng trình t, th tục, sơ đồ của các thửa
đất trong GCNQSDĐ phù hợp với kích thước, hình thể của các thửa đất thể hiện
trong bản đồ 299.
- V vic din tích và hình th ca các thửa đất có s thay đổi:
Diện tích của hộ ông T được cấp theo giấy chứng nhận QSD đất tại thửa
58, tờ bản đồ 11 diện tích 364m2 (đất ở144m2 ; đất vườn: 220m2); Nay diện
tích đo đạc thực tế là khoảng 269,1m
2
; Diện tích giảm đi là: 94,9m
2
.
Diện tích đất hộ Đ được cấp theo giấy chứng nhận QSD đất tại thửa
57, tờ bản đồ 11; diện tích 1.040m
2
(Đất 300m
2
; đất vườn 740m
2
); Nay diện
6
tích đo đạc thực tế khoảng 983,7m
2
; Diện tích này giảm đi 56,3m
2
(Sai số
đo đạc giữa bản đồ 299 với đo đạc máy theo hệ toạ đVN B)
Các hộ đều sử dụng ổn định không việc mua bán hay chuyển
nhượng đối với hộ liền kề. Hin trng s dụng đt ca các h đều giảm diện tích
so vi din tích được cấp cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên
nhân do sai số đo đạc. Trước đây đo đạc là thủ công và nay đo bằng máy.
- V bản đồ làm căn cứ gii quyết v án: Sau khi kim tra bản đ lưu tại
UBND xã xác định tại địa bàn T cũ chỉ có duy nhất bản đồ 299 đo vẽ khoảng
năm 2002-2003 được cấp thẩm quyền phê duyệt năm 2003. Ngoài ra,
không bất kỳ bản đồ địa chính nào khác đối với toàn bộ đất đai của T
(nay C). Bản đồ 299 này sở pháp để cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (GCNQSDĐ) của toàn bộ dân xã T cũ.
- V vic xác đnh v trí đt trên thực địa: Hiện nay, các hộ sử dụng đt
đều không thay đổi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản đồ 299
nên việc xác định vị trí cụ thể qua diện tích hiện trạng thực tế và áp các cạnh của
thửa đất để xác định vị trí thửa đất.
- Quan điểm của UBND xã: Đối với yêu cu khi kin của nguyên đơn:
Việc cấp GCNQScủa hai hộ đều thực hiện theo đúng quy định của pháp
luật, đồ của các thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp
với kích thước, hình thể trong bản đồ 299 nhưng thực tế diện tích sử dụng
giảm đi so với giấy chứng nhận QSD đất. Sau khi bản án của Tòa án hiệu
lực các bên sẽ điều chỉnh lại giấy chứng nhận QSD đất.
- Đối với ý kiến của bđơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của thửa đất số 58; tờ bản đồ 11 của nguyên đơn Công nhận QSD đất của
bị đơn đối với diện tích 141,2 m
2
: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của các hộ đều theo trình tự thủ tục chung, hai hộ cùng một số hộ dân khác trên
địa bàn đều khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cùng thời
điểm việc thực hiện hoàn toàn công khai. Bị đơn chỉ khai đối với thửa đất
số thửa đất số 57; tờ bản đồ 11 không có ý kiến với việc kê khai của nguyên đơn
nên đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 58; tờ
bản đồ 11 cấp cho nguyên đơn là không có căn cứ.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L, sinh năm 1954;
ông Hồ Mạnh T2, sinh năm 1975; Tống Thị Thanh H1, sinh năm 1983; ông
Hồ Đức T3, sinh năm 1980; ông Hồ Đức T4, sinh năm 1979; Người đại diện
theo ủy quyền của ông T2, H1, ông T3, ông T4: Nguyễn Thị L, sinh năm
1954, trú tại: Khu I, T, C, tỉnh Phú Thọ thống nhất trình bày: L, ông T2,
H1, ông T3, ông T4 cùng quan điểm như ông T đã trình bày. Đề Nghị Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V, sinh năm
1975; Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; Nguyn Th H3, sinh năm 1972;
Nguyn Th Thanh H4, năm 1971; Nguyn Th Kim H5, sinh năm 1980;
Người đại din theo y quyn ca ông V, N, H3, H4, H5: Công ty
L2. Đa ch: Bit th s B N, phưng T, thành ph Ni. Đại din: Ông
Nguyễn Văn H - Chc v Giám đốc trình bày: Đều cùng quan điểm như
7
Thiều Thị Đ và ông Hoàng Hữu Đ1 là đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã trình
bày.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cp Q, Người đại diện theo
ủy quyền là ông Nguyễn Văn C vắng mặt nhưng quan điểm: Công ty cổ phần
Q, tiền thân nghiệp quản đường bộ 228, đến ngày 25/11/1991 được đổi
tên thành phân khu quản đường bộ 228. Ngày 03/6/1992, được đổi tên thành
phân khu quản lý đường bộ 238. Ngày 25/3/1998, được đổi tên thành Công ty Q.
Ngày 01/11/2006, được đổi tên thành Công ty cổ phần Q, địa chỉ tại: K, P,
huyện S, thành phố Hà Nội.
Ngày 03/4/1992, tại Quyết định số 231/QĐ-UBND của UBND tỉnh V
giao đất hợp thức làm trụ sở và chứa vật tư đá hộc phục vụ bão lũ tại tuyến QL2
diện tích đất được giao 8.923m
2
, khu làng M, khu I, T cũ. Sau khi được
giao đất, công ty sử dụng ổn định diện tích đất được giao từ năm 1992, đến năm
2017 được cấp giấy chứng nhận QSD đất thành 02 thửa số CK 070643 và Ck
070642 với diện tích là 2.959,8m
2
2.053,7m
2
, mục đích sử dụng đất thương
mại dịch vụ. Diện tích đất giảm đi so với quyết định giao đất của UBND tỉnh
V cũ là do có một phần diện tích vào khu dân cư của khu I, xã T.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017, Công ty
cổ phần Q quản sử dụng đất ổn định không tranh chấp với hộ dân liền
kề. Việc ông Hồ Kim T Thiều Thị Đ được cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất thì công ty Q không được biết. Công ty không nắm được nguồn gốc sử
dụng đất đối với các thửa đất đang tranh chấp giữa hộ ông T và hộ bà Đ. Đối với
tài liệu chứng cứ “Đơn xin mượn đất làm quán bán hàng”, người làm đơn
Nguyễn Thị L ngày 25/10/1993, qua kiểm tra Công ty không thấy quyết
định giao đất theo đơn của bà Nguyễn Thị L, nên công ty cũng không nắm được
công ty có cho bà L mượn đất hay không. Hiện tại, công ty không lưu giữ các tài
liệu nào liên quan để cung cấp cho Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn thì công ty đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật. Do công việc bận nên công ty Cổ phần Q đnghị
Tòa án giải quyết vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa xét xử của Tòa án.
Lời khai bổ sung ngày 30/10/2025: Đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ 11,
diện tích 424m
2
giáp liền kề với thửa đất 58, tờ bản đồ 11 của ông Hồ Đức T1
tại sổ mục ngày 02/8/2002 của thể hiện chủ sử dụng đất “Xí nghiệp
Đá”, thuộc công ty Q. Tuy nhiên, đến nay công ty Q đều xác định không còn
quản phần đất này từ lâu không nằm trong giấy chứng nhận QSD đất đã
cấp cho Công ty Q. Thửa đất này gia đình Đ vẫn đang quản lý, sử dụng. Đối
với cây mít mọc vị trí gần giáp bức tường (thể hiện tại sơ đồ hiện trạng, xem xét
thẩm định tại chỗ) trên thửa đất số 58, tờ bản đồ 11 cấp giấy chứng nhận QSD
đất đứng tên ông Hồ Đức T1. Về cây mít này do ai người trồng và cây mít
từ thời điểm nào? tCông ty đều không nắm rõ. Tuy nhiên, cây Mít này nằm
trên thửa đất số 58, tờ bản đồ 11, nên quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng
nhận QSD đất thửa đất trên cho ông T1 thì cây mít là của gia đình ông T1.
Người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng quan điểm như
sau:
8
1. Người làm chứng ông Phạm Đình P, nguyên cán bộ địa chính xã T giai
đoạn năm 1992-2019 trình bày:
Đối với việc tranh chấp đất giữa hộ ông T1 hộ Đ, thời điểm ông
đang công tác tnăm 1992 theo ông được biết Công ty Q đã quản đất cho
công nhân mượn đất làm nhà đối với diện tích đất hai hộ được cấp sử dụng
như hiện nay. Phần đất công ty 238 cho các hộ mượn thì công ty đã trả lại cho
Nhà nước đđịa phương cấp giấy chứng nhận QSD đất cho các hộ, việc trả lại
đất của công ty Q ông không nhớ rõ khi nào nhưng ngoài hai hộ trên thì còn 1 số
hộ khác cũng được cấp giấy chứng nhận QSD đất cùng thời điểm. Việc bà Đ cho
rằng đất của đất khai hoang không đúng đất này do công ty Q
quản lý và cho bà Đ mượn.
Khi cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ Đ2 tại thửa đất 57, ông T1
tại thửa đất 58, tờ bản đồ 11 tại khu 9 tiêu Sơn cũ, do các hộ sử dụng đất ổn
định nên các hộ đã làm đơn khai gửi ban chỉ đạo thông qua khu dân cư, được
hội nghị thống nhất, danh sách cấp giấy chứng nhận QSD đất được niêm yết tại
khu dân cấp giấy chứng nhận QSD đất cấp lần đầu năm 2003 cho các
hộ đúng theo quy định. Do công việc bận nên ông đề nghị Tòa án giải quyết
vắng mặt theo quy định của pháp luật.
2. Người làm chứng Ông Nguyễn Cao K trình bày:
Năm 1993, ông T1, L, Đ đều công nhân, ông hạt trưởng hạt 3
QL2 của Phân khu quản đường bộ 238. Nguyện vọng của L, ông T1 đã
làm đơn mượn đất của hạt 3 đlàm quán bán hàng tăng thu nhập, khi đó ông đã
xác nhận ý kiến lãnh đạo hạt 3 đồng thời chuyển lên giám đốc phân khu
xem xét được giải quyết. Khi đó Đơn xin mượn đất làm quán bán hàng
ngày 25/10/1993 đồ hiện trạng tả được vẽ sau tđơn, giám đốc
ông Trần B đã xác nhận tên. Ông xác nhận đất của ông T1 thửa đất số
58, tờ bản đồ 11, liền kề đất của Đ sử dụng đều đất quan quản
đường bộ 238 quản lý. Đối với việc cơ quan trả lại đất cho nhà nước như thế nào
ông không nắm được nhưng xác định việc phân khu quản đường bộ đã trả
lại đất cho Nhà nước. Việc cấp giấy CNQSD đất như thế nào ông cũng không
nắm rõ, nhưng xác định những hộ giáp ranh với phân khu 238 đều là đất cơ quan
238 đã trả lại cho nhà nước. Do công việc bận nên ông đề nghị Tòa án giải quyết
vắng mặt.
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân K1, ông Phan Tất M, bà Trần Thị
Minh P1, Hoàng Thị P2, Tạ Thị C1, ông Nguyễn Xuân L1 đều quan
điểm trình bày:
- C1, ông M, ông K1, P2, ông L1 đều quan điểm trình bày ông
sinh ra và lớn lên tại khu I T cùng với gia đình Đ. C1, ông M ông K1
đều xác định thửa đất phía sau quán của ông T1 là của gia đình bà Đ. Vì từ trước
đến nay chỉ thấy gia đình Đ trồng cây trên đất, quản sử dụng đất và
trồng 1 số cây ăn quả như mít, xoài.., hiện nay còn cây mít to trên đất, C1,
ông M, ông K1 đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Trọng H6, ông Hoàng Văn B1, ông
Nguyễn Văn K2 trình bày: Năm 2010, gia đình được xây tường o xung
quanh thửa đất trong đó cả diện tích đất tranh chấp. Người làm chứng ông
9
Nguyễn Trọng H6, ông Hoàng Văn B1 xác nhận khoảng năm 2010, ông xây
tường rào cho Đ; Người làm chứng ông Nguyễn Văn K2 xác nhận khoảng
năm 2011, ông đóng án gian với cây gỗ mít, khi đó Đ hai cây mít cỗi
phía sau nhà ông T1 nên nhờ ông khai thác đóng án gian. Ông H6, ông B1, ông
K2 đều đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi bổ sung yêu
cầu khởi kiện;
Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, Người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày: Về việc tranh chấp quyền sử
dụng đất nhưng không hành vi lấn chiếm đất của bị đơn, bị đơn không lấn
chiếm đất của nguyên đơn. Quá trình sử dụng đất, bị đơn đã trồng cây trên đất,
đến nay trên đất vẫn còn 01 cây mít to. Việc xác định đất thuộc quyền quản
của công ty Q trước đây không đúng, bị đơn đã khai hoang sử dụng đất
từ những năm 1970. Đối với sổ mục kê, sổ địa chính không căn cứ pháp lý,
không đúng hiện trạng, nội dung sổ địa chính không phù hợp. Nguyên đơn được
cấp giấy chứng nhận QSD đất không đúng quy định của pháp luật. Do vậy, Phía
bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, đnghị Toà án huỷ một phần giấy chứng
nhận QSD đất đối với diện tích đo đạc thực tế 141,1m
2
của thửa đất số 58, tờ
bản đồ 11; không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị công
nhận phần diện tích tranh chấp nhà Đ đang quản sử dụng nằm trong
GCNQSD số T816586 đã cấp cho ông T1 là của gia đình bà Đ.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông V trình bày bổ sung: Ông cho
rằng khi khai gia đình ông không khi nào khai để cấp giấy chứng nhận
QSD đất khi nhận giấy chứng nhận QSD đất gia đình ông vẫn xác định Nhà
nước đã cấp toàn bộ phần đất khai hoang cho gia đình ông đã phần diện
tích đất tranh chấp của thửa đất 58, tờ bản đồ 11 nêu trên.
Tại Bản án dân sự thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ, đã quyết định:
Căn cứ khoản 47 Điều 3; Điều 26, 236 Luật đất đai năm 2024;
Căn cứ khoản Điều 163, 164, 166, 169 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, 157, 165, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 và nghị quyết 81/UBTVQH ngày 27/6/2025 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Đức T1 (Hồ Kim
T).
- Buộc Thiều Thị Đ phải trả cho ông Hồ Đức T1 diện tích 141,1m
2
đất
vườn của thửa đất số 58, tờ bản đồ 11 tại địa chkhu I T, xã C, tỉnh Phú Thọ (Có
sơ đồ hiện trạng kèm theo).
- Buộc Thiều Thị Đ phải thu hoạch, di dời toàn bộ tài sản theo biên bản
xem xét thẩm định tại chỗ tài sản ngày 04/4/2025 gồm: 01 cây mít vanh 1m;
01 bức tường xây gạch xi măng dài 6,99m; 01 cây mỡ đường kính 20cm, 05 cây
10
sưa đường kính 5cm, 02 cây nhãn đường kính 10cm; 01 cây xoài đường kính
1cm; 01 cây bưởi đường kính 30cm và 1 số cây tạp không có giá trị.
- Ghi nhận sự tnguyện tháo giỡ 1 phần (móng, tường) diện tích khoảng
02 m
2
bếp giáp diện tích đất tranh chấp (nằm ngoài chỉ giới 20,22,23 đồ hiện
trạng thửa đất 58, tờ bản đồ 11 khu I T).
2. Bác yêu cầu phản tố của bị đơn Thiều Thị Đ về việc yêu cầu công
nhận phần diện tích tranh chấp 141,1m
2
của thửa đất 58, tờ bản đồ 11 tại khu I T
là của gia đình bà Đ.
Ông Hồ Đức T1, Thiều Thị Đ có trách nhiệm đến quan thẩm
quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định ca
pháp lut.
3. Về chi phí tố tụng, án phí:
3.1. Về chi phí tố tụng: Buộc Thiều Thị Đ phải chịu chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ định giá tài sản. Đ phải thanh toán cho ông T1 chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu
đồng). Xác nhận nguyên đơn ông T1 đã nộp đủ số tiền trên.
3.2. Về án phí:
- Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho Thiều Thị Đ do thuộc
trường hợp người cao tuổi.
Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo các vấn đề khác theo quy định
của pháp luật.
Kháng cáo:
Bị đơn là Thiều Thị Đ, kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, đề nghị Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Thọ sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Đức T1;
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thiều Thị Đ, cụ thể: T5 hủy một phần
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đ cấp cho hộ ông Hồ Đức
T1 tại thửa đất số 58, tờ bản đồ số 11, diện tích 364 m2. Cụ thể là phần diện tích
chồng lấn 141,1 m2; giao văn phòng đăng đất đai chỉnh hồ sơ địa chính.
Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Thiều Thị Đ đối với 141,1 m2 có
các mốc 13,14,22,23 theo sơ đồ hiện trạng thửa đất.
Tại cấp phúc thẩm:
- Bị đơn là bà Thiều Thị Đ không rút kháng cáo, người đại diện theo ủy
quyền người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Đ đều trình bày Đ
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và giữ nguyên các ý kiến đã trình bày nêu trên.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh PThọ phát biểu
quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử
phúc thẩm, thư phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư phiên tòa
thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc
thẩm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là bà Thiều Thị Đ.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 28/11/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ. Ghi nhận stự nguyện của nguyên
11
đơn hỗ trợ về việc chi phí di dời các tài sản do bị đơn xây dựng và trồng cây trên
phần diện tích đất tranh chấp là 10.000.000đ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Thiều Thị Đ được miễn án phí dân sự
phúc thẩm vì là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện
VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn Thiều Thị Đ được thực hiện trong thời hạn
luật định theo đúng quy định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Thiều
Thị Đ giữ nguyên toàn bộ nội dung kháng cáo và đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản
án thẩm theo hướng: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Đức T1;
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Thiều Thị Đ như đã nêu trên.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào những tài liệu chứng cứ thu thập được và lời trình bày của đại
diện UBND C thì thửa đất số 57, 58, 59 tờ bản đồ số 11 nguồn gốc trước
đây đều thuộc đất của nghiệp Q2 đã được UBND tỉnh P giao đất tại Quyết
định 231/QĐ-UB ngày 03/4/1992. nghiệp Q2 đã cho cán bộ, công nhân viên
làm nhà trên đất của xí nghiệp, sau đó xí nghiệp trả lại một phần đất để hợp thức
cho các hộ. Các thửa đất 57, 58, 59 đã được chỉnh lý hồ sơ địa chính theo bản đồ
299 đã được các cấp thẩm quyền phê duyệt. Xí nghiệp quản đường bộ 228
sau nhiều lần đổi tên thành Công ty cổ phần Q (năm 2006). Công ty cổ phần Q
được điều chỉnh ranh giới, giảm diện tích theo Quyết định số 1208/QĐ-UB ngày
25/5/2017 của UBND tỉnh P.
Lời khai của người làm chứng ông Phạm Đình P, nguyên cán bộ địa
chính xã T giai đoạn 1992-2019 và ông Nguyễn Quang K3 nguyên là Hạt trưởng
Hạt 3 Quốc lộ B của Phân khu quản đường bộ 238 đều xác định thửa đất số
58, tbản đồ 11 đất của nghiệp 238 trả lại cho Nhà nước sau này cấp
GCNQSDĐ cho hộ ông T1.
Mặt khác, phía bị đơn ngoài lời khai lời khai của một số người làm
chứng thì không tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh về việc bị đơn khai
phá và sử dụng đất ổn định theo quy định tại Điều 21 về căn cứ xác định việc sử
dụng ổn định của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.
Với những phân tích trên cho thấy mặc 2 bên đương sự không thống
nhất về nguồn gốc thửa đất, tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ được thu
thập có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đại diện UBND xã, người làm chứng
12
đủ sở xác định nguồn gốc đất tranh chấp không phải đất khai hoang mà
là có nguồn gốc do UBND tỉnh V cũ đã giao cho tổ chức quản lý, sử dụng.
- Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ: Theo UBND C lời khai các
đương sự thì khi cấp GCNQSDĐ cấp đồng loạt do các hộ dân tự khai tn
sở diện tích thực tế sử dụng. Hộ ông T1 đơn xin đăng quyền SDĐ đối
03 thửa gồm: thửa 58, diện tích 364m
2
(144m
2
đất ở, 220m
2
đất vườn); thửa 49,
diện tích 226m
2
đất vườn thửa 55, diện tích 296m
2
đất ao. Hộ Đ đăng
quyền SDĐ duy nhất đối với thửa s57, diện tích 1040m
2
(300m
2
đất ở, 740m
2
đất vườn). Ngoài các thửa đất nếu trên, các hộ không khai cấp GCNQSDĐ
đối với thửa đất nào khác tại khu I, T . Mặt khác, tại sổ mục kê sổ địa
chính lập năm 2002 được lưu tại UBND C thể hiện thửa 58, diện tích 364m
2
(144m
2
đất ở, 220m
2
đất vườn) thửa số 57, diện tích 1040m
2
(300m
2
đất ở,
740m
2
đất vườn) đều được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ theo Quyết định số
50 ngày 24/02/2003.
Hộ ông T1 hộ Đ đều nguyên cán bộ, công nhân viên của
nghiệp Q2 đã khai cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với diện tích
đất đang sử dụng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng thời
điểm ngày 26/02/2003. Hộ ông T1 và hộ Đ cùng trong danh sách Sổ mục
T năm 2002 cùng được ghi năm 2003 vào sổ địa chính. Hai thửa đất
của hộ ông T1 và hộ bà Đ tiếp giáp nhau, đều tiếp giáp với thửa đất số 60, tờ bản
đồ số 11 của nghiệp quản đường bộ 228, thể hiện trên bản đồ địa chính
trên thực địa nên cả hai bên đều được biết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hai gia đình. Trên bản Trích đo địa chính điều chỉnh ranh giới diện
tích đất giao cho Công ty cổ phần Q kèm theo Quyết định số 1208/QĐ-UB ngày
25/5/2017 của UBND tỉnh P cũng thể hiện thửa đất của Công ty cổ phần Q công
trình giao thông 238 tiếp giáp với các thửa đất của ông T1 và bà Đ.
Bị đơn kháng cáo cho rằng, năm 2003, UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ
số H 01891 cho hộ ông T1 phần diện tích đất do gia đình bị đơn cho mượn
cấp chồng lấn 1 phần diện tích gia đình bị đơn đang quản từ năm 1970 đến
nay là không đúng. Lời trình bày trên của bị đơn là không sở. Bởi lẽ, nếu
bị đơn đã xác định gia đình bị đơn đã sử dụng, quản phần diện tích đất này từ
khi khai hoang (năm 1970) như lời bị đơn trình bày thì đến năm 2003, khi
khai cấp GCNQSDĐ bị đơn không khai đđược quan thẩm quyền xác
lập chủ sử dụng. Mặt khác, khi nguyên đơn khai cấp GCNQSDĐ đối với
phần diện tích đất này thì phía bị đơn cũng không có ý kiến gì.
Quá trình giải quyết ván, Toà án thẩm đã yêu cầu quan chuyên
môn lồng ghép bản đcho thấy đồ của các thửa đất trong GCNQSDĐ phù
hợp với kích thước, hình thể trong bản đồ 299 nhưng thực tế diện tích sử dụng
giảm đi so với GCNQSDĐ; cụ thể: hộ ông T1 giảm đi 94,9m
2
; diện tích của hộ
T1 giảm đi 56,3m
2
theo UBND C thì nguyên nhân do sai sđo đạc,
trước đây đo bằng thủ công và nay đo bằng máy; còn thực tế các hộ đều sử dụng
ổn định và không có sự mua bán hay chuyển nhượng đối với hộ liền kề.
13
Do vậy, quan điểm của UBND C về việc cấp GCNQSDĐ cho các bên
được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đồ thửa đất phù hợp với kích thước
hình thể trong bản đồ 299 là có căn cứ.
- Về quá trình sdụng đất: Phía nguyên đơn xác định ông vẫn quản lý và
sử dụng đất tkhi được cấp đến nay. Từ khoảng năm 2009, gia đình ông làm
nhà kiên cố trên đất thì bị phía bị đơn ngăn cản, nhưng khi ông đề nghị UBND
xã giải quyết thì bị đơn không ngăn cản nữa, mặt khác do con trai ông bị tại nạn,
vợ ông bị bệnh nặng nên gia đình ông vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có điều
kiện để san gạt, xây dựng công trình đến năm 2023 do ông muốn chuyển
quyền SDĐ cho con trai ông thì gia đình bị đơn không hợp tác nên ông yêu cầu
các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Nhận thấy, nguyên đơn đã được quan thẩm quyền cấp GCNQSDĐ
theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, được xác định là chủ sử dụng hợp
pháp thửa đất nêu trên. Hơn nữa, trong quá trình sdụng đất, nguyên đơn đã
nhiều lần thế chấp QSD đất để vay vốn tại Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh thị
P và tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh P3, tỉnh Phú Thọ. Còn bị đơn không xuất
trình được căn cứ pháp lý nào khác để bảo vệ cho lời trình bày của mình; nên lời
trình bày của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, UBND C quan điểm xác
định hành lang giao thông: Khi cấp đất cho các hộ gia đình xác định hành
lang giao thông chỉ giới để hạn chế quyền sử dụng, không được xây dựng
chỉ xác định là đất vườn. Hành lang giao thông phê duyệt tồn tại theo quy hoạch
chung được tính từ tim đường vào 21,5m. Do đó, phần diện tích của gia đình
ông T1 xây dựng trên hành lang giao thông không được xác định là đất ở và phải
tháo dỡ khi có yêu cầu.
Đối với ý kiến của bị đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của nguyên đơn là không có căn cứ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cấp sơ thẩm
đã nhận định và áp dụng đúng pháp luật. Không căn cứ để chấp nhận kháng
cáo của bị đơn bà Thiều Thị Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hồ Đức T1 tự nguyện hỗ trợ cho bà Thiều
Thị Đ số tiền 10.000.000 đồng đtháo dỡ tài sản, di dời y cối trên đất lấn
chiếm của gia đình ông T1 nên được ghi nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận,
nhưng bà Thiều Thị Đ là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
[4] Xét đ ngh ca Kim sát viên ti phiên tòa phù hp với quy định
pháp lut nên chp nhn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
14
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn là bà Thiều Thị Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 28/11/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Phú Thọ.
Ghi nhận stnguyện của ông Hồ Đức T1 (Hồ Kim T) hỗ trợ cho
Thiều Thị Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để tháo dỡ tài sản, di dời cây
cối, tài sản trên diện tích đất lấn chiếm của hộ ông Hồ Đức T1 (Hồ Kim T).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Thiều Thị Đ vì là người cao tuổi.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi
hành án dân stngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b
9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại
điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 5 - Phú Thọ;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- Phòng THADS Khu vực 5 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án (02 bản).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Đình Chi
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 185/2026/DS-PT Bản án số 185/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 185/2026/DS-PT Bản án số 185/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất